Chiến tranh Iran làm suy yếu hai đồng minh Ả Rập của Mỹ

Nguồn: “War in the Gulf has weakened two of America’s Arab allies”, The Economist, 10/08/2026

Biên dịch: Phạm Ánh Minh

Ai Cập từng cam kết sẽ chiến đấu, còn Jordan tuyên bố sẽ giữ thái độ trung lập. Thế nhưng, đến nay cả hai nước đều không thực hiện được những lời hứa ấy.

Gần hai năm trước, Quốc vương Abdullah II của Jordan từng nói với Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi rằng đất nước ông sẽ không trở thành “chiến trường cho các cuộc xung đột khu vực”. Một thập kỷ trước đó, trong chiến dịch tranh cử tổng thống Ai Cập, Abdel-Fattah al-Sisi lại đưa ra cam kết gần như trái ngược với các quốc gia Vùng Vịnh: nếu an ninh của họ bị đe dọa, Ai Cập sẽ “lập tức can thiệp”.

Thực tế hiện nay hoàn toàn khác. Jordan đang ở ngay tuyến đầu của cuộc đối đầu khu vực giữa Mỹ – đồng minh thân cận nhất của nước này – và chính quyền của ông Araghchi. Trong khi đó, Ai Cập dù chỉ đứng cách cuộc chiến một bước chân vẫn gần như án binh bất động. Khi Vùng Vịnh phải đối mặt với mối đe dọa nghiêm trọng nhất trong 35 năm qua, những cam kết của ông Sisi dường như chỉ dừng lại ở lời nói.

Những lời hứa không được thực hiện ấy phản ánh nhiều điều. Jordan đang phải gánh chịu hậu quả của một cuộc chiến mà họ hầu như không thể kiểm soát. Còn Ai Cập dần bị gạt ra bên lề với tư cách là một nhà trung gian và cường quốc quân sự. Từ lâu, cả hai vẫn tự xem mình là những trụ cột của trật tự khu vực. Thế nhưng, khi trật tự đó lung lay, chính vị thế của họ cũng trở nên bấp bênh.

Bị bao quanh bởi các nước láng giềng hùng mạnh hơn và gần như không có tài nguyên thiên nhiên đáng kể, Jordan coi quan hệ chặt chẽ với Mỹ là yếu tố sống còn. Đổi lại, Washington đã biến Jordan thành một trong những nước nhận viện trợ nước ngoài lớn nhất của Mỹ. Hàng nghìn binh sĩ Mỹ hiện đồn trú tại các căn cứ như Muwaffaq Salti ở vùng sa mạc phía đông, nơi triển khai các máy bay chiến đấu, máy bay tiếp nhiên liệu trên không và nhiều khí tài quan trọng phục vụ chiến dịch quân sự của Tổng thống Donald Trump nhằm vào Iran.

Sự hiện diện của lực lượng Mỹ cũng khiến Jordan trở thành mục tiêu. Chỉ trong tháng đầu tiên của cuộc chiến, Iran đã phóng ít nhất 262 tên lửa và máy bay không người lái vào nước này. Quyết định cho phép quân đội Mỹ hiện diện cũng vấp phải phản ứng trong nước. Gần đây, hàng trăm chính trị gia, sĩ quan quân đội nghỉ hưu và nhiều nhân vật có ảnh hưởng đã ký thư ngỏ kêu gọi rút quân đội Mỹ khỏi Jordan. Tuy nhiên, nhà vua khó có thể đáp ứng yêu cầu đó, phần lớn vì sự phụ thuộc vào nguồn viện trợ của Washington. Năm ngoái, Jordan nhận hơn 1,6 tỷ USD viện trợ từ Mỹ, tương đương khoảng 3% GDP. Tháng này, Washington còn cam kết bổ sung 355 triệu USD cho các dự án hạ tầng, giáo dục và nhiều lĩnh vực khác.

Jordan cần nguồn hỗ trợ đó hơn bao giờ hết khi chiến tranh đang làm tổn hại nền kinh tế. Các đợt tấn công bằng tên lửa khiến nhiều chuyến bay bị hủy và du khách e ngại đến nước này. Doanh thu du lịch, vốn đã bị ảnh hưởng bởi cuộc chiến ở Gaza, tiếp tục giảm thêm 10% trong bốn tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước.

Jordan cũng phụ thuộc vào khí đốt tự nhiên từ Israel để sản xuất khoảng một nửa lượng điện tiêu thụ. Tuy nhiên, khi chiến tranh bùng nổ, Israel đã tạm dừng xuất khẩu do lo ngại các giàn khoan ngoài khơi trở thành mục tiêu của Iran. Điều này buộc công ty điện lực quốc doanh Jordan phải chuyển sang sử dụng dầu diesel, dầu nhiên liệu nặng và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) mua trên thị trường giao ngay với chi phí cao hơn nhiều. Dù nguồn cung từ Israel đã được khôi phục vào tháng 4, IMF vẫn dự báo hóa đơn nhập khẩu năng lượng của Jordan trong năm 2026 sẽ cao hơn 36% so với năm trước.

Cùng lúc đó, Iran tìm cách khoét sâu khoảng cách giữa chính phủ Jordan và người dân nước này. Dù Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) liên tục phóng tên lửa và máy bay không người lái vào Jordan, Tehran vẫn tuyên bố họ “không có ác ý” với người dân Jordan, đồng thời khẳng định chính Mỹ chứ không phải Iran mới là bên “xâm phạm chủ quyền” của vương quốc này. Những thông điệp ấy khó có thể thuyết phục được đa số người Jordan, vốn vẫn xem Iran là một mối đe dọa. Tuy nhiên, cuộc chiến rõ ràng đã đẩy chính phủ Jordan vào thế khó, trong bối cảnh nước này vốn đã phải vật lộn với sự bất mãn trong xã hội.

Trong khi đó, nền kinh tế Ai Cập hiện vẫn giữ được sự ổn định tương đối và được dự báo tăng trưởng 4,6% trong năm nay. IMF vừa giải ngân thêm 1,8 tỷ USD thuộc chương trình hỗ trợ kéo dài bốn năm. Ngành du lịch, lĩnh vực tạo ra khoảng 13% việc làm của Ai Cập, cũng tiếp tục tăng trưởng. Hơn 9 triệu lượt khách đã đến nước này trong nửa đầu năm, tăng 3% so với cùng kỳ năm 2025.

Thoạt nhìn, các nguồn thu ngoại tệ chủ chốt khác như doanh thu từ kênh đào Suez và kiều hối cũng khá khả quan. Doanh thu từ kênh đào tăng 30%, từ 1,8 tỷ USD lên 2,4 tỷ USD trong nửa đầu năm 2026, còn lượng kiều hối trong 12 tháng tính đến hết tháng 6 đạt mức cao kỷ lục. Tuy nhiên, cả hai chỉ số này có thể phản ánh quá khứ hơn là tương lai. Các cuộc tấn công nhằm vào tàu thuyền trên Biển Đỏ do lực lượng thân Iran tiến hành có nguy cơ làm giảm doanh thu của kênh đào Suez. Còn phần lớn kiều hối đến từ lao động Ai Cập làm việc tại các nước Vùng Vịnh; nếu khu vực này rơi vào suy thoái kéo dài, dòng tiền gửi về chắc chắn sẽ suy giảm. Trong nước, chính phủ cũng đã tăng một số mức giá điện thêm 12%.

Tuy nhiên, điểm yếu lớn nhất của Ai Cập hiện nay không nằm ở năng lực tài chính mà ở vị thế khu vực.

Sau vụ tấn công do Hamas tiến hành tại Israel ngày 7/10/2023, Tổng thống Sisi từng trở thành một nhân vật ngoại giao được đặc biệt chú ý. Cơ quan tình báo Ai Cập có quan hệ lâu năm với ban lãnh đạo Hamas tại Gaza nhờ đường biên giới chung. Trong năm sau vụ tấn công, Ngoại trưởng Mỹ khi đó là Antony Blinken đã tới Ai Cập bảy lần, nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào ngoài Israel. Các cuộc đàm phán cuối cùng dẫn tới lệnh ngừng bắn cũng diễn ra tại khu nghỉ dưỡng Sharm el-Sheikh của Ai Cập vào tháng 10/2025.

Tuy nhiên, trong cuộc đối đầu với Iran, vai trò của Cairo lại mờ nhạt hơn nhiều. Vị thế trung gian của nước này dần bị Pakistan, Thổ Nhĩ Kỳ và các quốc gia Vùng Vịnh thay thế. Quân đội hùng mạnh nhất thế giới Ả Rập cũng hầu như không đóng góp gì đáng kể cho việc bảo vệ các đồng minh, bất chấp việc các nước Vùng Vịnh đã viện trợ cho Ai Cập hàng chục tỷ USD kể từ khi ông Sisi lên nắm quyền sau cuộc đảo chính năm 2013.

Giới chức Cairo lập luận rằng các nước Vùng Vịnh hiện đã nhận được sự hỗ trợ từ những đồng minh khác, trong khi Ai Cập phải đối mặt với các mối đe dọa ngay tại biên giới của mình. Tuy nhiên, việc gần như đứng ngoài cuộc vẫn khiến các đồng minh không hài lòng. Tháng 3 vừa qua, Cố vấn ngoại giao của Tổng thống UAE, Anwar Gargash, công khai chỉ trích các quốc gia Ả Rập “chủ chốt” vì vẫn đứng ngoài khi Iran tấn công Vùng Vịnh. Ông đặt câu hỏi: “Các bạn đang ở đâu vào lúc khó khăn này?”

Thực tế, Ai Cập đã điều một phi đội tiêm kích Rafale tới UAE, nhưng phải đến tháng 5 – tức một tháng sau khi lệnh ngừng bắn đầu tiên giữa Mỹ và Iran có hiệu lực – nước này mới công bố thông tin. Đáng chú ý hơn, Cairo cũng vắng mặt khi Ả Rập Saudi ký hiệp ước phòng thủ chung với Pakistan và Thổ Nhĩ Kỳ hôm 7/8, dù giới chức Saudi cho biết Ai Cập vẫn có thể tham gia sau. Dẫu vậy, việc đứng ngoài xung đột cũng không bảo đảm an toàn cho Ai Cập. Chi phí nhập khẩu năng lượng từ Vùng Vịnh đã tăng mạnh, và tháng trước, một máy bay không người lái còn tấn công một cơ sở khí đốt tự nhiên tại Damietta trên bờ Địa Trung Hải.

Hiệp ước ba bên này phần nào hé lộ tương lai của Trung Đông. Khi niềm tin vào cam kết an ninh của Mỹ suy giảm, các quốc gia trong khu vực sẽ buộc phải tự gánh vác nhiều hơn trách nhiệm đối với nền quốc phòng của mình. Đó không phải là một viễn cảnh thuận lợi đối với cả Ai Cập lẫn Jordan – điều mà chính những lời hứa chưa thể thực hiện của hai nước đã cho thấy.