
Nguồn: Michael Poznansky và Ian Easton, “China Doesn’t Need to Invade Taiwan to Control It,” Foreign Policy, 06/10/2026
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Một chiến thắng chính trị không đổ máu có thể là bài toán hóc búa hơn nhiều cho Washington.
Hiện nay đang có những cuộc tranh luận nảy lửa về việc liệu Mỹ có nên và có thể bảo vệ Đài Loan trong trường hợp hòn đảo này bị Trung Quốc tấn công quân sự hay không. Tuy nhiên, dòng sự kiện có thể diễn ra theo một cách khác, không liên quan đến một cuộc phong tỏa kịch tính hay một cuộc đổ bộ xâm lược: đó là sự chuyển hướng liên minh không dùng vũ lực, hoặc trong kịch bản tồi tệ nhất, là sự sáp nhập không đổ máu. Khi đó, một chính phủ dân cử ở Đài Bắc sẽ ký một hiệp ước thực chất là nhượng lại lãnh thổ Đài Loan cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Một chiến lược như vậy, được gọi bằng những từ ngữ mỹ miều như “thắng mà không cần đánh” hay “thống nhất trong hòa bình,” chính là kết quả mà Bắc Kinh mong muốn nhất. Còn Washington lại chưa hề chuẩn bị cho điều này.
Mối đe dọa về việc chuyển hướng liên minh hoặc sáp nhập không dùng vũ lực mang đến những trở ngại hoàn toàn khác biệt so với một cuộc xung đột quân sự công khai. Việc đảo ngược một quyết định chính trị đầu hàng tại Đài Bắc – một quyết định ngầm, bị ép buộc, nhưng lại có vẻ tự nguyện – cũng sẽ vô cùng khó khăn, theo đó đặt việc phòng ngừa lên hàng đầu. Với việc cuộc bầu cử tổng thống tiếp theo của Đài Loan sẽ diễn ra trong hơn một năm nữa, nhưng cho đến nay các ứng viên hàng đầu vẫn chưa rõ ràng, đây chính là thời điểm chín muồi để giải quyết điểm yếu này.
Nhiều chuyên gia tin rằng rất khó có khả năng Đài Bắc sẽ dễ dàng tuân theo một nỗ lực ép buộc thống nhất. Vào năm 2022, một cuộc thăm dò dư luận Đài Loan cho thấy 70,2% người được hỏi sẵn sàng bảo vệ Đài Loan nếu Trung Quốc có hành động quân sự. Một cuộc thăm dò khác chỉ ra rằng hơn 60% người Đài Loan từ 20 đến 39 tuổi tuyên bố sẵn sàng bảo vệ hòn đảo; cũng trong cuộc thăm dò đó, 72% người được hỏi ở độ tuổi 40-49 cho biết họ sẵn sàng chiến đấu. Tuy nhiên, chuyện gì sẽ xảy ra nếu lệnh chiến đấu không bao giờ được ban ra?
“Thống nhất trong hòa bình” là một cách nói tránh mà Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đặt ra trong “Thông điệp gửi Đồng bào Đài Loan” năm 1979. Đây là một cụm từ tưởng chừng vô hại nhưng lại che giấu một chiến dịch gây áp lực chính trị và tâm lý quy mô lớn do nhà nước chỉ đạo, mà ĐCSTQ hy vọng có thể dẫn đến sự sụp đổ của một nền dân chủ.
Trung Quốc từ lâu đã tuyên bố chủ quyền đối với lãnh thổ Đài Loan và liên tục tiến hành một nỗ lực toàn cầu đầy tinh vi nhằm cô lập và làm suy yếu nước láng giềng, tạo tiền đề cho một cuộc thâu tóm tiềm tàng trong tương lai. Mục tiêu khuất phục kẻ thù mà không cần chiến đấu đã thấm nhuần trong tư tưởng chiến lược của Trung Quốc.
Kịch bản cực đoan nhất sẽ là một thỏa thuận thống nhất chính thức. Tuy nhiên, nó đi kèm những rào cản rất khó vượt qua; tính đến năm 2019, quy trình này đòi hỏi sự chấp thuận của đa số áp đảo các nhà lập pháp Đài Loan, theo sau là một cuộc trưng cầu dân ý toàn dân. Dù vậy, đằng sau rào cản này lại là những kịch bản chuyển hướng từ từ hơn. Một chính phủ thân Bắc Kinh có thể làm xói mòn quan hệ đối tác an ninh của Đài Loan với Mỹ bằng cách trục xuất các huấn luyện viên quân sự, bãi bỏ các luật nghĩa vụ quân sự, và để mặc cho các hợp đồng mua bán vũ khí hết hạn. Các nhà lãnh đạo thân ĐCSTQ có thể ký những khuôn khổ kinh tế hoặc “khuôn khổ hòa bình” sâu rộng, trói buộc Đài Loan và Trung Quốc đại lục theo những cách khó có thể đảo ngược về sau.
Sự chuyển hướng liên minh hoặc sáp nhập không dùng vũ lực tuy cũng khó xảy ra, nhưng khả năng lại đang lớn dần. Trong những năm gần đây, một số chính trị gia hàng đầu Đài Loan đã công khai ủng hộ các chính sách xuyên eo biển đi theo đúng quỹ đạo mà ĐCSTQ mong muốn. Trịnh Lệ Văn – người từng ủng hộ Đài Loan độc lập, và nay là tân Chủ tịch Quốc Dân Đảng – đã đến thăm Trung Quốc vào tháng 4 và công khai kêu gọi một định hướng cởi mở hơn với Bắc Kinh. Vài tuần sau chuyến thăm, bà nói với một biên tập viên của tờ Atlantic rằng “mọi thứ đều có thể xảy ra, bởi vì chúng ta chỉ là một đại gia đình.” Trịnh đã tái khẳng định lập trường của mình trong một bài viết trên tờ Foreign Affairs với tựa đề “Đài Loan không cần phải lựa chọn.” Động thái này diễn ra sau lần xuất hiện gây tranh cãi của bà tại một sự kiện tưởng niệm vào tháng 11/2025, nhằm vinh danh Ngô Thạch – một trong những điệp viên nguy hiểm nhất của ĐCSTQ trong lịch sử hiện đại Đài Loan. Về phần mình, cựu Tổng thống Mã Anh Cửu cũng tuyên bố công khai rằng những nỗ lực tự vệ của Đài Loan là vô ích, và rằng Đài Loan nên tin tưởng Tập Cận Bình.
Đúng là những nhân vật chính trị Đài Loan như Trịnh và Mã hoàn toàn có thể đang tiến hành các cuộc giao lưu với Tập vì mục đích hòa bình và thiện chí. Nhưng vấn đề là ĐCSTQ không hề có động cơ tìm kiếm hòa bình và ổn định. Lịch sử cho thấy bất cứ điều gì núp bóng dưới dạng một sự đồng thuận xuyên eo biển được ĐCSTQ chấp thuận đều là một canh bạc nguy hiểm.
Khi người Anh chính thức trao lại quyền kiểm soát Hong Kong cho Trung Quốc vào năm 1997, ĐCSTQ đã đồng ý với mô hình “một quốc gia, hai chế độ,” cam kết trao quyền tự trị chính trị cho đặc khu này trong 50 năm. Nhưng đến đầu những năm 2020, Trung Quốc đã thực hiện một loạt các động thái, mà nổi bật là thông qua luật an ninh quốc gia nhằm tăng cường khả năng đàn áp những người bất đồng chính kiến, rồi sau đó thay đổi hệ thống bầu cử bằng cách yêu cầu “chỉ những ‘người yêu nước’ biết ‘tôn trọng’ Đảng Cộng sản Trung Quốc mới có thể tham gia tranh cử,” theo Hội đồng Quan hệ Đối ngoại.
Mối nguy không chỉ dừng lại ở một số ít các chính trị gia. Trong 5 năm qua, các vụ án gián điệp bị khởi tố tại Đài Loan đã gia tăng đột biến. Quân đội, cơ quan lập pháp, và cơ quan hành pháp của hòn đảo này đã chứng kiến số lượng các vụ gián điệp và xâm nhập nhiều đến chóng mặt, với các bị cáo đến từ cả Đảng Dân Tiến cầm quyền, lẫn phe đối lập gồm Quốc Dân Đảng và Đảng Nhân dân Đài Loan – những bên hiện đang cùng nắm giữ liên minh đa số trong cơ quan lập pháp của Đài Loan. Dù số lượng lớn các vụ khởi tố cho thấy Đài Loan có năng lực phản gián mạnh mẽ, nhưng điều đó cũng cho thấy ĐCSTQ đã rất thành công trong việc lợi dụng các lỗ hổng.
Chiêu mộ gián điệp chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Các nỗ lực chiến tranh chính trị và gây ảnh hưởng của ĐCSTQ còn bao gồm tài trợ cho các quan chức địa phương Đài Loan sang Trung Quốc để khuếch đại thông điệp ủng hộ thống nhất, sử dụng tin giả bằng công nghệ AI tinh vi nhắm vào các cuộc bầu cử, thậm chí bị cáo buộc đã trả tiền cho một số nhóm truyền thông Đài Loan để đưa tin có lợi cho ĐCSTQ. Khi xét riêng lẻ, không có chiến thuật nào trong số này đủ sức dẫn đến kết quả mang tính quyết định. Đúng hơn là chúng nhắm đến mục đích đánh bóng hình ảnh của Trung Quốc, làm suy giảm niềm tin vào Mỹ, và bào mòn niềm tin vào tinh thần kháng cự bền bỉ.
Xét đến quy mô chưa từng có của các chiến dịch gây ảnh hưởng ngầm và can thiệp chính trị của ĐCSTQ, Đài Loan luôn phải đối mặt với khả năng một ứng viên đắc cử sẽ ngả về phe Bắc Kinh sau kỳ bầu cử toàn quốc. Người ta hoàn toàn có thể hình dung ra cảnh người dân Đài Loan bầu ra một nhà lãnh đạo bị ĐCSTQ bí mật điều khiển, hay đơn giản chỉ là một người theo đuổi việc chuyển hướng chiến lược về phía Trung Quốc với hy vọng ngăn chặn một cuộc đụng độ quân sự. Dù không thể phủ nhận khả năng là việc bầu ra một chính phủ cực kỳ thân Bắc Kinh nhưng không thể xóa bỏ hệ thống dân chủ của Đài Loan sẽ mở đường cho một chính phủ thân Mỹ hơn trong các kỳ bầu cử tiếp theo, nhưng nếu chúng ta chỉ trông chờ vào kết quả đó thì sẽ vô cùng rủi ro.
Việc chuyển hướng liên minh hoặc sáp nhập không dùng vũ lực thoạt nhìn có vẻ như sẽ giải quyết được một số vấn đề hóc búa cho Washington. Rõ nhất là nó sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách Mỹ không phải chuẩn bị cho một cuộc chiến tốn kém với Trung Quốc. Hơn nữa, một số người có thể lập luận rằng chính sách chính thức của Mỹ là chấp nhận bất kỳ kết quả bầu cử nào phản ánh ý chí của người dân Đài Loan, nghĩa là về cơ bản đã trói tay Washington. Thế nhưng, cả hai lập luận này đều không đứng vững khi được xem xét kỹ lưỡng.
Trước tiên, dù Đạo luật Quan hệ Đài Loan năm 1979 thực sự dựa trên “kỳ vọng rằng tương lai của Đài Loan sẽ được quyết định bằng các biện pháp hòa bình,” nhưng nó cũng yêu cầu Mỹ phải “duy trì năng lực … để chống lại bất kỳ hình thức sử dụng vũ lực hay các hình thức cưỡng ép nào khác có thể gây nguy hiểm cho an ninh, hoặc hệ thống xã hội hay kinh tế, của người dân trên đảo Đài Loan.” Do đó, về mặt lý thuyết, Washington có khả năng bị ràng buộc về chính sách để phản đối việc khuất phục Đài Loan thông qua việc theo đuổi cái gọi là thống nhất trong hòa bình – một tiến trình chắc chắn sẽ diễn ra trong một môi trường bị cưỡng ép dữ dội.
Trên thực tế, cái khó thường nằm ở những chi tiết nhỏ nhất. Một hành động cưỡng ép rõ ràng đối với công chúng Đài Loan, như khi ĐCSTQ đưa ra một tối hậu thư dứt khoát giữa đầu hàng và chiến tranh, sẽ hoàn toàn nằm trong loại hình cưỡng ép mà Đạo luật Quan hệ Đài Loan quy định. Tương tự là hành động cưỡng ép các nhân vật chính trị cá nhân thông qua các thủ đoạn như đe dọa pháp lý, tống tiền, hoặc hối lộ – nếu có thể dễ dàng chứng minh điều đó. Tuy nhiên, tình hình sẽ khó hơn đáng kể nếu việc chuyển hướng liên minh xảy ra trong bối cảnh một quyết định có vẻ mang tính dân chủ, ngay cả khi nó là kết quả của nhiều năm thao túng và chiến tranh chính trị. Ngay cả khi Mỹ có thể thu thập được bằng chứng thuyết phục về sự can thiệp [của Trung Quốc], nước này vẫn có thể bị cáo buộc là đã can thiệp vào tiến trình dân chủ.
Tạm gác lại các vấn đề về nghĩa vụ pháp lý, sự chuyển hướng liên minh hay sáp nhập không dùng vũ lực về mặt kỹ thuật sẽ giải phóng Mỹ khỏi việc phải đắn đo xem có nên đối đầu quân sự với Trung Quốc hay không – nhưng thiệt hại về mặt chiến lược là rất lớn. Washington sẽ mất đi một đối tác nhỏ nhưng đầy sức mạnh, đồng thời là một trụ cột trong cấu trúc an ninh hậu chiến của Mỹ ở Thái Bình Dương.
Nếu Tập đạt được mục tiêu của mình mà không tốn một viên đạn nào, điều đó sẽ tước đi của Mỹ một cơ sở chính đáng để dùng sức mạnh quân sự để chống lại việc Đài Loan chuyển hướng sang phía Trung Quốc, hay sáp nhập vào quốc gia này. Đây là một trong những thách thức lớn nhất mà chiến thuật thắng mà không cần đánh đặt ra. Do những cam kết của Mỹ về chủ quyền và quyền tự quyết, các nhà lãnh đạo sẽ rất khó có thể dùng vũ lực để đảo ngược ý nguyện của người dân Đài Loan, ngay cả khi sự lựa chọn đó là kết quả của chiến tranh chính trị.
Thế nhưng, tổn thất sẽ là vô cùng lớn. Nếu nền dân chủ Đài Loan kết thúc trong im ắng thay vì giữa những tiếng thét xung trận, quân đội Trung Quốc sẽ được bảo toàn. Trung Quốc sẽ không cần phải triển khai một lực lượng đồn trú lớn hay tiến hành các chiến dịch bình định tốn kém, qua đó giải phóng quân đội của mình để thực hiện các chiến dịch toàn cầu ở thế thượng phong. Thêm vào đó, đại lục còn có thể chiếm trọn hệ sinh thái chip đẳng cấp thế giới của Đài Loan.
Dù tình hình của Đài Loan rất đặc thù, nhưng lịch sử đã đưa ra manh mối về những khó khăn mà Washington sẽ phải đối mặt khi đứng trước sự thay đổi liên minh chiến lược (trên thực tế hoặc trong lo sợ) của các đồng minh và đối tác mà không có bất kỳ hành động vũ lực nào từ đối thủ. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, người Mỹ đã nhận ra rằng rất khó để ngăn chặn việc bầu lên các nhà lãnh đạo cánh tả – bao gồm cả những người sẵn sàng bán đứng nền dân chủ của chính họ cho Moscow – mà không phải gánh chịu hậu quả phản tác dụng. Điều này khiến các nhà hoạch định chính sách có rất ít lựa chọn, và phần lớn đều là các lựa chọn ngầm.
Trong một số trường hợp, Mỹ đã giúp bảo vệ nền dân chủ. Trong cuộc bầu cử ở Ý năm 1948, các nhà hoạch định chính sách Mỹ lo sợ rằng những chiến thắng vang dội của các chính trị gia cộng sản sẽ mang lại cho Liên Xô một tiền đồn chiến lược ở ngay trung tâm châu Âu. Một báo cáo của Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ thời bấy giờ cảnh báo rằng sự trỗi dậy của Khối Nhân dân sẽ tạo điều kiện cho “một mô hình quen thuộc ở Đông Âu,” cụ thể là cho phép những người cộng sản “kiểm soát hoàn toàn chính phủ và biến Ý thành một nhà nước toàn trị phục tùng Moscow.” Nhằm ngăn chặn điều này, CIA đã bí mật cung cấp hỗ trợ cho các chính trị gia và đảng phái phi cộng sản. Chính phủ Mỹ tiếp tục âm thầm tài trợ cho các chính trị gia trung dung và các tổ chức lao động ở Ý cho đến đầu những năm 1960.
Trong các trường hợp khác, như Chile vào thập niên 1960 và 1970, những nỗ lực của Mỹ lại rẽ sang một hướng đen tối hơn. Suốt nhiều năm, Lyndon Johnson, và sau này là Richard Nixon, đã cố gắng âm thầm làm suy giảm triển vọng đắc cử của nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa Marx Salvador Allende. Khi nhận ra vào mùa thu năm 1970 rằng Allende có thể giành chức tổng thống, CIA đã cố gắng dàn dựng một cuộc đảo chính nhưng thất bại. Trong nhiều năm sau đó, Mỹ đã tiến hành một chiến dịch chiến tranh kinh tế ngầm và âm mưu đảo chính cho đến khi Allende bị lật đổ vào năm 1973. Sau đó, nhà độc tài tàn bạo Augusto Pinochet đã lên nắm quyền. Việc phơi bày chiến dịch này, cùng hàng loạt chiến dịch ngầm khác trong giai đoạn đó, đã tạo ra một vụ bê bối dẫn đến một cuộc cải tổ tình báo sâu rộng.
Trung Quốc đã cho thấy họ sẽ không ngần ngại sử dụng mọi công cụ mình có trong tay, bao gồm các liên kết kinh tế, giao lưu văn hóa, và thậm chí là việc phong tỏa vaccine theo các cáo buộc, để làm suy yếu chính phủ Đài Loan. Chiến thuật thắng mà không cần đánh lại càng đặc biệt hấp dẫn nếu cán cân quân sự tiếp tục khiến Tập đối mặt với viễn cảnh một cuộc chiến vô cùng khó lường. Trong khi đó, Mỹ lại đang thiếu một kế hoạch rõ ràng về việc phải làm gì nếu cách tiếp cận này tạo ra một sự chuyển hướng liên minh chiến lược quan trọng hay khả năng sáp nhập.
Các nhà hoạch định và chiến lược gia Mỹ nên làm nhiều hơn nữa để chuẩn bị cho tình huống xấu nhất, bằng cách sử dụng mọi công cụ sức mạnh quốc gia mà họ có. Điều đó bắt đầu bằng việc xem xét lại và củng cố chính sách với Đài Loan. Dù các chiến thuật thời Chiến tranh Lạnh nhằm âm thầm phá hoại bất kỳ chế độ thân ĐCSTQ nào ở Đài Bắc trong tương lai có thể giúp che đậy sự vi phạm trắng trợn các chuẩn mực chủ quyền, nhưng chúng rất có thể sẽ bị phơi bày và trao cho Bắc Kinh một cái cớ để đàn áp khắc nghiệt hơn. Trong khi đó, các nỗ lực công khai nhằm đảo ngược tình thế hiện tại có thể gây leo thang căng thẳng và tạo ra sự phẫn nộ ở địa phương.
Vì các lựa chọn hậu chuyển hướng liên minh đều tiềm ẩn nhiều rủi ro, Washington phải chủ động xây dựng một chiến lược để củng cố quan hệ với Đài Loan. Chỉ bán vũ khí thôi là không đủ. Cần đầu tư vào ngoại giao công chúng; chống lại chiến dịch chiến tranh chính trị của Trung Quốc; hỗ trợ Đài Loan về mặt phản gián để vạch trần hoạt động của mặt trận thống nhất; và cung cấp sự trấn an mạnh mẽ là tất cả những điều cần phải được ưu tiên để đảm bảo rằng kịch bản thắng mà không cần đánh của Trung Quốc sẽ không bao giờ xảy ra.
Michael Poznansky là học giả cấp cao thuộc chương trình chính sách đối ngoại tại Viện Brookings.
Ian Easton là học giả cấp cao tại Viện An ninh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.