
Nguồn: Bret Stephens, “Has World War III Already Started?,” New York Times, 25/08/2026
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Ngay sau cuộc xâm lược toàn diện của Nga vào Ukraine năm 2022, tôi đã viết một bài báo với tựa đề “This Is How World War III Begins” (Đây là cách Thế chiến III bắt đầu). Hơn bốn năm sau, tôi tự hỏi mình đã đúng được bao nhiêu phần.
Lập luận của tôi dựa trên nguồn gốc của Thế chiến II, vốn không đơn thuần chỉ bắt đầu từ việc Đức xâm lược Ba Lan vào ngày 01/09/1939. Thay vào đó, cuộc chiến là sự tích tụ của các cuộc chiến và khủng hoảng cấp khu vực, bắt đầu bằng việc Nhật Bản xâm lược Mãn Châu vào năm 1931, sau đó dần dần gộp lại thành một cuộc xung đột toàn cầu duy nhất.
Sự tích tụ đó, được tiếp tay bởi những tham vọng hội tụ của các quốc gia toàn trị cùng với sự chia rẽ và dao động của các nền dân chủ, đã dẫn đến thảm họa. Thêm vào đó là một cuộc cách mạng về công nghệ và chiến thuật quân sự đã mang lại cho các chế độ độc tài lợi thế bước đầu trong tác chiến tấn công. Một lợi thế khác là thái độ sẵn sàng của họ trong việc gây ra – và chịu đựng – một mức độ tàn bạo và đau khổ mà đối thủ của họ thoạt đầu còn ngần ngại không muốn đáp trả tương đương.
Vào năm 2022, tôi nhận thấy một mô hình tương tự đang diễn ra: Nhiều thập kỷ phương Tây nhượng bộ Vladimir Putin đã mang lại cho nhà lãnh đạo cứng rắn của Nga cảm giác rằng ông có thể thoát tội trong gần như mọi chuyện. Mối quan hệ ngày càng phát triển của ông với Triều Tiên, Iran, và đặc biệt là Trung Quốc – được ghi dấu bằng cam kết về quan hệ đối tác “không giới hạn” với Bắc Kinh, được công bố vài tuần trước cuộc xâm lược Ukraine – càng giúp ông thêm sự tự tin. Sự yếu kém của Mỹ trong cuộc rút quân hỗn loạn khỏi Afghanistan chỉ sáu tháng trước đó cũng có tác động tương tự.
Nhưng Ukraine đã không, như tôi từng lo ngại, trở thành nước Pháp của năm 1940. Họ giống nước Anh hơn, sẵn sàng chiến đấu, như Churchill đã nói vào tháng 5 cùng năm đó, “bất kể con đường có dài và gian nan đến đâu.” Chính quyền Biden, dù đã do dự một cách tai hại trong việc cho phép Kyiv đưa cuộc chiến vào lãnh thổ Nga, chí ít đã giúp đảm bảo rằng Ukraine không thua. Ukraine cũng giữ được lợi thế công nghệ, tiên phong trong các thiết bị và chiến thuật đang khuyến khích việc suy nghĩ lại đáng lẽ phải có từ lâu về cách các cuộc chiến trong tương lai sẽ diễn ra.
Đó là tin tốt. Nhưng tin xấu thì còn nhiều hơn thế.
Thứ nhất, giống như trong thập niên 1930 và 1940, phạm vi xung đột đã mở rộng và đang hợp nhất.
Những thất bại trên chiến trường của Nga dường như chẳng làm sự liều lĩnh của Putin giảm đi chút nào. Ngược lại, ông còn mở rộng chiến dịch của mình, thông qua các cuộc tấn công và đe dọa gần như không che giấu nhắm vào Moldova, Ba Lan và Đức, cùng các quốc gia khác, trong khi các đồng minh chính trị của ông liên tục kêu gọi tấn công trực tiếp vào châu Âu và sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại Ukraine. Cuộc tấn công của Hamas vào Israel năm 2023 lần luowejt trở thành một cuộc chiến giữa Israel và Hezbollah, Houthi, và Iran; sau đó là một cuộc chiến giữa Iran, Mỹ, và các quốc gia Vùng Vịnh. Gần đây hơn, Ukraine đã tiến hành các cuộc tấn công tầm xa ở Biển Caspi để làm gián đoạn nguồn cung khí tài của Iran cho Nga. Và các quyết định ở một chiến trường sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết cục ở chiến trường khác: Việc tiêu hao các tên lửa đánh chặn ở Trung Đông đồng nghĩa với việc hiện có rất ít tên lửa có thể được dành ra cho Ukraine.
Thứ hai, Trục Chuyên chế (Axis of Authoritarians) đã trở thành một liên minh quân sự hoạt động ở mọi cấp độ.
Nga đang hỗ trợ Triều Tiên hiện đại hóa các lực lượng vũ trang, trong khi Bình Nhưỡng cũng đáp lại bằng cách gửi cho Moscow hàng triệu quả đạn pháo và hiện được cho là đã sẵn sàng điều thêm hàng nghìn binh sĩ sang chiến đấu cho Nga tại Ukraine. Về phần mình, Trung Quốc cung cấp cho Nga phần lớn các linh kiện điện tử được sử dụng trong máy bay không người lái và các thiết bị quân sự khác. Nga đã cung cấp cho Iran những thông tin tình báo quan trọng về mục tiêu, giúp nước này tấn công các căn cứ và tàu chiến của Mỹ ở Trung Đông. Trong trường hợp Trung Quốc tấn công Đài Loan, Bắc Kinh có thể yêu cầu chi viện từ Moscow bằng cách huy động hạm đội tàu ngầm hùng mạnh của Nga ở Thái Bình Dương, như được phân tích trong một báo cáo mới của Viện Chính sách Chiến lược Australia.
Thứ ba, phương Tây đang là một mớ hỗn độn.
Tổng thống Trump liên tục phàn nàn về sự yếu kém của các đồng minh, còn các đồng minh phàn nàn về thói bắt nạt, tính thất thường, sự non nớt, dối trá, và kém cỏi của Trump. Cả hai bên đều đúng. Đợt áp thuế mới nhất của Mỹ đối với Canada là một ví dụ điển hình: tồi tệ về mặt chính trị, tự chuốc lấy tổn hại về mặt kinh tế, và gây suy yếu về mặt chiến lược.
Tuy nhiên, không điều nào trong số đó xóa bỏ được sự thật rằng Canada, một quốc gia phụ thuộc vào thương mại với đường bờ biển dài nhất thế giới, gần như không có một lực lượng hải quân nào đáng kể, hoặc rằng quan hệ “đối tác chiến lược mới” của chính phủ nước này với Trung Quốc là vô đạo đức, thiếu khôn ngoan, và không vững chắc – trừ phi Thủ tướng Mark Carney thực sự nghĩ rằng những cơn bộc phát ngu ngốc của Trump là một mối đe dọa dài hạn nghiêm trọng hơn đối với Canada và toàn bộ thế giới tự do so với những toan tính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Thứ tư, chúng ta chưa có sự chuẩn bị đầy đủ về mặt quân sự.
Cuộc chiến chống lại Iran đã phơi bày không chỉ tình trạng thiếu hụt đạn dược, thứ đã góp phần khiến cuộc chiến phải kết thúc sớm hơn dự kiến, mà còn cho thấy Mỹ đặc biệt nhạy cảm với thương vong quân sự và nỗi đau kinh tế, từ đó mang lại cho các nhà lãnh đạo Iran một lợi thế bất đối xứng nhờ vào khả năng chấp nhận nỗi đau nhân mạng bền bỉ hơn nhiều. Cuộc chiến ở Ukraine đã chứng minh rằng ngay cả những thiết bị quân sự tinh vi nhất của Mỹ cũng đang trở nên lỗi thời nhờ vào sự xuất hiện của chiến tranh bằng máy bay không người lái có sự hỗ trợ của AI. Các xe tăng mà Mỹ và các đồng minh cung cấp cho Kyiv dưới thời chính quyền Biden “giờ đây đang nằm im, ẩn giấu trong các khu rừng và bám đầy mạng nhện,” như tờ Times đã đưa tin trong tuần này.
Thế nhưng Pete Hegseth, vị Bộ trưởng Quốc phòng bị ám ảnh bởi hormone nam giới của chúng ta, tuần trước đã quyết định loại bỏ dần một đơn vị máy bay không người lái của Quân đội, dường như chỉ vì đơn vị này được những vị tướng mà ông không thích ủng hộ. Thêm vào đó, những khó khăn của tàu sân bay USS Abraham Lincoln trong đợt triển khai dài hạn là một vụ bê bối cấp quốc gia. Nhưng chúng nên khiến chúng ta chú ý đến quy mô hạm đội hiện đang ở mức thấp chưa từng thấy trong lịch sử, và cơ sở công nghiệp đã cạn kiệt của chúng ta, vốn đang phải vật lộn để chế tạo và bảo trì các con tàu. Việc các nghị sĩ Đảng Dân chủ ngăn cản dự luật phân bổ ngân sách quốc phòng cũng chẳng giúp tình hình khá hơn chút nào.
Thứ năm, chúng ta có thể đang tiến đến bờ vực thẳm kinh tế.
Một khác biệt lớn giữa những năm 1930 và hiện tại là, không giống như lúc đó, chúng ta không ở giữa một cuộc suy thoái toàn cầu. Nhưng các dấu hiệu cảnh báo về một đợt suy thoái mạnh và đột ngột đang hiện diện khắp mọi nơi. Điều gì sẽ xảy ra nếu, hoặc khi, cơn sốt AI bắt đầu hạ nhiệt, giống như cách cơn sốt dot-com đã sụp đổ vào đầu thế kỷ này? Hoặc nếu cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Nhật Bản khiến nước này bắt đầu bán tháo trái phiếu Kho bạc Mỹ? Nhà đầu tư huyền thoại Stanley Druckenmiller gần đây đã cảnh báo trên tờ Wall Street Journal rằng các đợt mua lại trái phiếu của Bộ Tài chính Mỹ gần như chắc chắn sẽ thất bại: Cuối cùng, cái giá của khoản nợ quốc gia 40 nghìn tỷ USD sẽ được cảm nhận qua mức lãi suất tăng vọt và những rủi ro mà lãi suất đó gây ra cho mọi lĩnh vực của nền kinh tế vốn đã phụ thuộc quá lâu vào tín dụng giá rẻ.
Một cuộc suy thoái sâu rộng ở nước Mỹ, hay một cơn hoảng loạn tài chính toàn cầu, chắc chắn sẽ khiến mọi xu hướng đã đề cập trên đây càng thêm tồi tệ. Trong những thời kỳ kinh tế khó khăn, các nền dân chủ gần như luôn trở nên thận trọng và e ngại rủi ro hơn, trong khi các chế độ độc tài lại có xu hướng chấp nhận rủi ro nhiều hơn. Đó là một quy luật lịch sử đáng để nhớ lại, khi chúng ta vẫn đang mơ hồ, thiếu cảnh giác, trôi về phía cơn bão đang ngày một lớn dần.
Bret Stephens là chuyên gia bình luận của New York Times, tập trung vào chính sách đối ngoại, chính trị trong nước Mỹ, và các vấn đề văn hóa.
