Trật tự thế giới mới: Các nước nhỏ sẽ luôn phải chịu đựng?

Nguồn: Tom Long và Stewart Patrick, “The Small Suffer What They Must?,Foreign Affairs, 23/07/2026

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Liên kết cùng nhau hay đơn độc chống chọi trong một thế giới hỗn loạn?

Kể từ khi Tổng thống Mỹ Donald Trump trở lại nắm quyền, không còn quốc gia nào quá nhỏ bé để có thể thoát khỏi tầm ngắm của ông. Trong bài diễn văn nhậm chức vào tháng 01/2025, Trump cam kết sẽ giành lại Kênh đào Panama và thâu tóm vùng Greenland thưa thớt dân cư. Những lời đe dọa nhắm vào các quốc gia vừa và nhỏ ngày càng gia tăng trong năm 2026, với một cuộc đột kích ngoạn mục nhằm phế truất tổng thống Venezuela và lệnh phong tỏa dầu mỏ áp đặt lên Cuba. Tức giận trước những lời chỉ trích của Giáo hoàng đối với chính sách đối ngoại của mình, Trump thậm chí còn công kích Giáo hoàng Leo XIV, người đứng đầu Thành quốc Vatican nhỏ bé.

Cách tiếp cận “kẻ mạnh là kẻ đúng” của Tổng thống Mỹ là biểu hiện mới nhất của một xu hướng đáng báo động: sự suy yếu của những rào cản từng giúp kiềm chế hành vi của các cường quốc. Như cuộc xâm lược vô cớ của Nga vào Ukraine và chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông đã cho thấy, Mỹ không phải là cường quốc duy nhất đang cậy thế để chèn ép các nước khác. Giờ đây, khi các cường quốc xé toạc nền tảng của luật pháp và các thể chế quốc tế, những cơ chế kiểm soát hành vi can thiệp và xâm lược cũng đang dần biến mất.

Các quốc gia nhỏ hơn trên thế giới là những nạn nhân lớn nhất của tình trạng hỗn loạn do một trật tự toàn cầu đang tan rã gây ra. Là những đối tác yếu thế hơn trong các mối quan hệ quốc tế bất cân xứng, nhóm quốc gia vô cùng đa dạng này, bao gồm Kenya, Paraguay và Singapore, không thể đơn phương đặt ra luật chơi và thường phải chật vật để định hình chúng. Các nước nhỏ đang phải đối mặt với những rào cản kinh tế ngày càng lớn, bị gạt ra bên lề trong các thỏa thuận ngoại giao và phải gánh chịu những cú sốc nghiêm trọng hơn, từ biến động thị trường đến thời tiết cực đoan. Một nền kinh tế thế giới hội nhập, nơi các nước nhỏ từng có thể tìm được những thị trường ngách để phát triển, giờ đây đang bị phân mảnh. Các tổ chức quốc tế, vốn từng mang lại cho các nước nhỏ một vị trí bình đẳng trên bàn đàm phán và cho phép họ tiếp cận cộng đồng toàn cầu, đang bị suy yếu bởi nguồn lực cạn kiệt và tính chính danh ngày càng giảm sút. Trong khi đó, việc cắt giảm viện trợ nước ngoài và các hàng hóa công toàn cầu đã tước đi của các nước nhỏ những tấm lá chắn trước thảm họa.

Tình thế lưỡng nan mà các nước nhỏ đang phải đối mặt cũng có ý nghĩa rất lớn đối với các cường quốc. Các nước lớn có thể dùng sức mạnh cưỡng ép để đạt được thành công, như những gì Mỹ đã làm tại Panama, nơi áp lực từ Washington dẫn đến việc rà soát các nhà khai thác cảng có liên hệ với Trung Quốc gần kênh đào, và tại Venezuela, nơi ban lãnh đạo mới được Mỹ hậu thuẫn đã mở cửa ngành công nghiệp dầu mỏ cho các công ty Mỹ. Nhưng việc duy trì năng lực cưỡng ép rất tốn kém và có nguy cơ khiến các cường quốc sa lầy vào những vấn đề của các nước yếu hơn. Như trường hợp Cuba hiện nay cho thấy, hành động cưỡng ép của một siêu cường nhiều khả năng chỉ gây ra thảm họa kinh tế và xã hội mà không tạo ra một kết cục chính trị rõ ràng. Việc không đạt được các mục tiêu ban đầu thường đẩy các cường quốc xuống một con dốc trơn, dẫn tới những cuộc can thiệp ngày càng tốn kém.

Giảm thiểu rủi ro cho các nước nhỏ đòi hỏi các quốc gia ở mọi quy mô phải đầu tư vào hệ thống quốc tế, thay vì chỉ tìm cách trục lợi từ nó. Mỹ nên sử dụng nguồn lực và ảnh hưởng của mình để cải tổ, chứ không phải phá vỡ, các thể chế quốc tế. Các nước nhỏ cũng phải hợp tác với nhau để ngăn các tổ chức này suy yếu, bởi chúng chính là lá chắn quan trọng trước sự chèn ép của các siêu cường. Đồng thời, các nước nhỏ cần đầu tư vào năng lực ngoại giao và tận dụng những cơ hội thúc đẩy các lợi ích chung đan xen.

Những hàng hóa công toàn cầu mà Mỹ cung cấp, chẳng hạn như hỗ trợ các tổ chức quốc tế và cứu trợ trong thảm họa thiên nhiên cũng như khủng hoảng kinh tế, chưa bao giờ chỉ xuất phát từ lòng từ thiện. Đó là một sự đặt cược có tính toán rằng một hệ thống mở và tương đối ổn định sẽ củng cố các liên minh, quan hệ đối tác và sự thịnh vượng của chính nước Mỹ. Các nước nhỏ được đan cài vào những chuỗi giá trị toàn cầu, đóng vai trò là các trung tâm tài chính, kiểm soát những điểm nghẽn chiến lược và cung cấp cơ hội đặt căn cứ quân sự. Điều này đặc biệt đúng vào thời điểm hiện nay, khi Mỹ đang bị cuốn vào một cuộc cạnh tranh địa chính trị với Trung Quốc, quốc gia đang tìm cách tranh thủ hàng loạt thành viên Liên Hiệp Quốc. Một siêu cường khuấy động vùng biển quanh các nước nhỏ rồi sẽ nhận ra rằng những con sóng ấy cuối cùng cũng sẽ ập vào bờ biển của chính mình.

TRẬT TỰ ĐÃ TỪNG TỒN TẠI

Trật tự quốc tế được thiết lập vào cuối Thế chiến II là một đặc ân đối với các nước nhỏ, mang lại cho họ những chuẩn mực an ninh, cơ hội lên tiếng, sự cởi mở về kinh tế, mức độ dễ đoán định tương đối và thậm chí cả một dạng bảo hiểm toàn cầu. Các quốc gia mới xuất hiện sau sự sụp đổ của các đế chế thực dân gia nhập một Liên Hiệp Quốc công nhận chủ quyền bình đẳng và toàn vẹn lãnh thổ của họ. Đến thập niên 1980, số thành viên Liên Hiệp Quốc đã tăng hơn gấp ba, từ 51 lên 159. Sau một đợt mở rộng khác vào thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh, con số này tăng vọt lên 193. Phần lớn các thành viên mới là những quốc gia vừa và nhỏ, cũng chính là những nước hiện đang chịu áp lực lớn nhất từ các cuộc khủng hoảng toàn cầu đan xen.

Không ai nghi ngờ rằng những bất cân xứng về quyền lực và đặc quyền vẫn tồn tại dai dẳng trong trật tự hậu chiến, thể hiện rõ qua năm thành viên thường trực có quyền phủ quyết tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và một câu lạc bộ hạt nhân khép kín đối với các thành viên mới. Tuy nhiên, luật pháp quốc tế đã góp phần bảo vệ các quốc gia yếu hơn. Như cựu Tổng thống Estonia Lennart Meri từng châm biếm vào cuối những năm 1990: “Vũ khí hạt nhân của các nước nhỏ chính là luật pháp quốc tế.” Hiến chương Liên Hiệp Quốc đã hệ thống hóa những chuẩn mực được các nước nhỏ ủng hộ, bao gồm việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia và đề cao nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Dù chưa bao giờ được tuân thủ hoàn hảo, các chuẩn mực và luật pháp quốc tế vẫn buộc những kẻ xâm lược phải tìm cách biện minh cho hành động của mình khi vi phạm các quy tắc đó. Chúng đã tạo ra một tác dụng kiềm chế nhất định.

Các tổ chức quốc tế phần nào đã bảo vệ các nước nhỏ trước việc các cường quốc sử dụng quyền lực không giới hạn, đồng thời nâng cao vị thế ngoại giao của họ. Các nước nhỏ thậm chí còn thành lập những nhóm riêng, chẳng hạn như Diễn đàn Liên Hiệp Quốc của Các Nước Nhỏ, với khoảng 108 thành viên, nhằm tăng cường tiếng nói trong các cuộc đàm phán tại Liên Hiệp Quốc. Những thỏa thuận hậu trường giữa các siêu cường vẫn chiếm ưu thế, nhưng các nước nhỏ có thể tố cáo chúng trước cộng đồng quốc tế, từ đó tạo áp lực dư luận ủng hộ cho chính nghĩa của mình. Tiếng nói và lá phiếu của họ có trọng lượng. Chiến dịch Quốc tế nhằm Xóa bỏ Vũ khí Hạt nhân, do Áo, Costa Rica, Ireland cùng một số quốc gia khác dẫn dắt, và ý kiến tư vấn của Tòa án Công lý Quốc tế về biến đổi khí hậu, do quốc đảo nhỏ bé Vanuatu khởi xướng, đều góp phần định hình cuộc tranh luận công chúng.

Trật tự quốc tế hậu chiến cũng từng mang lại sự cởi mở và tính dễ đoán định, cho phép các nước nhỏ tồn tại và phát triển. Trong một nền kinh tế thế giới mở, ngay cả những nước rất nhỏ cũng có thể tìm được những lĩnh vực có lợi thế so sánh để phát triển, qua đó đạt mức độ thịnh vượng trung bình thậm chí còn cao hơn nhiều nước lớn. Qatar đã đầu tư mạnh để trở thành một nhà xuất khẩu khí tự nhiên hóa lỏng, nhà đầu tư toàn cầu và trung tâm khu vực, nhưng những thành tựu đó hiện đang bị đe dọa. Được bảo vệ bởi các thể chế thương mại quốc tế, Chile đã đa dạng hóa các mối liên kết kinh tế, nhưng rồi lại phải chứng kiến mình bị Mỹ gây sức ép phải chọn phe trong cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung ngày càng gay gắt.

Một mạng lưới hàng hóa công và các chương trình toàn cầu đã giúp các nước nhỏ chuẩn bị và ứng phó với những cú sốc mà họ khó có thể tự mình giải quyết. Các hệ thống giám sát toàn cầu, thường do những cơ quan khoa học của Mỹ dẫn dắt, đã cung cấp cảnh báo sớm về các thảm họa sắp xảy ra thông qua việc theo dõi dịch bệnh, thời tiết cực đoan, các cơn bão tàn phá và cả những tảng băng trôi. Khi bi kịch xảy ra, các chính phủ và tổ chức quốc tế nhanh chóng phối hợp với các tổ chức xã hội dân sự để ứng phó. Trong các cuộc khủng hoảng tài chính, các thể chế Bretton Woods đã cung cấp cho các nước nhỏ một chiếc phao cứu sinh, cũng như vô số cơ quan phát triển khác.

Trật tự hình thành sau năm 1945 vẫn đầy rẫy sự đạo đức giả, bất bình đẳng và những gánh nặng lịch sử, hoàn toàn không phải là “thế giới tốt đẹp nhất trong mọi thế giới có thể có” theo kiểu Tiến sĩ Pangloss. Tuy nhiên, trong hơn bảy thập kỷ phát triển, trật tự đó đã tạo ra đủ mức độ ổn định, tính chính danh và an ninh để khiến thế giới trở nên an toàn hơn đối với các nước nhỏ so với bất kỳ hệ thống quốc tế nào trước đó.

NHỮNG ĐIỀU CHẮC CHẮN ĐANG BIẾN MẤT

Những điều từng được xem là chắc chắn trong trật tự hậu 1945 giờ đây gần như đã hoàn toàn biến mất. Trong bối cảnh thiếu vắng sự hợp tác quốc tế vững chắc dựa trên các quy tắc và quy trình chung, cạnh tranh giữa các siêu cường đang buộc các nước nhỏ phải chọn phe và ký kết những thỏa thuận riêng. Những thỏa thuận này có thể mang lại lợi ích và sự bảo vệ trong ngắn hạn, nhưng về lâu dài lại làm suy yếu một hệ thống từng mang đến nhiều lợi ích lớn hơn. Bằng cách hành xử như một “bá quyền săn mồi,” theo cách mô tả của Stephen M. Walt, một nước Mỹ ngày càng ngang ngược đang vứt bỏ những quy tắc và thể chế không phục vụ mục tiêu trước mắt của mình. Những xáo trộn và tính khó đoán của Trump khiến các thị trường toàn cầu biến động từng ngày, buộc các nước nhỏ phải chật vật xoay xở giữa tình trạng hỗn loạn liên miên.

Ngày nay, các nước nhỏ đang phải đối mặt với những rào cản kinh tế khổng lồ. Thuế quan trung bình của Mỹ đã tăng vọt từ dưới 3% lên 13,7%, còn một số nước thậm chí phải chịu mức thuế cao hơn nhiều, đến mức làm tê liệt thương mại. Một ví dụ là Lesotho, quốc gia có GDP bình quân đầu người chỉ khoảng 1.000 USD. Tháng 4/2025, Mỹ công bố mức thuế 50% đối với ngành công nghiệp denim của Lesotho, khiến hoạt động sản xuất bị đình trệ và người lao động, phần lớn là phụ nữ có hoàn cảnh dễ bị tổn thương, bị sa thải. Trước đây, các quốc gia chịu thiệt hại trong thương mại có thể đưa vụ việc của mình ra Tổ chức Thương mại Thế giới. Nhưng hiện nay, WTO đã bị tê liệt bởi bất đồng giữa các cường quốc cũng như các động thái của Mỹ nhằm vô hiệu hóa cơ quan giải quyết tranh chấp của tổ chức này, trong đó có việc ngăn cản bổ nhiệm các thẩm phán mới cho Cơ quan Phúc thẩm.

Ngay cả một số đổi mới trong quản trị toàn cầu vốn được ca ngợi là giúp mở rộng tính đại diện, như việc mở rộng BRICS từ năm thành viên ban đầu gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi lên 11 thành viên, cũng hàm chứa những hệ lụy đáng lo ngại đối với các nước nhỏ. Khi quyền ra quyết định chuyển dịch khỏi hệ thống chung của Liên Hiệp Quốc sang các khuôn khổ “tiểu đa phương” mang tính độc quyền, các nước nhỏ trên thực tế bị bỏ lại phía sau. Tương tự, ngoại giao cường quốc tầm trung, được những nước như Canada, Indonesia và Thổ Nhĩ Kỳ thúc đẩy nhằm theo đuổi các lợi ích chung về thương mại, công nghệ và an ninh, cũng là con dao hai lưỡi. Những liên minh này có thể tạo ra một lựa chọn thay thế cho sự thống trị của các siêu cường, nhưng vẫn có thể phớt lờ hoặc thậm chí chèn ép các nước nhỏ hơn.

Trong khi đó, các chuẩn mực toàn cầu chống hành vi xâm lược đang ở tình trạng suy yếu nhất kể từ Thế chiến II. Sau cuộc xâm lược Ukraine của Nga năm 2022 và quá trình bành trướng liên tục của Trung Quốc tại các tiền đồn quân sự trên các bãi đá và đảo ở Biển Đông, Mỹ cũng liên tục đưa ra những lời đe dọa và tiến hành các hành động quân sự mà gần như không quan tâm đến luật pháp quốc tế. Kể từ khi Trump trở lại Nhà Trắng, Mỹ đã đe dọa chủ quyền của Canada và sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc tính bất khả xâm phạm của Colombia, Mexico, Panama và Đan Mạch, thông qua những lời đe dọa nhắm vào Greenland. Mỹ đã bắt cóc một nguyên thủ quốc gia tại Venezuela và hỗ trợ tiêu diệt một nguyên thủ khác ở Iran mà không viện dẫn bất kỳ cơ sở pháp lý nào. Hỗn loạn đang lan rộng. Israel gần như không bị kiềm chế trong các chiến dịch quân sự tại Gaza và Lebanon. Ngay cả khi Pakistan tìm cách làm trung gian chấm dứt xung đột ở Iran, nước này vẫn tiếp tục tiến hành một cuộc “chiến tranh công khai” của riêng mình chống lại Afghanistan mà không vấp phải phản ứng hay hậu quả đáng kể nào từ các cường quốc.

Nhiều hàng hóa công toàn cầu mà các nước nhỏ từ lâu phụ thuộc vào giờ đây đang dần biến mất. Viện trợ phát triển chính thức đã giảm gần một phần tư trong năm 2025 và vẫn tiếp tục đi xuống khi Mỹ cùng các nhà tài trợ khác mạnh tay rút lui. Tệ hơn, Washington đã cắt giảm sâu hỗ trợ tài chính và chính trị dành cho các tổ chức quốc tế, xé toạc những gì còn sót lại của mạng lưới an toàn toàn cầu. Các quốc đảo nhỏ đang phát triển là những nước phải gánh chịu hậu quả rõ rệt nhất, khi cùng lúc đối mặt với ba mối đe dọa: thiếu hành động ứng phó với biến đổi khí hậu, các hệ thống cảnh báo bão bị suy yếu và nguồn kinh phí dành cho cứu trợ cũng như phục hồi sau thiên tai ngày càng bị cắt giảm. Trong tương lai, Mỹ, Trung Quốc và các cường quốc khác nhiều khả năng sẽ gắn các khoản vay quốc tế với tài sản thế chấp bằng hàng hóa, như được thể hiện qua thực tiễn cho vay hiện nay của Bắc Kinh và việc Mỹ giám sát ngành dầu mỏ Venezuela thời hậu Maduro. Điều này sẽ càng làm tổn hại đến quyền tự chủ của các nước nhỏ.

CÙNG NHAU VƯỢT QUA

Đối mặt với những mối đe dọa mang tính sống còn ấy, các nước nhỏ nên lưu ý lời khuyên thường được gán cho Benjamin Franklin: nếu họ không cùng nhau hợp tác, chắc chắn họ sẽ lần lượt bị hủy diệt. Trong từng vấn đề cụ thể, lợi ích của các nước nhỏ sẽ khác nhau và thậm chí có thể xung đột. Việc chấp nhận một thỏa thuận riêng với chính quyền Trump có thể nghe có vẻ an toàn và chắc chắn hơn so với việc theo đuổi một hành động tập thể đầy bất định. Nhưng các nước nhỏ có lợi ích sống còn trong việc xây dựng một thế giới được điều chỉnh bởi luật lệ, thay vì cam chịu sự cai trị của kẻ mạnh nhất. Họ nên thể hiện cam kết đối với trật tự quốc tế bằng cách gia tăng đóng góp cho các tổ chức quốc tế và bù đắp phần nào những khoản viện trợ mà Mỹ cắt giảm. Nhờ thu nhập đã tăng lên trong những thập kỷ gần đây, các nước nhỏ hoàn toàn có khả năng chi tiêu nhiều hơn.

Bằng cách hợp tác với nhau, đặc biệt thông qua các cơ chế áp dụng nguyên tắc “một quốc gia, một lá phiếu” như Liên Hiệp Quốc và các thể chế khu vực như Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á, các nước nhỏ có thể góp phần tái thiết một hệ thống quốc tế kiên cường hơn. Họ có thể tìm cách buộc Hội đồng Bảo an phải chịu trách nhiệm, chẳng hạn thông qua “sáng kiến phủ quyết,” một nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc năm 2022 do quốc gia siêu nhỏ Liechtenstein dẫn đầu, yêu cầu các thành viên thường trực phải công khai giải thích các quyết định phủ quyết của mình. Trong các cuộc đàm phán khí hậu, vốn là vấn đề sống còn đối với nhiều quốc gia, các nước nhỏ có thể liên kết để tạo ra sự hiện diện và sức ảnh hưởng vượt xa quy mô kinh tế và quân sự của họ. Trong ba thập kỷ qua, Liên minh Các Quốc gia Đảo Nhỏ, hiện gồm 39 thành viên, đã làm được chính xác điều đó bằng cách xây dựng các lập trường chung và định hình những cuộc đàm phán đa phương về khí hậu.

Các nước nhỏ cũng phải cải thiện năng lực ngoại giao. Đây không phải là nhiệm vụ dễ dàng, bởi phần lớn các nước này không có đủ nguồn lực để duy trì đại sứ quán trên toàn thế giới hoặc đủ nhân sự để tham dự mọi cuộc họp của vô số cơ quan thuộc Liên Hiệp Quốc. Vì vậy, họ phải chuyên môn hóa và đảm nhận vai trò lãnh đạo trong những lĩnh vực ngách, bao gồm việc xây dựng các liên minh tập trung vào từng vấn đề cụ thể. Chẳng hạn, Tổ chức các Quốc gia Đông Caribe, bao gồm một số quốc gia nhỏ nhất thế giới, đang gộp chung nguồn lực để có được sự đại diện tốt hơn ở nước ngoài. Mô hình này có thể được mở rộng và nhân rộng.

Ngoài ra, các nước nhỏ cần giỏi hơn trong việc phòng bị nước đôi. Tại Tây Bán cầu, nhiều quốc gia đã đối phó với việc Trump lợi dụng ưu thế của Mỹ trong hai năm qua bằng cách nhanh chóng ngả về phía Washington. Xu hướng này là điều dễ hiểu, nhưng rốt cuộc có thể trở thành một hành động tự làm suy yếu mình, bởi nó làm sâu sắc hơn sự phụ thuộc vào Mỹ và khiến khu vực dễ bị tổn thương trước những thay đổi thất thường trong tương lai của Washington. Một lựa chọn mang tính chiến lược hơn là đa dạng hóa quan hệ đối tác cả trong và ngoài khu vực, lý tưởng nhất là theo cách không thu hút quá nhiều sự chú ý của một bá quyền khó lường. Theo đuổi đa liên kết khi có thể cũng giúp các nước nhỏ gia tăng đòn bẩy và mở rộng lựa chọn. Chẳng hạn, ASEAN đã biến cạnh tranh kinh tế và địa chính trị Mỹ-Trung thành lợi thế của mình, như thể hiện qua khuôn khổ ASEAN+3, nơi các quốc gia Đông Nam Á thiết lập chương trình nghị sự cho các cuộc họp với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Dựa trên những cuộc đối thoại như vậy, ASEAN đã dẫn dắt việc thành lập Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực, đưa 15 nền kinh tế châu Á và châu Đại Dương vào hiệp định thương mại tự do lớn nhất thế giới.

Song song với đó, các nước nhỏ phải trở nên thành thạo hơn trong ngoại giao giao dịch, vun đắp quan hệ với các quốc gia hùng mạnh hơn để thúc đẩy lợi ích vật chất của mình. Ngoại giao song phương luôn tồn tại song hành với trật tự đa phương. Chính quyền Trump đã bị chỉ trích rộng rãi vì hạ thấp chủ nghĩa lý tưởng của Mỹ để đề cao “nghệ thuật đàm phán.” Nhưng những quốc gia vừa và nhỏ sở hữu vị trí chiến lược hoặc kiểm soát khả năng tiếp cận các nguồn nguyên liệu quan trọng không nên ngần ngại khai thác đòn bẩy đó, vừa để thúc đẩy những lợi ích cụ thể, vừa để lồng ghép các chuẩn mực rộng lớn hơn vào các hiệp định song phương. Trong năm qua, nhiều quốc gia không thuộc hàng cường quốc, bao gồm Argentina, Ecuador, Malaysia, Paraguay, Peru và Philippines, đã tìm hiểu hoặc ký kết các thỏa thuận khoáng sản với Mỹ. Nếu được thực hiện đúng cách, những thỏa thuận này có thể mang lại lợi ích chung mà không làm suy yếu các quy tắc quốc tế.

Điều mà Thủ tướng Canada Mark Carney gọi là “hồi kết của một màn kịch dễ chịu và khởi đầu của một thực tế khắc nghiệt” đã giáng đòn mạnh nhất vào các nước nhỏ. Sự xói mòn của trật tự quốc tế kéo theo những rủi ro ngày càng lớn. Tuy nhiên, các nước nhỏ không hề bất lực. Bằng cách hợp tác với nhau, thông qua hành động tập thể và một nền ngoại giao khôn khéo, họ vẫn có thể tiếp tục tồn tại và phát triển thịnh vượng.

Tom Long là Giáo sư Quan hệ Quốc tế tại Đại học Warwick và là tác giả cuốn A Small State’s Guide to Influence in World Politics.

Stewart Patrick là Nghiên cứu viên cấp cao và Giám đốc Chương trình Thể chế và Trật tự Toàn cầu tại Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế.