Tầm nhìn của Iran cho một Trung Đông mới

Nguồn:  M. Javad Zarif, “An Iranian Vision of the New Middle East”, Foreign Affairs, 20/07/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Mỹ đã nối lại các cuộc tấn công nhằm vào Iran. Bản ghi nhớ thỏa thuận mà Tehran và Washington đạt được vào tháng trước tại Thụy Sĩ, vốn như mành chỉ treo chuông suốt nhiều tuần qua, cuối cùng đã dần sụp đổ. “Tôi nghĩ mọi chuyện đã chấm dứt”, Tổng thống Mỹ Donald Trump phát biểu vào ngày 8/7. “Tôi không muốn đàm phán với [Iran] nữa”.

Việc bản ghi nhớ này sụp đổ là điều không có gì bất ngờ. Iran và Mỹ có những cách giải thích trái ngược nhau về các điều khoản của thỏa thuận, đặc biệt là những quy định kiểm soát Eo biển Hormuz. Tehran tin rằng họ đã cam kết, theo lời văn của bản ghi nhớ, sẽ “nỗ lực hết sức để sắp xếp cho tàu thuyền thương mại qua lại an toàn, miễn phí, chỉ trong vòng 60 ngày”. Họ cũng cho rằng mình cùng với Oman sẽ “xác định bộ máy quản lý và các dịch vụ hàng hải trong tương lai tại Eo biển Hormuz”, cùng với các quốc gia khác ở vùng Vịnh.

Tuy nhiên, Washington lại cho rằng Iran đã đồng ý cho phép tàu thuyền tự do qua lại eo biển này một cách vô điều kiện, và rằng Mỹ không có nghĩa vụ phải tôn trọng bất kỳ sự sắp xếp nào do Iran thiết lập. Thỏa thuận không thể nào tồn tại được trước sự bất đồng sâu sắc như vậy. Một cuộc đối đầu quân sự tái diễn không còn là vấn đề “có xảy ra hay không”, mà chỉ là “khi nào thì xảy ra”.

Mặc dù vậy, việc kéo dài chiến tranh không mang lại lợi ích cho cả Iran lẫn Mỹ. Dù người dân và lực lượng vũ trang Iran đã bảo vệ đất nước trước hai cường quốc hạt nhân, họ vẫn nhìn nhận cuộc xung đột này là thứ bị áp đặt lên mình, một cuộc đọ sức mà họ chưa từng mong muốn khởi xướng. Trong khi đó, Washington lại đang tự làm chệch hướng bản thân khỏi mục tiêu địa chiến lược chính của mình. Trong hơn một thập kỷ qua, các đời chính quyền Mỹ kế tiếp đều chung một mục tiêu bao trùm là giảm bớt gánh nặng lâu dài của đất nước tại Tây Á để tập trung vào khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, khởi xướng điều mà các quan chức gọi là chính sách “xoay trục sang châu Á”. Các chính sách trước đây của Washington đối với Iran — bao gồm thỏa thuận hạt nhân năm 2015, Hiệp định Abraham (trong đó một số quốc gia Ả Rập bình thường hóa quan hệ với Israel sau các cuộc đàm phán do Mỹ làm trung gian, tạo ra một khối vững chắc chống lại Iran và thực chất là trao phần lớn vai trò khu vực của Mỹ cho Israel), các cuộc tấn công vào nước này hồi tháng 6/2025, và cuộc chiến họ phát động hồi tháng 2 — đều là những công cụ nhằm đạt được mục đích đó. Nhưng như cuộc xung đột hiện tại đã phơi bày, Washington không thể tiêu diệt được chính phủ Iran. Chỉ có ngoại giao, một hiệp định hòa bình mới, và một khuôn khổ an ninh mới do chính các quốc gia khu vực tạo ra và vì chính các quốc gia khu vực mới cho phép Mỹ dồn tâm sức sang những hướng đi khác.

ĐÀM PHÁN VỀ EO BIỂN

Những cuộc đối đầu quân sự trong năm qua không chỉ là phép thử cho năng lực của Iran, Israel và Mỹ. Chúng còn thách thức những giả định bấy lâu nay về biện pháp cưỡng ép, khả năng răn đe và tương lai của Tây Á. Mỹ và Israel đã khơi mào các cuộc xung đột gần đây với Iran dựa trên giả định rằng áp lực quân sự liên tục có thể hoặc ép Tehran phải khuất phục, hoặc châm ngòi cho sự sụp đổ của chế độ Cộng hòa Hồi giáo. Ngược lại, họ lại thấy mình bị sa lầy trong một vũng lầy chiến lược. Không có hành động nào của họ, kể cả các cuộc tấn công chưa từng có tiền lệ nhằm vào giới lãnh đạo chính trị và quân sự của Iran hay những thiệt hại đáng kể gây ra cho cơ sở hạ tầng nước này, có thể buộc Tehran phải thay đổi lập trường. Sự toàn vẹn lãnh thổ và hệ thống chính trị của họ vẫn đứng vững, minh chứng cho sức chịu đựng bền bỉ của quốc gia Iran cùng năng lực bảo vệ chủ quyền ngay cả trong những hoàn cảnh ngặt nghèo nhất.

Các cường quốc bên ngoài buộc phải nắm bắt thực tế này và thấu hiểu những hệ lụy của nó. Khả năng chống chịu trước áp lực quân sự kéo dài của Iran đã khiến việc loại trừ Tehran khỏi mọi cấu trúc an ninh khu vực trong tương lai trở nên khó khăn hơn. Điều đó bao gồm, trước hết và trên hết, vai trò then chốt của Iran trong việc đảm bảo luồng lưu thông năng lượng và vận tải thương mại qua Eo biển Hormuz. Tehran lại một lần nữa đóng cửa phần lớn lối đi vào eo biển này – điều mà nhiều nhà phân tích phương Tây diễn giải là bằng chứng cho thấy Iran là một thế lực thù địch muốn tiến hành cưỡng ép kinh tế, làm gián đoạn thị trường dầu mỏ toàn cầu và hạn chế quyền tự do hàng hải. Nhưng Iran làm gián đoạn thị trường năng lượng vì một lý do chiến lược vô cùng đặc thù: nhằm buộc Mỹ và các đối tác phải chấm dứt chiến dịch tiêu diệt Iran.

Nói cách khác, cuộc chiến đã ép Iran phải nhìn nhận eo biển này như một vấn đề sống còn đối với an ninh của chính mình. Trước khi các hành động thù địch quy mô lớn nổ ra vào cuối tháng 2, Iran nhìn chung vẫn dung túng cho hoạt động hàng hải đi qua tuyến đường thủy này mà không gây cản trở, dẫu cho các lệnh trừng phạt của Mỹ – với sự tiếp tay từ các đồng minh của Washington – đồng nghĩa với việc Iran không thể tiếp cận nhiều mặt hàng đi qua eo biển. Các biện pháp trừng phạt của Mỹ trên thực tế đã đóng cửa Eo biển Hormuz đối với hoạt động thương mại của Iran trong khi vẫn bỏ ngỏ nó cho hầu như tất cả những quốc gia khác. Các cuộc tấn công của Mỹ và Israel đã chấm dứt sự dung túng đó, cả trong tư duy của các chỉ huy quân sự Iran và quan trọng hơn là trong lòng đại đa số người dân nước này. Ngày nay, mục tiêu tối thượng của Iran tại eo biển là đảm bảo các đối thủ không thể lợi dụng tuyến đường thủy này để chuẩn bị, hậu thuẫn hay duy trì các hành động cưỡng ép chống lại Iran, bất kể sự cưỡng ép đó mang bản chất quân sự, chính trị hay kinh tế. Ranh giới từng được thừa nhận trước đây giữa giao thông thương mại và quá cảnh quân sự đã bị xóa nhòa. Trong thời bình, luật pháp hàng hải quốc tế định hình các kỳ vọng. Nhưng trong thời chiến, ngay cả luật chiến tranh quốc tế cũng phải ưu tiên sự sinh tồn của quốc gia.

Iran hiện hành động với niềm tin vững chắc rằng các tuyến đường hàng hải không thể mang tính trung lập chính trị nếu chúng đóng vai trò vận chuyển hệ thống vũ khí, linh kiện máy bay, tài sản tình báo hoặc hỗ trợ hậu cần cho Mỹ và các đối tác khu vực của họ. Do các loại vũ khí và công nghệ từng dùng để tấn công lãnh thổ, cơ sở hạ tầng và dân thường Iran đều đi qua Eo biển Hormuz, các nhà hoạch định chính sách Iran hoàn toàn có quyền hạn chế lưu lượng tàu bè chừng nào chiến tranh còn tiếp diễn, chừng nào sức ép kinh tế nhắm vào Iran chưa dừng lại, và chừng nào các nỗ lực xói mòn quyền bảo vệ lợi ích của Iran tại eo biển vẫn đang diễn ra. Đối với Tehran, việc phân định rõ ràng tàu nào chở hàng hóa thương mại và tàu nào chuyên chở vật phẩm đe dọa quyền sinh tồn của Iran là một nhiệm vụ quá ư khó khăn. Các hoạt động hàng hải ở Vịnh Ba Tư cần phải được hiểu thông qua lăng kính của luật xung đột vũ trang và ý đồ chiến lược thay vì áp dụng những quy chuẩn của thời bình.

Dù vậy, đối với Tehran, đòn bẩy mà eo biển mang lại rất mong manh. Nếu Iran liên tục đe dọa hàng hải, họ có thể quay lưng phần lớn thế giới về phía mình. Việc đóng cửa kéo dài cũng có thể đẩy nhanh các khoản đầu tư quốc tế vào hệ thống đường ống dẫn khí, cảng biển và hành lang logistics trên đất liền nhằm né tránh hoàn toàn tuyến đường thủy này. Nếu các thị trường toàn cầu thành công trong việc đa dạng hóa nguồn cung để bỏ qua eo biển, Iran sẽ không còn khả năng sử dụng mối đe dọa đóng cửa nó làm công cụ răn đe nữa. Do đó, Tehran phải kiềm chế, cũng như các quốc gia khác phải kiềm chế không thực hiện các biện pháp kinh tế, chính trị và quân sự gây tổn hại đến lợi ích của Iran tại eo biển. Những điều đó bao gồm việc áp đặt trừng phạt khiến Iran không thể hưởng lợi từ quyền tự do hàng hải, xây dựng liên minh ngoại giao chống lại Iran, hoặc vận chuyển khí tài quân sự gây phương hại đến an ninh Iran qua vùng nước của eo biển này. Cách tốt nhất để hoàn thành các nhiệm vụ này là thiết lập một mạng lưới an ninh khu vực nhằm xây dựng lòng tin giữa các quốc gia ven biển Vịnh Ba Tư thông qua đối thoại và hợp tác. Cách tiếp cận này sẽ chấm dứt sự hiện diện quân sự phi ổn định và chủ nghĩa mạo hiểm của các cường quốc bên ngoài bằng cách triệt tiêu lý do tồn tại cho sự hiện diện của họ. Đúng như quy định trong bản ghi nhớ, Iran và Oman sẽ “xác định bộ máy quản lý và các dịch vụ hàng hải trong tương lai tại Eo biển Hormuz thông qua thảo luận với các quốc gia ven biển Vịnh Ba Tư khác, phù hợp với luật pháp quốc tế hiện hành và các quyền có chủ quyền của các quốc gia ven biển thuộc Eo biển Hormuz”.

CUỘC MẶC CẢ CỨNG RẮN

Eo biển Hormuz vẫn là một điểm nóng trọng yếu. Nhưng đó khó lòng là nguồn cơn duy nhất gây ra căng thẳng trong quan hệ Tehran và Washington. Để chấm dứt giao tranh, Iran và Mỹ cần phải giải quyết những bất đồng sâu rộng hơn.

Mục tiêu của mỗi bên phải mang tính thực tế: Tehran và Washington không thể trở thành bạn bè. Những cuộc chiến gần đây, trong đó Mỹ và Israel sát hại nhà lãnh đạo tối cao của Iran, các chỉ huy cấp cao và những đứa trẻ vô tội, đã khoét sâu thêm những vết thương lịch sử của quốc gia này. Những bất bình này sẽ không bị lãng quên hay tha thứ, nhưng chúng không nhất thiết phải dẫn đến giao tranh hay leo thang chiến tranh liên tục. Chìa khóa sẽ là đảm bảo rằng các cam kết ngoại giao trong tương lai, không giống như trước đây, sẽ quản lý các bất đồng một cách thực dụng. Các tranh chấp giữa Mỹ và Iran đôi khi xuất phát từ những khác biệt căn cốt về bản sắc đòi hỏi những cuộc đối thoại làm rõ vấn đề. Những lúc khác, chúng là hệ quả của sự nghi kỵ lẫn nhau làm cản trở sự hợp tác chung về các lợi ích chiến thuật. Thỉnh thoảng, đó lại là những vấn đề chính sách có thể đàm phán và phù hợp để thỏa hiệp chiến lược. Để tiến về phía trước, cả hai quốc gia sẽ cần phân định rõ ràng giữa các giá trị sinh tồn và những mục tiêu chung mang tính giao dịch, đồng thời tránh lao vào những cuộc săn lùng vô ích nhằm kiếm thêm đòn bẩy.

Một thỏa thuận an ninh thực tế giữa Mỹ và Iran cuối cùng sẽ đòi hỏi một khuôn khổ không xâm phạm lẫn nhau nhằm ngăn chặn các tranh chấp về bản sắc dẫn đến bạo lực. Khi đó, Tehran và Washington có thể phối hợp giải quyết các thách thức chồng chéo, chẳng hạn như ổn định Afghanistan, chống buôn bán ma túy và quản lý di cư. Mỹ sẽ công nhận sự toàn vẹn lãnh thổ của Iran, gỡ bỏ các nhãn mác khủng bố áp lên Iran cùng các cơ quan của nước này, và dỡ bỏ vĩnh viễn mọi lệnh trừng phạt. Washington cũng sẽ cam kết giúp Iran tái thiết sau những tàn phá do hành động gây hấn của họ gây ra, đúng như đã hứa trong bản ghi nhớ thông qua việc thiết lập một quỹ đầu tư trị giá 300 tỷ USD cho quốc gia này. Đổi lại, Iran sẽ đồng ý đưa ra các bảo đảm không phổ biến vũ khí hạt nhân vĩnh viễn – chẳng hạn như phê chuẩn Nghị định thư bổ sung của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA), qua đó trao cho các thanh sát viên IAEA quyền tiếp cận bổ sung tới các cơ sở hạt nhân của nhà nước này. Iran cũng có thể luật hóa sắc lệnh tôn giáo chống vũ khí hạt nhân của Cố Lãnh tụ Tối cao Iran Ayatollah Ali Khamenei.

Nếu muốn có hòa bình, Mỹ phải nhìn nhận lại vai trò của Israel. Ngoài việc khơi mào cuộc chiến đầu tiên chống lại Iran vào tháng 6/2025 và thuyết phục ông Trump tham gia vào cuộc chiến thứ hai, các đời chính quyền Israel liên tiếp luôn phản đối các Sáng kiến của Mỹ nhằm xoa dịu căng thẳng và ổn định Tây Á, bao gồm thỏa thuận hạt nhân năm 2015 và bản ghi nhớ thỏa thuận gần đây. Do đó, bất kỳ nỗ lực nào nhằm ngăn chặn xung đột tái diễn đều phải tính toán đến nhân tố phá hoại này – kẻ mà khao khát tiếp tục chiến đấu bất chấp chi phí đang đi ngược lại lợi ích của Mỹ. Hành vi của Israel không chỉ ngăn cản hòa bình với Iran mà còn làm mất ổn định toàn bộ Tây Á. Thông qua việc mở rộng các khu định cư chiếm đóng, tội ác diệt chủng ở Gaza và sự tàn phá Lebanon, Israel đã chứng minh hết lần này đến lần khác rằng họ muốn gieo rắc hỗn loạn khắp khu vực để duy trì sự thống trị quân sự của mình.

Trách nhiệm giải quyết nguồn cơn bất ổn dai dẳng này sẽ thuộc về Mỹ và các đối tác của họ. Cả ông Trump lẫn Phó Tổng thống Mỹ JD Vance đều cam kết tại điều khoản đầu tiên của bản ghi nhớ về việc “đảm bảo sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Lebanon”. Tuy nhiên, đồng thời, Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio lại phát động một chiến dịch tích cực nhằm làm suy yếu điều khoản đó khi đến thăm khu vực vào tháng trước, một phần thông qua những nỗ lực thô bạo nhằm ép buộc chính phủ Lebanon chấp nhận một thỏa thuận một chiều với Israel trong khi Israel vẫn đang chiếm đóng một phần lãnh thổ Lebanon. Sự bất nhất của chính quyền Mỹ, cùng sự thờ ơ của họ trước cảnh ngộ khốn đốn hằng ngày của người dân Palestine, phải được chấm dứt. Thay vào đó, Washington phải bắt đầu gây sức ép thực sự lên Israel.

KHÔNG CÓ MẮT XÍCH YẾU NÀO

Israel hoàn toàn không phải là tác nhân duy nhất có thể ảnh hưởng đến thành công của một thỏa thuận hòa bình giữa Tehran và Washington. Iran cùng các nước láng giềng cận kề tại Vịnh Ba Tư cũng được khuyên nên vạch ra một kế hoạch nhằm chấm dứt hàng thập kỷ căng thẳng – bắt đầu từ cuộc chiến tranh Iran – Iraq 1980–1988 và kéo dài cho đến tận ngày nay, gây tổn hại cho tất cả mọi người. Điều đó có nghĩa là Tây Á phải rời bỏ mô hình an ninh phụ thuộc vào các thế lực nước ngoài, xu hướng từng đưa lực lượng Mỹ vào khu vực và dẫn đến xung đột kéo dài. Trong nhiều năm qua, cách tiếp cận này đã mang lại thảm họa, như cuộc xâm lược Kuwait của Iraq sau chiến tranh Iran – Iraq đã cho thấy đầu tiên và các hành động thù địch gần đây càng minh họa rõ hơn. Việc cố gắng phó thác an ninh cho các cường quốc toàn cầu không thể mang lại sự an toàn thực sự, chứ chưa nói đến sự ổn định cần thiết cho sự phát triển kinh tế bền vững.

Thay vào đó, các quốc gia Tây Á nên bắt đầu cùng hội nhập sâu sắc hơn để sức mạnh của từng quốc gia củng cố sự ổn định của tất cả những nước còn lại. Bản thân người Iran đã đề xuất một số nền tảng cho kiểu trật tự này. Với tư cách là phó tổng thống vào năm 2024, tôi từng kêu gọi thiết lập một cuộc đối thoại mang tính thể chế giữa các quốc gia trong khu vực dựa trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp, và cuối cùng là các thỏa thuận không xâm phạm. Nó sẽ bao gồm các biện pháp xây dựng lòng tin, chẳng hạn như các chương trình hỗ trợ nhân đạo ở các vùng xung đột, các sáng kiến chống khủng bố chung và các chiến dịch truyền thông hợp tác thúc đẩy sự chung sống hòa bình. Tôi cũng đề xuất một mạng lưới hạt nhân khu vực, bao gồm một tập đoàn làm giàu hạt nhân dành riêng cho các ứng dụng hòa bình của khoa học hạt nhân. Các thành viên sẽ gộp chung chuyên môn khu vực, thúc đẩy hợp tác khoa học và củng cố niềm tin thông qua các thỏa thuận xác minh hợp tác nhằm đảm bảo không thành viên nào theo đuổi vũ khí hạt nhân. Trung Quốc và Nga, cùng với Mỹ, có thể giúp thiết lập một tập đoàn làm giàu nhiên liệu như vậy cùng với Iran và các nước láng giềng quan tâm ở Vịnh Ba Tư, từ đó trở thành cơ sở làm giàu nhiên liệu duy nhất cho Tây Á.

Để đảm bảo thành công của mỗi quốc gia hỗ trợ cho những nước khác, các chính phủ Tây Á sẽ muốn tạo ra một hệ sinh thái kinh tế khu vực tích hợp. Ví dụ, họ có thể thành lập một quỹ phát triển Tây Á nhằm tài trợ cho công cuộc tái thiết hậu xung đột, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và cơ sở hạ tầng trọng yếu. Sự kết nối khu vực liền mạch – đường sắt xuyên quốc gia, đường ống năng lượng, cơ sở hạ tầng kỹ thuật số và các tuyến hàng hải – có thể tạo điều kiện cho dòng vốn và hàng hóa lưu thông. Các thể chế chung khác có thể giúp các quốc gia Tây Á giải quyết các mối đe dọa sinh tồn chung, chẳng hạn như biến đổi khí hậu và tình trạng khan hiếm nước.

Nếu khu vực này có thể xây dựng được các thể chế có ý nghĩa và mang tính chia sẻ, họ có thể trải qua sự phát triển chưa từng có. Nơi đây sở hữu tài nguyên thiên nhiên phong phú, các nền văn minh lâu đời cùng dân số trẻ, có học thức. Riêng Iran đã mang đến một diện tích lãnh thổ rộng lớn, chuyên môn khoa học tiên tiến và nguồn nhân lực đẳng cấp thế giới. Các quốc gia Ả Rập đóng góp năng lực tài chính, đầu tư và quản lý chưa từng có, đi kèm với các mạng lưới thương mại toàn cầu. Pakistan và Thổ Nhĩ Kỳ đóng góp năng lực công nghiệp đáng kể và sức nặng địa chiến lược.

Không có điều nào trong số này là dễ dàng, khi nhìn vào hàng thập kỷ thiếu tin tưởng và nghi kỵ trong khu vực, kể cả giữa một số quốc gia Ả Rập với nhau và giữa các quốc gia đó với Iran. Nhưng Tây Á không nhất thiết phải làm tù nhân cho quá khứ đầy bạo lực của mình. Những cuộc chiến gần đây đã chứng minh không chỉ cái giá thảm khốc của cuộc đối đầu quân sự mà còn cả giới hạn của những gì sự cưỡng ép có thể đạt được. Cả Washington lẫn các quốc gia Ả Rập phải chấp nhận rằng Iran là một thực thể thường trực trong bức tranh khu vực và khu vực lân cận không thể đạt được sự ổn định bằng cách loại trừ nước này. Đồng thời, Iran phải song hành sự tự tin mới được khẳng định của mình với sự sẵn sàng chìa bàn tay hữu nghị ra với các láng giềng, theo đuổi an ninh thông qua hợp tác cũng như thông qua răn đe. Và toàn thế giới phải nhận thức được rằng sự ổn định lâu dài không thể được “nhập khẩu” vào Tây Á từ bên ngoài hay áp đặt bằng vũ lực. Nó phải được xây dựng bởi chính các dân tộc và quốc gia trong khu vực.

JAVAD ZARIF là Phó Giáo sư Nghiên cứu Toàn cầu tại Đại học Tehran kiêm Người sáng lập và Chủ tịch của công ty Possibilities Architects. Ông từng giữ chức Phó Tổng thống, Bộ trưởng Ngoại giao và Đại diện thường trực của Iran tại Liên Hợp Quốc.