Mô hình Hợp Phì và những kinh nghiệm cho Việt Nam

Tác giả: Phạm Quang Vinh

Trong hai thập niên, Hợp Phì từ vị trí nằm ngoài nhóm tám mươi đã vươn vào nhóm hai mươi thành phố hàng đầu Trung Quốc về quy mô kinh tế, đồng thời xây dựng được nhiều cụm công nghiệp công nghệ cao có sức cạnh tranh lớn. Thành phố hiện có ba cụm công nghiệp chiến lược mới cấp quốc gia, gồm thiết bị hiển thị thế hệ mới, mạch tích hợp và trí tuệ nhân tạo; bên cạnh đó, các ngành xe năng lượng mới, điện tử và thiết bị gia dụng thông minh cũng đã hình thành những cụm sản xuất quy mô rất lớn. Câu chuyện về mô hình Hợp Phì thường được kể như một chuỗi đầu tư táo bạo từ vốn công theo kiểu “chính quyền đầu tư mạo hiểm”. Nhưng một phần quan trọng và ít được chú ý hơn của mô hình Hợp Phì nằm ở cách một chính quyền cấp thành phố thuộc tỉnh, trong khuôn khổ quyền hạn và công cụ vốn có, từng bước xây dựng năng lực tổ chức phát triển của chính mình. Ở khía cạnh đó, mô hình Hợp Phì là một kinh nghiệm đáng tham khảo cho các địa phương Việt Nam.

Khi một địa phương gặp điểm nghẽn hoặc khó khăn khi phát triển, đề xuất quen thuộc là xin thêm cơ chế đặc thù, xin thêm quyền quyết định, thêm ưu đãi, xin lập một quỹ mới hoặc một ngoại lệ mới. Những kiến nghị như vậy phần nào có lý, bởi có những nút thắt chỉ tháo được bằng thẩm quyền và thể chế, và thí điểm là cách hợp lý để thử những việc chưa có tiền lệ.

Nhưng một quyền hạn rộng hơn chỉ tạo ra kết quả khi bên nhận quyền có năng lực sử dụng nó. Quyền được quyết định nhanh hơn chỉ có ý nghĩa nếu có người thẩm định đủ khả năng đưa ra quyết định đúng. Quyền được lập quỹ chỉ có ý nghĩa nếu đã trả lời được ai chịu rủi ro đầu tư và thoái vốn bằng cách nào. Quyền nhận những ưu đãi cao hơn chỉ có ý nghĩa nếu doanh nghiệp tin rằng những cam kết khác của chính quyền, về mặt bằng, hạ tầng, tiến độ,… sẽ được thực hiện đúng hạn.

Đó là lý do trường hợp Hợp Phì nên được nghiên cứu kỹ hơn cách nó thường được kể lại trên báo chí, cả phương Tây và Trung Quốc.

Hợp Phì là thủ phủ tỉnh An Huy, một thành phố nội địa không giáp biển, không nằm bên bờ Trường Giang, không phải cảng, không phải đầu mối đường sắt lịch sử, không thuộc đặc khu kinh tế nào của thời kỳ đầu cải cách. Một thành phố bình thường thuộc một tỉnh nghèo, nơi hình ảnh “người giúp việc An Huy” phổ biến trong xã hội Trung Quốc vài ba chục năm trước phần nào phản ánh vị thế kinh tế của địa phương. Năm 2005, tổng sản phẩm trên địa bàn của thành phố là 85,357 tỷ nhân dân tệ, khoảng 10,42 tỷ USD, tương đương quy mô của một tỉnh lỵ nội địa hạng trung. Đến năm 2024, con số này đạt 1.350,769 tỷ nhân dân tệ, khoảng 189,67 tỷ USD, và dân số thường trú vượt mười triệu người.

Cần lưu ý rằng hai con số trên không hoàn toàn được tính trên cùng một phạm vi hành chính. Năm 2011, sau khi địa cấp thị Sào Hồ được tổ chức lại, huyện Lư Giang và thành phố cấp huyện Sào Hồ mới được đưa vào phạm vi quản lý của Hợp Phì. Tuy vậy, sự thay đổi địa giới không làm thay đổi đặc điểm đáng chú ý hơn của Hợp Phì: trong khoảng hai thập niên, thành phố đã xây dựng được nhiều cụm công nghiệp công nghệ cao kế tiếp nhau, trong đó ba cụm thiết bị hiển thị thế hệ mới, mạch tích hợp và trí tuệ nhân tạo được công nhận là các cụm công nghiệp chiến lược mới cấp quốc gia.

Tốc độ tăng trưởng tự nó có thể chưa phải điều đáng nghiên cứu, vì nhiều thành phố Trung Quốc cũng tăng nhanh trong cùng giai đoạn nhờ những điều kiện chung. Hợp Phì đáng chú ý hơn ở chỗ đã xây dựng được không phải một mà nhiều cụm công nghiệp kế tiếp nhau, mỗi cụm với một cấu trúc vốn và một bộ công cụ khác nhau. Việc này diễn ra trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, khiến lợi thế tự nhiên hoặc ưu thế tích lũy lâu dài khó có thể là lời giải thích đầy đủ cho kết quả của thành phố.

Hợp Phì không phải là trường hợp nổi bật vì chính quyền đã “đoán đúng” khi bỏ tiền vào một vài doanh nghiệp, thành phố cũng có những dự án không đạt mục tiêu ban đầu, ở quy mô không nhỏ. Điều đáng nghiên cứu là thành phố đã tự xây được một hệ thống có khả năng liên tiếp nhận diện cơ hội, chuẩn bị điều kiện, cấu trúc giao dịch, tổ chức thực hiện, xử lý thất bại và tích lũy năng lực cho vòng phát triển sau. Và điều đó không bắt đầu từ việc được trao một quy chế riêng.

Bước ngoặt không bắt đầu từ tiền

Năm 2005 gắn với một thay đổi nhân sự ở thành phố. Mùa xuân năm đó, Tôn Kim Long, sinh năm 1962, xuất thân kỹ sư địa chất, có bằng tiến sĩ tài chính, từng có tám năm công tác đoàn ở trung ương, là Bí thư thường trực Trung ương Đoàn, trước khi về An Huy và có một năm làm Bí thư Ban Chính pháp tỉnh uỷ An Huy, và làm Bí thư Thành ủy Hợp Phì ở tuổi bốn mươi ba. Thành phố khi đó nổi trên báo chí toàn quốc không phải vì công nghiệp mà vì tình trạng xây dựng trái phép.

Việc đầu tiên chính quyền làm không thuộc lĩnh vực công nghiệp. Từ tháng 7/2005 đến hết năm 2006, thành phố tiến hành một chiến dịch xử lý xây dựng trái phép quy mô lớn, theo nguyên tắc được tóm tắt bằng ba chữ “không”, là không bồi thường đối với phần công trình vi phạm, không xung đột, không tai nạn. Tổng diện tích xây dựng trái phép đã tháo dỡ là 13,8 triệu mét vuông. Chiến dịch cũng gỡ bỏ 1.049 điểm lấn chiếm hành lang hạ tầng kỹ thuật và mở rộng 86 tuyến đường đô thị. Từ tháng 3/2006, chương trình “Đại kiến thiết” đưa vào 37,053 tỷ nhân dân tệ cho 653 công trình, 631,33 km đường, 73 cầu và 926 km cống thoát nước.

Kỷ cương đô thị không tự động sinh ra công nghiệp, giá trị của nó nằm ở chỗ khác. Một chính quyền có thể tháo dỡ gần mười bốn triệu mét vuông công trình vi phạm trong mười tám tháng, với tỷ lệ phải cưỡng chế rất thấp, đã tạo ra một hồ sơ có thể kiểm chứng về khả năng thực hiện cam kết trong thời hạn đã định. Với một nhà đầu tư công nghiệp sắp đưa hàng chục tỷ nhân dân tệ vào một dây chuyền phải xây dựng trong nhiều năm, đó là loại thông tin có trọng lượng và khó thay thế bằng ưu đãi tài khóa, là thứ ưu đãi là thứ mọi địa phương đều có thể hứa.

Đồng thời với chiến dịch đó, thành phố xác lập định hướng “công nghiệp lập thị”, được ghi trong Cương yếu Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm năm lần thứ XI, kèm theo kế hoạch hành động mang tên “1346”. Việc ghi vào văn kiện quy hoạch có một hệ quả mà các nhiệm kỳ sau phải thực hiện, đó là định hướng trở thành một ràng buộc hành chính hơn là một lựa chọn có thể đảo ngược.

Lớp thứ ba là bộ máy. Từ cuối năm 2005 và rõ hơn trong năm 2006, thành phố tổ chức hàng trăm tổ xúc tiến đầu tư chuyên ngành, ban hành chính sách thưởng theo tỷ lệ giá trị đầu tư, lập quỹ chuyên dụng và xây một “kho dự án” công nghiệp. Thay vì chờ nhà đầu tư tìm đến, thành phố chủ động đi tìm và chuẩn bị dự án. Đây chính là nghiệp vụ mà giới tài chính gọi là tạo nguồn giao dịch, và được một chính quyền địa phương thực hiện có hệ thống.

Ba nhóm này bổ trợ nhau theo một trình tự rõ ràng, và cả ba đều hoàn tất trước khi thành phố bước vào thương vụ lớn đầu tiên năm 2008. Kỷ cương hành chính tạo điều kiện để thành phố cam kết mặt bằng và tiến độ; chiến lược xác định hướng ưu tiên; bộ máy xúc tiến biến hướng ưu tiên thành dòng dự án cụ thể. Đến tháng 6/2006, thành phố hợp nhất ba pháp nhân xây dựng đô thị và giao thông thành một đầu mối đủ lớn để đứng tên vay cho chương trình hạ tầng và phát triển.

Giai đoạn này có thể tổng kết một cách ngắn gọn là chính quyền trước hết phải trở thành một đối tác đáng tin cậy về thực thi, rồi mới có thể trở thành đối tác về vốn.

Ở đây tất nhiên có vai trò cá nhân lãnh đạo. Ba chủ trương nền tảng mang dấu ấn khởi xướng rõ ràng của người đứng đầu Thành ủy giai đoạn 2005–2011, nhưng các thương vụ lớn đầu tiên do Thị trưởng khi đó trực tiếp đàm phán, thỏa thuận khung do chính quyền thành phố ký với tư cách pháp nhân hành chính, còn nghĩa vụ tài chính thuộc về các pháp nhân kinh tế. Và những dự án lớn nhất của thành phố như liên doanh bán dẫn năm 2015, dự án chip nhớ năm 2016, thương vụ xe điện năm 2020,.. đều diễn ra sau khi Tôn Kim Long đã rời Hợp Phì. Di sản của nhiệm kỳ đó là kỷ luật thực thi trở thành các nguyên lý hành chính, thành định hướng phát triển được ghi vào văn kiện, và một hệ pháp nhân về vốn đã trải qua thử thách, chứ không phải một danh mục dự án hoàn thành có tính nhiệm kỳ.

Từ một dự án đến một chuỗi

Cụm điện tử gia dụng của Hợp Phì hình thành từ những đợt chuyển dịch công nghiệp thập niên 1950 và mở rộng mạnh sau năm 2000. Các nhà máy lắp ráp tivi trên địa bàn từng sản xuất được hàng triệu chiếc mỗi năm trước khi suy giảm, nhưng bộ phận có giá trị cao nhất là tấm nền màn hình thì phải nhập từ Hàn Quốc và Nhật Bản. Nút thắt này xuất hiện trong tầm nhìn của chính quyền như một chi phí vận hành cụ thể mà doanh nghiệp trên địa bàn ghi nhận hằng năm, trước khi trở thành một cơ hội đầu tư.

Và đây là điểm đầu tiên đáng chú ý trong cách chọn ngành của Hợp Phì, khi thành phố không chọn theo một danh mục ngành ưu tiên chung, mà đo lượng linh kiện mà các doanh nghiệp đang hoạt động phải nhập, rồi chọn mắt xích có khối lượng lớn để phát triển và đầu tư.

Thỏa thuận khung với BOE được ký ngày 12/9/2008 cho một dây chuyền tấm nền tinh thể lỏng thế hệ 6, tổng mức đầu tư dự án 17,5 tỷ nhân dân tệ, bằng khoảng một phần năm quy mô kinh tế toàn thành phố năm 2005. Hai pháp nhân thuộc chính quyền Hợp Phì bỏ ra 3,0 tỷ nhân dân tệ tiền mua cổ phiếu công ty mẹ trong đợt phát hành riêng lẻ tháng 6/2009, ngoài ra có khoảng 1,3 tỷ khoản vay ủy thác và 8,5 tỷ vay hợp vốn ngân hàng. Ba tỷ nhân dân tệ của chính quyền đứng sau một dự án 17,5 tỷ, vốn công ở đây có chức năng mở khóa các nguồn vốn khác, và chính tỷ lệ đòn bẩy đó là điều kiện để một thành phố có quy mô GRDP 85 tỷ vào năm 2005 có thể đứng sau một dự án như vậy.

Hợp Phì không hề đứng ngoài cuộc chơi ưu đãi, ngoài vốn, thành phố cung cấp mặt bằng trong khu công nghiệp, hạ tầng điện và cấp nước công nghiệp, cùng các khoản ưu đãi và hoàn thuế; riêng năm 2020, cơ quan thuế tỉnh ghi nhận khoảng 3,05 tỷ nhân dân tệ ưu đãi và hoàn thuế cho các doanh nghiệp trong nhóm BOE tại Hợp Phì. Lợi thế quyết định mà thành phố đem đến vì vậy không chỉ, và có lẽ không chủ yếu, nằm ở ưu đãi thuế, là thứ mà các địa phương cạnh tranh khác cũng có thể đưa ra, mà ở khả năng chuẩn bị đất, hạ tầng, vốn đối ứng và thực hiện cam kết trong một thời hạn có thể tin cậy.

Kết quả công nghiệp có thể thấy rõ, với dây chuyền vận hành từ năm 2010, kéo theo đó là chuỗi vật liệu và linh kiện; hai thế hệ dây chuyền tiếp theo được triển khai năm 2012 và 2015; Hợp Phì trở thành cụm sản xuất màn hình lớn nhất của BOE – nhà sản xuất màn hình lớn nhất thế giới – và giá trị sản lượng ngành màn hình mới của thành phố vượt 100 tỷ nhân dân tệ vào năm 2024.

Kết quả tài chính của phần vốn công thì khó nhìn thấy rõ ràng hơn. Một nguồn tổng kết chính thức nêu mức lãi ròng 1,0 tỷ nhân dân tệ trên khoản mua cổ phiếu 3,0 tỷ của dây chuyền màn hình thế hệ 6, nhưng hồ sơ công khai hiện có không cho biết ngày bán, giá bán từng đợt, cổ tức đã nhận, phí và chi phí vốn, nên không thể kiểm chứng được suất sinh lời thực. Ở hai thế hệ sau, phần vốn của nhóm Hợp Phì được luân chuyển giữa nhiều pháp nhân, một phần được đối tác mua lại ở các mốc khác nhau, một phần vẫn còn nắm giữ. Đây là chuỗi giao dịch có nhiều mốc giá công bố nhất trong toàn bộ danh mục của thành phố, và cũng chưa cho phép kết luận về kết quả tài chính ròng.

Một điều đáng học hơn cả là chuyện xảy ra sau đó. Cụm màn hình tạo ra nhu cầu lớn về chip điều khiển màn hình, một loại linh kiện có tỷ lệ nội địa hóa rất thấp. Năm 2015, thành phố lập liên doanh Nexchip với Powerchip, một đối tác Đài Loan, trụ sở đặt ngay tại khu công nghiệp có nhà máy màn hình. Phía Hợp Phì gánh rủi ro vốn và rủi ro thị trường, đối tác góp bằng công nghệ được định giá 2,0 tỷ nhân dân tệ gồm ba nền tảng quy trình và 58 quyền sử dụng bằng sáng chế, và gánh rủi ro chuyển giao kỹ thuật. Việc chọn dải công nghệ trưởng thành 150–40 nanomet là một quyết định định vị làm giảm đồng thời hai loại rủi ro, khi dải này không cạnh tranh trực tiếp với các nhà sản xuất hàng đầu, và nó cung cấp đúng loại chip mà cụm công nghiệp tại địa phương có nhu cầu lớn. Từ khi khởi công đến sản xuất hàng loạt chỉ mất hai năm hai tháng. Công suất tăng từ 75.000 phiến mỗi năm vào 2018 lên hơn 1,26 triệu phiến vào 2022. Đến năm 2025, doanh nghiệp có 5.710 nhân viên, trong đó 1.976 người làm nghiên cứu – phát triển, và toàn bộ trung trong một khuôn viên tại Hợp Phì.

Ở đây, vai trò của thành phố đã đổi chỗ, từ chỗ thu hút một dự án có sẵn sang chỗ đứng ra sáng lập một mắt xích còn thiếu.

Bước tiếp theo cho thấy giới hạn của vốn. Cụm máy tính và điện tử của thành phố phụ thuộc gần như hoàn toàn vào chip nhớ nhập khẩu DRAM, mắt xích có khối lượng lớn nhất và rào cản công nghệ cao nhất trong toàn chuỗi. Dự án Changxin (CXMT) khởi động từ một cuộc thảo luận ngày 6/5/2016 giữa lãnh đạo thành phố và Chu Nhất Minh, người sáng lập GigaDevices – một doanh nghiệp thiết kế bán dẫn thành công đã niêm yết. Cách dự án bắt đầu cho thấy điều mà vốn nhà nước không làm được, thành phố huy động được vốn, đất, hạ tầng và pháp nhân, nhưng kiến thức về kiến trúc bộ nhớ, sản xuất phiến bán dẫn, chuỗi thiết bị và thị trường quốc tế phải đến từ trong ngành. Tháng 7/2018, Chu Nhất Minh rời chức điều hành ở GigaDevice để toàn thời gian phụ trách dự án, với cam kết không nhận lương thưởng cho đến khi công ty có lãi. Không thương vụ nào trong danh mục của Hợp Phì cho thấy điều này rõ hơn, quy mô vốn là điều kiện cần, đội ngũ kỹ thuật là điều kiện quyết định, và hai thứ đó không thay thế cho nhau.

Dự án cũng cho thấy cấu trúc vốn đã thay đổi theo quy mô. Ở giai đoạn khởi lập, hệ thống vốn thành phố giữ vai trò tổ chức và cung cấp phần vốn chủ đạo; và ở các vòng tăng vốn về sau, có sự tham gia của các pháp nhân cấp tỉnh, quỹ đầu tư ngành cấp quốc gia và nhiều nhà đầu tư tư nhân khác. Thành phố chuyển từ vị trí nhà đầu tư chi phối sang một trong nhiều bên góp vốn, vừa giảm phần rủi ro phải gánh, vừa giảm mức độ kiểm soát.

Thương vụ Hợp Phì đầu tư vào NIO năm 2020 bổ sung một khía cạnh khác. Theo thỏa thuận ngày 29/4/2020, bốn nhà đầu tư chiến lược cam kết 7,0 tỷ nhân dân tệ để lấy 24,115% cổ phần pháp nhân NIO tại Trung Quốc, đổi lấy việc doanh nghiệp xe điện này đưa trụ sở, năng lực nghiên cứu và sản xuất về Hợp Phì. Điểm quan trọng nhất không phải là con số mà là điều khoản, cấu trúc đầu tư đi kèm quyền yêu cầu mua lại, tức thành phố không phải chịu rủi ro toàn phần từ đầu tư cổ phần, mà là một công cụ lai giữa cổ phần và khoản cho vay có bảo đảm. Lối ra được thiết kế cùng lúc với quyết định đầu tư, không chờ đến khi cần bán. Cần ghi nhận thêm rằng cam kết không đồng nghĩa với giải ngân, đến tháng 7/2020, nhóm nhà đầu tư chỉ mới thực sự giải ngân 5,0 trong 7,0 tỷ cam kết, khi đó NIO đã ra khỏi vùng khó khăn và bắt đầu mua lại các nghĩa vụ của thành phố.

Về công nghiệp, khu công nghiệp xe điện thông minh khởi công tháng 4/2021 với quy hoạch 11,3 km², chiếc xe thứ một triệu của NIO xuất xưởng tại đây đầu năm 2026, và sản lượng xe năng lượng mới của toàn thành phố đạt gần 1,38 triệu chiếc năm 2024, chiếm khoảng 10,5% cả nước (phân bổ trên nhiều nhà sản xuất chứ không riêng một doanh nghiệp). Về tài chính, ở cấp nhóm bốn nhà đầu tư, tổng giá trị các đợt mua lại là 8,5115 tỷ trên 5,0 tỷ thực giải ngân. Ở cấp pháp nhân Hợp Phì, con số xác định được là đợt tháng 9/2020, thu về 0,5115 tỷ trên 0,5 tỷ vốn thực giải ngân, tức lợi tức thu được là khoảng 2,3% cho thời gian nắm giữ. Kết quả tài chính toàn kỳ của phía Hợp Phì chưa xác định được qua các dữ liệu công khai. Và cũng cần ghi nhận một dòng tiền công đi ra theo chiều ngược lại, tháng 12/2023, một nền tảng của thành phố mua nhà xưởng cùng quyền sử dụng đất liên quan với 1,42 tỷ nhân dân tệ.

Trường hợp LCFC — liên doanh máy tính giữa Lenovo và Compal đặt tại Hợp Phì — bổ sung một chi tiết khác. Giai đoạn 2011–2017, thành phố cung cấp địa điểm, đất, hạ tầng, ưu đãi thuế, điều kiện logistics và tổ chức chuỗi cung ứng, nhưng không góp cổ phần vào doanh nghiệp. LCFC đạt doanh thu vượt 100 tỷ nhân dân tệ năm 2020 và 118,697 tỷ năm 2024, với cụm hơn 70 nhà cung cấp đặt cơ sở tại An Huy. Vốn nhà nước xuất hiện bảy năm sau, khi cổ đông chiến lược nước ngoài (Compal) rút vốn năm 2018, và xuất hiện với chức năng cầu nối, một pháp nhân trung gian của thành phố mua lại phần vốn đó, với thỏa thuận xác lập trước cả bên mua cuối cùng, khung thời gian, giá trần và bên bảo lãnh. Quyền bán được thực hiện cuối năm 2021 và hoàn tất đầu năm 2022. Năng lực sản xuất vẫn ở lại địa bàn.

Bốn trường hợp trên chứng minh cùng một nguyên tắc hành động, là thành phố bắt đầu từ nhu cầu có thật của các doanh nghiệp và chuỗi sản xuất đã hiện diện trên địa bàn. Mỗi dự án mỏ neo làm thay đổi cấu trúc của chuỗi địa phương, và thành quả của chuỗi trước tạo điều kiện để lựa chọn ngành kế tiếp. Kết quả được đánh giá bằng năng lực sản xuất, doanh nghiệp phụ trợ, kỹ sư, công nghệ và nguồn thu dài hạn, chứ không chỉ bằng vốn đăng ký.

Nhưng chuỗi không tự động chạy theo hướng dự kiến, cụm sản xuất máy tính của thành phố hình thành theo quan hệ nhà cung cấp của ngành gia dụng hơn là theo doanh nghiệp mỏ neo được kỳ vọng. Một doanh nghiệp lớn về địa bàn cũng không đương nhiên kéo theo chuỗi cung ứng; chính sách nên tạo điều kiện cho chuỗi hình thành, nhưng không nên giả định trước hình dạng của nó.

Vốn nhà nước: công cụ thị trường, mục tiêu công nghiệp

Đây là phần có giá trị tham khảo cao nhất.

Truyền thông Trung Quốc thương mô tả Hợp Phì là “chính quyền làm đầu tư mạo hiểm”. Cách nói đó không chính xác. Đầu tư mạo hiểm là chấp nhận rủi ro toàn phần để đổi lấy lợi nhuận bội số, vốn nhà nước của Hợp Phì trong nhiều giao dịch có điều khoản bảo vệ, có tài sản bảo đảm, hoặc có mục tiêu phi tài chính là tạo năng lực sản xuất tại địa bàn. Cách mô tả chính xác hơn là thành phố sử dụng công cụ mang tính thị trường để theo đuổi một hàm mục tiêu không thuần túy tài chính.

Thành phố dùng pháp nhân doanh nghiệp và quỹ thay vì cấp phát ngân sách; các pháp nhân và quỹ góp vốn và nhận cổ phần với các quyền của cổ đông; chuyển nhượng qua đấu giá cạnh tranh; dùng niêm yết để tạo định giá; dùng điều khoản mua lại; và thay đổi nhà vận hành khi nhà đầu tư ban đầu thất bại.

Và nếu hàm mục tiêu là lợi nhuận tài chính, sẽ khó giải thích vì sao thành phố tiếp nhận một pháp nhân đang khủng hoảng cùng nghĩa vụ nợ của nó thay vì để tài sản bị xé lẻ trong thủ tục phá sản; vì sao điều kiện đặt năng lực sản xuất tại địa bàn xuất hiện trong gần như mọi thương vụ; hay vì sao một điều kiện về năng lực vận hành được đặt ra cho người mua trong một cuộc đấu giá mà lẽ ra nên tối đa hóa giá bán.

Về mặt kỹ thuật, vai trò của vốn địa phương có thể mô tả bằng ngôn ngữ tài chính thông thường, nó không thay thế vốn của doanh nghiệp, của ngân hàng hay của thị trường. Nó đóng vai vốn mồi, vốn cầu nối, công cụ chia sẻ rủi ro giai đoạn đầu, hoặc là tín hiệu cam kết để mở khóa những nguồn vốn lớn hơn nhiều lần. Thành phố sử dụng pháp nhân doanh nghiệp, sử dụng các công ty dự án lập riêng cho từng giao dịch, quỹ ngành, cổ phần, khoản vay ủy thác, điều khoản mua lại và các cơ chế thoái vốn. Các lối thoát đã được sử dụng trong thực tế là bán cổ phiếu trên thị trường thứ cấp, buộc doanh nghiệp hoặc nhà sáng lập mua lại phần vốn góp, và chuyển nhượng phần vốn ở các quỹ.

Phân tích các thương vụ đầu tư của chính quyền Hợp Phì cho thấy tạo ra khả năng thoái vốn không đồng nghĩa với việc đã thoái vốn thành công. Trong trường hợp liên doanh bán dẫn, hai pháp nhân của thành phố vẫn giữ nguyên số cổ phiếu qua cả hai đợt niêm yết, việc niêm yết tạo ra một mức giá tham chiếu và một thị trường để bán, chứ không tạo ra dòng tiền thực. Trong trường hợp dự án chip nhớ DRAM, đợt phát hành không bao gồm bán cổ phần của các cổ đông hiện hữu, nên không cổ đông nào thu tiền tại thời điểm niêm yết. Giá trị thị trường của phần vốn còn nắm giữ là giá trị danh nghĩa, không phải lợi nhuận đã thực hiện, và hai thứ đó không được cộng vào nhau, nhưng dù sao, cũng cần nhấn mạnh ở đây, là giá trị thị trường của phần vốn mà Hợp Phì nắm đã tăng ở mức độ cực lớn so với số tiền chính quyền đã đầu tư.

Điểm so sánh quan trọng nhất là khi nhìn vào loại pháp nhân tài chính mà Hợp Phì sử dụng — thường được gọi tắt là LGFV, các nền tảng vốn của chính quyền địa phương — không phải là sáng kiến của Hợp Phì. Các LGFV phổ biến ở hầu hết các địa phương Trung Quốc trong ba thập niên qua, và cơ chế “tài chính đất” mà chúng dựa vào cũng vậy. Bản thân các LGFV của Hợp Phì cũng vẫn làm hạ tầng, đất đai và bất động sản, ví dụ tổng nợ hợp nhất của nền tảng LGFV lớn nhất thành phố vào cuối năm 2024 là 493,632 tỷ nhân dân tệ (khoảng 67,64 tỷ USD), và các báo cáo công khai không tách phần nợ hạ tầng công ích khỏi phần nợ đầu tư công nghiệp.

Với cùng một loại công cụ, nếu được giao nhiệm vụ thu gom đất, xây khu đô thị và dựa vào giá đất để trả nợ, sẽ tạo ra một mô hình phát triển dựa vào bất động sản. Nếu được giao nhiệm vụ lấp mắt xích chuỗi, cấu trúc vốn và thu hút năng lực sản xuất, nó có thể trở thành công cụ phát triển công nghiệp. Sự khác biệt không nằm ở tên gọi pháp nhân, mà ở nhiệm vụ được giao, ở đội ngũ vận hành và ở chỉ tiêu đánh giá. Không phải là các nền tảng vốn của Hợp Phì không làm bất động sản, mà chính xác là thành phố đã giao cho một số LGFV định hướng đầu tư công nghiệp rõ ràng hơn nhiều địa phương khác, và tái tổ chức chúng khi quy mô và mức độ phức tạp của chiến lược thay đổi.

Hàm ý cho Việt Nam ở đây khá trực tiếp. Việc thành lập thêm một quỹ hoặc đổi tên một doanh nghiệp nhà nước không tự tạo ra năng lực đầu tư công nghiệp. Câu hỏi cần trả lời trước là ai sẽ thẩm định, ai có quyền quyết định, ai chịu rủi ro về mặt pháp lý, sẽ đánh giá bằng chỉ tiêu nào, và thoái vốn bằng cách nào. Việc chuyển mục tiêu cho một pháp nhân hiện có cũng không mặc nhiên tạo ra năng lực tương ứng, quá trình tích lũy đội ngũ thẩm định công nghệ, quan hệ với hệ thống ngân hàng và kinh nghiệm cấu trúc vốn ở Hợp Phì kéo dài khoảng mười lăm năm.

Một hệ thống biết điểm dừng

Mô hình Hợp Phì thường được nhìn nhận qua danh mục các dự án thành công, tuy nhiên, điểm đáng nghiên cứu chính là các trường hợp đối chứng, rõ nhất nằm ngay cạnh thương vụ màn hình lớn nhất của thành phố.

Cuối thập niên 2000, thế giới chứng kiến hai dòng công nghệ màn hình phẳng đang cạnh tranh nhau và chưa ngã ngũ. Hợp Phì đặt vốn vào cả hai, song song với dây chuyền tinh thể lỏng LCD của BOE, thành phố lập một công ty dự án plasma vào tháng 6/2009 với vốn điều lệ 1 tỷ nhân dân tệ, ký thỏa thuận tiếp nhận công nghệ với Hitachi (Nhật Bản) ngày 20/7/2009, và khởi công nhà máy trong tháng 9 cùng năm.

Nhánh công nghệ plamsa đã không đạt được cả mục tiêu công nghiệp lẫn tài chính. Dự án bắt đầu sản xuất thử năm 2011 với sản lượng cách rất xa công suất thiết kế, và công nghệ plasma mất thị trường khi Panasonic, nhà sản xuất plasma lớn nhất thế giới chấm dứt toàn bộ bộ phần màn hình plasma vào tháng 3/2014.

Điều đáng quan sát ở đây không phải là tỷ lệ thắng thua 1:1, mà là cách hệ thống phản ứng với rủi ro đó. Cơ chế giảm phơi nhiễm cổ phần đã vận hành và vận hành sớm, khi phía Hợp Phì bắt đầu bán bớt cổ phần từ cuối năm 2012 và giảm tỷ lệ sở hữu từ 100% xuống 31,25% trong khoảng mười lăm tháng, tức trước khi thị trường sụp đổ hoàn toàn. Với phần vốn còn lại, hồ sơ trái phiếu ghi giá vốn công bố 0,5 tỷ, trong khi phần quy đổi theo tỷ lệ sở hữu trên giá trị tài sản ròng cuối năm 2021 là khoảng 0,3 tỷ.

Có hai bài học có thể ghi nhận, và bài học thứ hai ít được nhắc đến hơn. Bài học thứ nhất là ở khả năng dừng dự án phụ thuộc trước hết vào việc tài sản công nghiệp đã đầu tư có còn người vận hành được hay không. Phần vốn cổ phần có thể chuyển đi tương đối nhanh vì có sẵn một người mua là đối tác vận hành; còn thiết bị chuyên dụng của một công nghệ đã rời thị trường thì không có người mua, và việc xử lý tài sản công nghiệp đã kéo dài tới năm 2020. Câu hỏi cần đặt từ khâu chọn dự án là tài sản vật chất mà dự án tạo ra có thể được ai đó tiếp tục vận hành hay không, và cần bao lâu để chuyển đến người vận hành mới đó.

Bài học thứ hai, là không phải mọi rủi ro đều thuộc loại không dự báo được. Hitachi – bên chuyển giao công nghệ – đã công bố rút khỏi chính lĩnh vực plasma từ tháng 9/2008, tức mười tháng trước khi thỏa thuận được ký, và dây chuyền được chuyển giao cho Hợp Phì đã vận hành tại Nhật Bản từ trước đó. Sự bất định của thị trường là có thật, nhưng tín hiệu chiến lược của bên bán đã có trước khi thành phố quyết định và không đòi hỏi năng lực dự báo công nghệ để có thể nhận ra. Đây là một loại rủi ro có thể phòng ngừa được, và nó khác với rủi ro chọn sai nhánh công nghệ.

Một trường hợp khác cho thấy năng lực xử lý sau thất bại của Hợp Phì khi nhà đầu tư ban đầu của một dự án quang điện lâm vào khủng hoảng nợ năm 2013, một pháp nhân của khu công nghệ cao đứng ra tiếp nhận toàn bộ phần vốn cùng các nghĩa vụ nợ đi kèm, giữ doanh nghiệp đó trong khoảng năm tháng, rồi bán qua đấu giá công khai sau 218 vòng trả giá. Điều kiện chào bán yêu cầu người mua phải có nền tảng sản xuất và năng lực tài chính tương ứng, một điều kiện ưu tiên việc đưa tài sản công nghiệp trở lại sản xuất hơn là tối đa hóa giá bán. Dây chuyền đầu tiên chạy lại hai tháng sau đấu giá và doanh nghiệp có lãi từ năm kế tiếp. Kết quả tài chính của khu vực công trong giao dịch này chưa xác định được rõ ràng, nhưng kết quả công nghiệp thì rõ, và năng lực thể hiện thông qua việc tiếp nhận tạm thời, giữ vận hành, tìm chủ mới có năng lực để chuyển giao. Đó là năng lực tổ chức chuyên biệt của một bộ máy chứ không phải một điều khoản hợp đồng.

Từ hai trường hợp này có thể rút ra một nguyên tắc. Việc thành phố vẫn tiếp tục ra được các quyết định đầu tư lớn sau những dự án không thành công cho thấy hệ thống ra quyết định không bị tê liệt vì một vài thất bại lớn. Để một hệ thống như vậy vận hành, dung sai thất bại phải được viết thành quy định có tiêu chí kiểm tra được, ví dụ có quy trình đúng, không tư lợi, giải ngân theo mốc, có giám sát, và đánh giá theo danh mục thay vì theo từng dự án. Nếu không, mức rủi ro cá nhân của người ký một quyết định đầu tư có xác suất thất bại thực sẽ vượt quá lợi ích kỳ vọng, và lựa chọn hợp là là tránh loại dự án đó. Kết quả sẽ là một danh mục không có dự án nào thất bại, một điểm phản ánh mức độ thận trọng trong lựa chọn hơn là chất lượng thẩm định.

Tuy nhiên dung sai thất bại không phải là lời kêu gọi miễn trách nhiệm. Nó bảo vệ người ra quyết định có rủi ro nhưng gắn với đòi hỏi tuân thủ quy trình và không tư lợi. Nó không, và không được, miễn trách nhiệm cho quyết định tùy tiện, sai quy trình hoặc có xung đột lợi ích.

Ranh giới đó chính là các quy định phải được đưa ra trước khi bắt đầu, chứ không phải sau khi có dự án hỏng đầu tiên.

Chuỗi công nghiệp cũ mở đường cho ngành mới

Sau khi tích lũy đủ năng lực tổ chức, Hợp Phì chuyển dần trọng tâm từ việc lấp mắt xích của chuỗi hiện hữu sang nuôi dưỡng ngành mới dựa trên nền khoa học và công nghiệp tại chỗ. Trung tâm Khoa học Quốc gia Tổng hợp Hợp Phì được phê duyệt tháng 1/2017, và từ đó các thiết bị khoa học lớn bắt đầu mở dịch vụ cho doanh nghiệp.

Cơ chế đáng chú ý ở lớp này không phải là vốn mà là một vai trò khác của chính quyền, là khách hàng đầu tiên. Khi một sản phẩm công nghệ chưa có thị trường, một đơn hàng của khu vực công tạo ra tham chiếu thương mại mà nhà cung cấp có thể dùng để tiếp cận khách hàng khác, một điều kiện mà một khoản trợ cấp cùng quy mô không tạo ra.

Gần như toàn bộ doanh nghiệp lượng tử của thành phố do các nhà khoa học của trường đại học USTC thành lập, chứ không do một cơ quan nhà nước lập ra, và nguyên tắc “vốn không thay thế được người có chuyên môn” xuất hiện lại dưới hình thức khác. Thành phố tiếp cận được lĩnh vực phương tiện bay điện vì phần lớn chuỗi cung ứng của lĩnh vực này trùng với chuỗi pin, điện tử công suất và vật liệu nhẹ đã hình thành từ xe điện. Chuỗi công nghiệp hiện có giới hạn tập hợp những ngành mà một địa phương có thể bước vào ở chu kỳ tiếp theo. Giá trị của một cụm công nghiệp vì vậy bao gồm cả tập hợp lựa chọn mà nó mở ra cho giai đoạn sau, chứ không chỉ sản lượng hôm nay.

Ba nhóm khuyến nghị về mô hình Hợp Phì cho các địa phương Việt Nam

Mô hình Hợp Phì vận hành trong những điều kiện đặc thù của Trung Quốc, với quyền lực lớn của chính quyền địa phương đối với đất đai và tài sản công; với các nền tảng vốn nhà nước địa phương (LGFV) và khả năng chuyển tín nhiệm chính quyền thành vốn dài hạn chi phí thấp qua hệ thống ngân hàng quốc doanh. Trung Quốc cũng có một thị trường nội địa đủ lớn để một nhà sản xuất mới có đầu ra ngay cả khi chưa cạnh tranh được ở nước ngoài; một chuỗi cung ứng công nghiệp tương đối hoàn chỉnh; và một lớp nguồn lực khoa học, công nghệ, tài chính từ cấp tỉnh và trung ương khiến rủi ro thực mà địa phương phải gánh trong nhiều trường hợp sẽ nhỏ hơn con số danh nghĩa.

Những điều kiện đó khó tái tạo đầy đủ và chúng làm thay đổi đáng kể hồ sơ rủi ro của cùng một quyết định, và chúng là giới hạn cho quy mô của bất kỳ thí điểm nào.

Hợp Phì không phải là địa phương không cần thể chế hay nguồn lực thuận lợi. Thành phố hoạt động trong một hệ thống mà chính quyền địa phương Trung Quốc có quyền lực lớn đối với đất đai và tài sản công, có khả năng sử dụng các nền tảng vốn địa phương, tiếp cận hệ thống ngân hàng quốc doanh, đồng thời được hưởng lợi từ nguồn lực khoa học – công nghệ của tỉnh và trung ương. Tuy nhiên, trong một khung thể chế rộng mà nhiều địa phương Trung Quốc cùng được tiếp cận, trường hợp Hợp Phì cho thấy cách tổ chức thực thi, giao nhiệm vụ, xây dựng bộ máy và sử dụng công cụ có thể là một biến số quan trọng giải thích sự khác biệt về kết quả giữa các địa phương. Năng lực tổ chức vì vậy không phải là lời giải thích duy nhất cho thành công của Hợp Phì, nhưng là một yếu tố đáng được tách riêng để nghiên cứu, bởi đây cũng là yếu tố có khả năng chuyển giao cao hơn nhiều so với các điều kiện đặc thù của hệ thống Trung Quốc.

Những việc các địa phương Việt Nam có thể làm được ngay trong khuôn khổ hiện hành

Đây chủ yếu là kỷ luật quản trị, dữ liệu, cách giao nhiệm vụ và tổ chức thực hiện, những việc không đòi hỏi một cơ chế đặc thù mới.

Ưu đãi tài khóa là công cụ mà mọi địa phương đều có, nó ít có khả năng tạo khác biệt trong quyết định chọn địa điểm của nhà đầu tư. Nhưng hai chỉ số dưới đây thì khác, và một địa phương có thể tự đo, tự công bố, tự đặt mục tiêu cho mình, đó là thời gian thực tế từ chấp thuận chủ trương đầu tư đến khi bàn giao đất sạch, tính theo trung bình các dự án đã thực hiện chứ không theo thời hạn quy định; và tỷ lệ cam kết hạ tầng kết nối được thực hiện đúng hạn. Hai con số này có sức thuyết phục rất lớn với nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư công nghiệp.

Việc thứ hai là lập bản đồ nhu cầu đầu vào của các doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn. Câu hỏi các địa phương phải trả lời không phải “ngành nào đang được ưu tiên trong chiến lược quốc gia” mà phải là “các doanh nghiệp đang hoạt động ở địa phương đang phải nhập những linh kiện gì, với khối lượng và giá trị bao nhiêu”. Đây là một khảo sát cụ thể, làm được trong vài tháng, và kết quả của nó thường khác đáng kể so với danh mục ngành ưu tiên. Dữ liệu này thật sự quan trọng để địa phương cân nhắc, hoạch định đường đi cho phát triển công nghiệp.

Việc thứ ba là thay đổi cách đo kết quả của một dự án mỏ neo, chỉ tiêu thu hút đầu tư theo vốn đăng ký không đo được điều quan trọng nhất này và trên thực tế còn khuyến khích ngược lại. Ba chỉ tiêu đáng cân nhắc để đo lường khi thu hút đầu tư của một địa phương là số lượng nhà cung cấp cấp một và cấp hai đặt cơ sở sản xuất trong bán kính xác định sau ba năm; tỷ lệ nội địa hóa tính theo giá trị chứ không theo số lượng hạng mục; và số kỹ sư được tuyển dụng tại chỗ.

Việc thứ tư là gắn điều phối thủ tục với điều phối nguồn lực. Việt Nam đã có mô hình tổ công tác và ban chỉ đạo cho từng dự án lớn, nhưng các thiết chế này thường có giới hạn thẩm quyền đối với thủ tục mà không có thẩm quyền đối với vốn. Kết quả là điều phối được tiến độ giấy tờ nhưng không điều phối được nguồn lực đầu tư hạ tầng phục vụ chính chuỗi đó. Đi kèm theo đó là xác lập một đầu mối chịu trách nhiệm trong toàn bộ vòng đời dự án, thay vì chuyển giao giữa các cơ quan theo từng giai đoạn.

Việc thứ năm thuộc về cách tự đánh giá. Nếu người đứng đầu Thành ủy Hợp Phì giai đoạn 2005–2011 chỉ để lại những dự án được phê duyệt trong nhiệm kỳ, thành phố đã không có ba cụm công nghiệp lớn hình thành sau khi ông rời đi. Điều này gợi ý một tiêu chí bổ sung cho việc đánh giá một nhiệm kỳ, đó là những năng lực tổ chức nào còn lại sau khi một nhiệm kỳ kết thúc. Ba năng lực có thể đặt thành mục tiêu đo được là một quy trình chuẩn bị mặt bằng có thời hạn xác định, một bộ máy tạo nguồn dự án hoạt động thường xuyên, và một cơ chế ra quyết định đầu tư có quy trình thành văn.

Những việc chỉ nên làm sau khi đã xây dựng đủ năng lực

Nhóm này gồm việc dùng vốn nhà nước địa phương làm vốn mồi, đầu tư cổ phần vào dự án công nghệ, giải ngân theo mốc, đặt điều kiện địa phương hóa có tiêu chí nghiệm thu, thiết kế cơ chế thoái vốn, đánh giá kết quả theo danh mục, và xây dựng dung sai thất bại thành quy định có thể kiểm tra.

Khuôn khổ pháp lý của Việt Nam về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp đã thay đổi đáng kể từ năm 2025. Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp số 68/2025/QH15 và Nghị định 366/2025/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý cho việc Nhà nước góp vốn thành lập công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, cũng như góp vốn, mua cổ phần hoặc phần vốn góp tại doanh nghiệp chưa có vốn nhà nước trong một số phạm vi được quy định. Đáng chú ý đối với cấp địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định đầu tư từ nguồn ngân sách địa phương hoặc tài sản công thuộc phạm vi quản lý trong những trường hợp thuộc thẩm quyền, trên cơ sở phương án đầu tư và ý kiến thẩm định của Sở Tài chính.

Thay đổi này có nghĩa là ràng buộc đối với một mô hình gần với Hợp Phì không còn đơn giản là câu hỏi “địa phương có được phép dùng vốn nhà nước để góp vốn cổ phần hay không”. Tuy nhiên, khung pháp lý mới cũng không trao cho chính quyền địa phương một quyền đầu tư mạo hiểm không giới hạn. Phạm vi đầu tư vẫn được xác định theo luật và nghị định, trong đó có các doanh nghiệp khoa học và công nghệ, và mỗi phương án góp vốn hoặc mua cổ phần phải làm rõ mục tiêu, sự cần thiết, tình hình tài chính và kinh doanh của doanh nghiệp, nhu cầu và triển vọng thị trường, quy mô và nguồn vốn đầu tư, cũng như hiệu quả kinh tế hoặc xã hội dự kiến. Vì vậy, đặc biệt đối với những dự án công nghệ giai đoạn rất sớm, chưa có sản phẩm hoặc chưa có hồ sơ hoạt động đủ dài, khả năng vận dụng các quy định mới trong thực tế vẫn cần được kiểm nghiệm.

Điểm khởi đầu của một thí điểm theo hướng Hợp Phì vì vậy không nên là lập thêm một quỹ rồi mới xây dựng năng lực sử dụng nó. Trước khi thực hiện bất cứ khoản đầu tư nào, địa phương cần trả lời được các câu hỏi: trường hợp đầu tư có nằm trong phạm vi mà pháp luật cho phép hay không; chủ thể pháp lý nào thực hiện và chịu rủi ro; nguồn vốn nào được phép sử dụng; bộ máy thẩm định gồm những ai và có năng lực chuyên môn gì; giới hạn tổn thất mà địa phương có thể chịu là bao nhiêu; cơ chế định giá khi mua và khi bán là thế nào; ai có thẩm quyền quyết định thoái vốn; trách nhiệm thuộc về ai nếu bán xong mà giá tiếp tục tăng; và trách nhiệm được xác định thế nào khi dự án không đạt mục tiêu nhưng quy trình ra quyết định đã được tuân thủ đầy đủ.

Những câu hỏi về việc thoái vốn đặc biệt quan trọng, vì phần khó không chỉ nằm ở việc chi tiền mà còn ở việc bán phần vốn đã đầu tư. Nếu cơ chế thoái vốn chưa được xác lập trước khi ký, các khoản đầu tư có thể có xu hướng bị nắm giữ kéo dài, và một danh mục không có cơ chế thoái vốn khả thi sẽ khó vận hành như một danh mục đầu tư thực sự. Hồ sơ Hợp Phì bổ sung một câu hỏi khác, là chính quyền nhận thanh toán cho phần thoái vốn bằng gì. Một lối ra được thanh toán bằng cổ phiếu của bên mua không kết thúc rủi ro với phần vốn đầu tư, mà chỉ chuyển từ rủi ro doanh nghiệp sang rủi ro thị giá.

Về điều kiện địa phương hóa, các hồ sơ Hợp Phì cho thấy một dạng thất bại khó nhận ra. Trong giao dịch bán lại Nexperia, việc các hạng mục nghiên cứu và sản xuất phải đặt tại thành phố đã được viết thành cam kết trong điều kiện đấu giá, và bên nhận chuyển nhượng đã tiếp nhận cam kết ủng hộ, nhưng hồ sơ không có biên bản nghiệm thu. Bài học ở đây vì vậy không phải là “phải viết điều kiện thành nghĩa vụ” mà là một nghĩa vụ chỉ có hiệu lực khi đi kèm bốn thứ khác, là mốc thời gian, tiêu chí nghiệm thu, chủ thể kiểm tra và chế tài định lượng được. Những điều kiện không đo được thì không khác nhiều một kỳ vọng.

Về thẩm định, có ba yêu cầu tối thiểu rút ra từ các dự án không đạt mục tiêu, là việc thẩm định phải trả lời được câu hỏi về nhánh công nghệ chứ không chỉ về doanh nghiệp; phải nhận biết và đọc tín hiệu của bên chuyển giao công nghệ, vì việc bên bán đã công bố rút khỏi chính lĩnh vực được chuyển giao là thông tin công khai và kiểm tra được; và phải đánh giá bảng cân đối của tập đoàn mẹ phía đối tác, vì trong nhiều trường hợp, nguyên nhân trực tiếp của đổ vỡ là đòn bẩy của đối tác chứ không phải chất lượng thực thi tại địa bàn.

Và trong bộ tiêu chí sàng lọc các dự án công nghệ, trọng số cao nhất nên đặt vào đội ngũ sáng lập, về kinh nghiệm vận hành thực tế trong đúng phân ngành, thành tích đã kiểm chứng, mức độ dấn thân cá nhân, chứ không phải quy mô vốn đăng ký hay diện tích đất xin thuê, vốn là hai chỉ số dễ đo nhất và ít dự báo nhất.

Những gì không nên sao chép

Cơ chế vay nợ ngầm dựa vào tín nhiệm chính quyền là nguồn rủi ro tài khóa lớn nhất của khối chính quyền địa phương Trung Quốc hiện nay; ở quy mô toàn quốc, khối các nền tảng vốn địa phương LGFV có chi phí vay bình quân khoảng 5% so với tỷ suất sinh lời trên tài sản khoảng 1%, và phần lớn chi tiêu hằng năm được tài trợ bằng nợ mới. Việc chuyển hóa đất và tài sản công thành đòn bẩy tài chính thiếu minh bạch thuộc cùng nhóm này.

Không nên đặt cược vượt sức chịu đựng tài khóa, quyết định năm 2008 của Hợp Phì đầu tư vào BOE thành công, nhưng trong cùng thời kỳ đó, nhiều địa phương Trung Quốc làm điều tương tự với các dự án bán dẫn và thất bại; làn sóng đổ vỡ giai đoạn 2019–2021 là phần khuất của cùng một cách làm.

Cũng không nên cho rằng lập một quỹ hoặc một doanh nghiệp vốn nhà nước là đã có ngay năng lực đầu tư công nghiệp. Rủi ro ở đây rất cụ thể, một địa phương có thể có được toàn bộ hình thức pháp lý của công cụ mà không có năng lực nào đi kèm, và kết quả không phải là một mô hình vận hành kém hơn, mà là một cấu trúc mang rủi ro của công cụ nhưng không mang khả năng quản trị rủi ro đó.

Không nên sao chép lựa chọn ngành của Hợp Phì khi không có thị trường, chuỗi cung ứng, nhân lực và nền tảng khoa học tương ứng. Và cũng không nên coi giá trị thị trường danh nghĩa của phần vốn còn nắm giữ là dòng tiền hay lợi nhuận đã thực hiện.

Tóm lại, cơ chế đặc thù có thể mở rộng không gian hành động, nhưng nó không tạo ra người thẩm định, không tự sinh ra dự án tốt, không thay thế được kỷ luật thực thi, và không trả lời giúp câu hỏi ai chịu trách nhiệm khi phải bán hoặc khi một dự án không đạt mục tiêu.

Hợp Phì như một đối tượng khảo sát

Với tất cả những gì có thể rút ra từ các hồ sơ công khai, phần quan trọng nhất để học hỏi mô hình Hợp Phì vẫn nằm ngoài tầm với. Các tài liệu công bố cho biết thành phố đã dùng công cụ nào, qua pháp nhân nào, chuyển nhượng với giá bao nhiêu, nhưng không cho biết ai đưa ra những quyết định đó, theo quy trình nào, với ràng buộc thẩm quyền nào, và chịu hậu quả ra sao nếu sai. Đây chính là phần có giá trị học hỏi và chuyển giao cao nhất, vì công cụ tài chính có thể sao chép trong khi năng lực tổ chức thì không đơn giản.

Vì vậy, với các địa phương Việt Nam, một chương trình khảo sát nghiêm túc tại Hợp Phì sẽ có ích, và nó không nên thực hiện theo cách chủ yếu là đi thăm các nhà máy hay khu công nghệ cao. Những câu hỏi cần trả lời thuộc loại khác và dành cho những nơi, những người có thể giúp trả lời, ví dụ ai thực sự chuẩn bị và thẩm định một thương vụ; nhân sự của các nền tảng vốn được tuyển dụng từ đâu, theo tiêu chuẩn nào, trả lương và đánh giá thế nào; quyền quyết định được phân bổ ra sao giữa Thành ủy, chính quyền, cơ quan quản lý vốn nhà nước, các khu phát triển và doanh nghiệp; vốn, đất, hạ tầng, tín dụng và dịch vụ hành chính được ghép thành một gói như thế nào; điều kiện địa phương hóa được ghi vào hợp đồng và nghiệm thu ra sao; khi một dự án không đạt mục tiêu thì ai quyết định dừng, tái cấu trúc hoặc thay nhà vận hành; cơ chế trách nhiệm và miễn trừ trách nhiệm vận hành trong thực tế thế nào; và hệ thống này thay đổi cùng duy trì tính liên tục qua các nhiệm kỳ lãnh đạo bằng cách nào.

Từ nghiên cứu mô hình Hợp Phì, chương trình này nên được mở rộng thành một nghiên cứu so sánh về chuyển đổi mô hình phát triển địa phương và vùng, gồm những địa phương đã chuyển thành công từ đất đai, bất động sản và công nghiệp cấp thấp sang công nghiệp có năng suất cao hơn; những địa phương sử dụng công cụ tương tự nhưng không tạo được chuyển đổi; các trường hợp đầu tư công nghiệp thất bại; mối quan hệ giữa thành phố trung tâm, tỉnh và vùng kinh tế; và cuối cùng là câu hỏi những năng lực nào có thể chuyển giao, những điều kiện nào không thể tái tạo.

Mô hình Hợp Phì là một đối tượng cần khảo sát chứ không phải một công thức để sao chép. Điều thành phố này tích lũy được trong hai mươi năm bao gồm một danh mục dự án và, quan trọng hơn đối với việc rút kinh nghiệm, là một tập hợp năng lực tổ chức của chính quyền địa phương, từ khả năng chuẩn bị mặt bằng theo tiến độ đã cam kết, phân vai giữa các pháp nhân, xác định trước bên chịu tổn thất trong kịch bản xấu, đến thiết kế lối rút vốn ngay từ khi quyết định đầu tư, và xử lý dự án hỏng mà hệ thống ra quyết định vẫn tiếp tục vận hành. Những năng lực đó được xây dần qua nhiều nhiệm kỳ, tồn tại dưới dạng quy trình và tổ chức, nên chúng cũng có thể suy giảm nếu các quy trình ấy không được duy trì.

Chuyển đổi mô hình phát triển trước hết là quá trình xây dựng năng lực của địa phương và của vùng. Đòi hỏi quyền hạn rộng hơn hay một cơ chế đặc thù cho địa phương chỉ phát huy tác dụng khi địa phương đã có năng lực và sẵn sàng sử dụng các cơ chế đó. Câu hỏi nên đặt ra, và có thể trả lời ngay mà không cần chờ ai cho phép, là địa phương đã tổ chức và sử dụng đến đâu những quyền hạn, tài sản, doanh nghiệp, quỹ, dữ liệu và năng lực hành chính mà mình đang có?

Hợp Phì không chỉ tự đưa mình vào nhóm những thành phố dẫn đầu và trở thành một trung tâm công nghiệp quan trọng của Trung Quốc, khi chứng minh được năng lực tổ chức phát triển, thành phố cũng có vị trí thuận lợi hơn để tiếp nhận các nguồn lực từ tỉnh và trung ương, tham gia những chương trình khoa học – công nghệ lớn và đảm nhận vai trò ngày càng quan trọng trong cấu trúc phát triển vùng và quốc gia. Năng lực của địa phương không thay thế sự hỗ trợ từ cấp trên, chính năng lực ấy quyết định địa phương có thể biến sự hỗ trợ thành kết quả.

Trong Tam Quốc, Hợp Phì gắn với trận Tiêu Dao Tân, trước đội quân Đông Ngô mười vạn người, Trương Liêu đã chọn 800 quân tinh nhuệ từ lực lượng phòng thủ khoảng 7.000 người, đánh thẳng vào đội hình của Tôn Quyền, khiến quân Đông Ngô tan rã, Tôn Quyền phải thúc ngựa nhảy qua cầu gãy tháo chạy. Ưu thế của Hợp Phì, trong cả câu chuyện xưa lẫn cuộc chuyển mình ngày nay, nằm ở khả năng tổ chức, lựa chọn điểm đột phá và tập trung nguồn lực vào đúng thời điểm.

Và có lẽ đó là điều các địa phương Việt Nam nên nghiên cứu trên con đường chuyển đổi mô hình phát triển.