Liên Hiệp Quốc (United Nations)

Print Friendly, PDF & Email

United Nations Nominates Next Secretary-General

Tác giả: Nguyễn Thị Tâm

Liên Hiệp Quốc được thành lập trên cơ sở của tổ chức tiền thân là Hội Quốc Liên. Tên gọi “Liên Hiệp Quốc” (United Nations) được Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt sáng tạo ra và được chính thức lựa chọn vào ngày 1 tháng 1 năm 1942 khi 26 quốc gia thông qua Hiến chương Đại Tây Dương, cam kết thúc đẩy những nỗ lực chiến tranh chống lại chủ nghĩa phát xít. Vào năm 1944, đại diện của các cường quốc Liên Xô, Mỹ, Anh và Trung Quốc gặp tại Dumbarton Oaks (Mỹ) để soạn thảo những bản kiến nghị cho sự ra đời của tổ chức mới này. Vào năm 1945, 51 quốc gia nhóm họp tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc ở San Francisco để đàm phán về những quy định của Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Ngày 24 tháng 10 năm 1945, Liên Hiệp Quốc chính thức được thành lập, với trụ sở chính đóng ở thành phố New York. Hiện nay, Liên Hiệp Quốc có 192 thành viên, bao gồm phần lớn các quốc gia được thế giới công nhận. Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc từ ngày 20/9/1977.

Liên Hiệp Quốc có ba mục tiêu chính: gìn giữ hòa bình thế giới, thúc đẩy những mối quan hệ thân thiết giữa các quốc gia, hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hóa và con người song song với việc thúc đẩy tôn trọng nhân quyền và quyền tự do thiết yếu. Liên Hiệp Quốc có sáu cơ quan chính, bao gồm: Đại Hội đồng, Hội đồng Bảo an, Hội đồng Kinh tế và Xã hội, Ban Thư kí, Tòa án Quốc tế vì Công lý và  Hội đồng Quản thác.

Ngoài ra, Liên Hiệp Quốc còn có những tổ chức chuyên trách khác, tiêu biểu như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ Chức Y tế Thế giới (WHO), Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO), Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên Hiệp Quốc (UNESCO), Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về Người tị nạn (UNHCR), Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), hay Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP)…. Nhân vật đại diện tiêu biểu nhất của Liên Hiệp Quốc là Tổng Thư ký, vị  trí hiện đang được đảm nhiệm bởi ông Ban Ki-moon người Hàn Quốc.

Nơi duy nhất tất cả các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc nhóm họp là Đại Hội đồng. Tại đây, đại diện của các quốc gia thành viên nhóm họp mỗi năm để bàn luận những vấn đề của thế giới. Đại Hội đồng có thể thảo luận bất kỳ những vấn đề nào mà nó lựa chọn, thông qua các vấn đề quan trọng khi có 2/3 số thành viên đồng thuận, giúp bầu chọn thành viên của các cơ quan khác của Liên Hiệp Quốc, và bỏ phiếu cho vấn đề ngân sách

Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ
Tại Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc năm 2000, 189 quốc gia thành viên nhất trí thông qua Tuyên bố Thiên niên kỷ và cam kết đạt được tám Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) vào năm 2015. Đây là sự đồng thuận chưa từng có của các nhà lãnh đạo trên thế giới về những thách thức quan trọng toàn cầu trong thế kỷ 21 cũng như cam kết chung về việc giải quyết những thách thức này. Các mục tiêu này bao gồm:

  • Chấm dứt đói nghèo
  • Phổ cập giáo dục toàn cầu
  • Bình đẳng giới
  • Sức khỏe cho trẻ em
  • Sức khỏe cho bà mẹ
  • Chống lại HIV/AIDS
  • Cân bằng môi trường
  • Hợp tác toàn cầu

của tổ chức này. Mặc dù vậy ảnh hưởng của Đại Hội đồng đối với chính trị quốc tế không thực sự lớn. Phần lớn công việc của Đại Hội đồng được thực hiện ở sáu ủy ban:

  • Ủy ban 1: những vấn đề liên quan đến giải giáp vũ khí, sử dụng không gian vũ trụ và các vấn đề về an ninh và chính trị;
  • Ủy ban 2: các vấn đề về kinh tế và tài chính;
  • Ủy ban 3: các vấn đề về xã hội, nhân đạo, và văn hóa;
  • Ủy ban 4: các vấn đề thuộc địa
  • Ủy ban 5: các vấn đề về quản trị và ngân sách
  • Ủy ban 6: các vấn đề pháp lý

Ngoài Đại Hội đồng, Hội đồng Bảo an là cơ quan quan trọng nhất của Liên Hiệp Quốc, đặc biệt là trong việc thực hiện những mục tiêu chính của tổ chức này. Cơ quan này luôn sẵn sàng nhóm họp bất cứ lúc nào khi hòa bình và an ninh thế giới bị đe dọa. Hội đồng Bảo an có 15 thành viên, trong đó 5 thành viên thường trực (Pháp, Trung Quốc, Mỹ, Anh, và Nga), và 10 thành viên không thường trực được bầu theo nhiệm kỳ 2 năm từ các nhóm quốc gia thuộc các khu: Châu Phi, Châu Á, Đông Âu, Mỹ Latinh, Tây Âu, và Châu Đại Dương. Nhóm 5 thành viên thường trực có quyền phủ quyết các quyết định của Hội đồng Bảo an.

Trong vòng nửa thế kỷ qua, Liên Hiệp Quốc đã có một lịch sử thăng trầm. Trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh, Liên Hiệp Quốc không giữ được vai trò chủ đạo trong việc gìn giữ hoà bình và an ninh thế giới bởi việc sử dụng thường xuyên quyền phủ quyết của các cường quốc là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an. Tuy nhiên, Liên Hiệp Quốc đã theo dõi và ủng hộ quá trình phi thực dân hóa, từ đó làm tăng nhanh chóng số lượng các nước thành viên của tổ chức này trong những năm 1950 và 1960. Liên Hiệp Quốc cũng đã phát triển được vai trò gìn giữ hòa bình nhằm ngăn chặn việc các cường quốc can thiệp vào các cuộc xung đột vốn có thể phát triển thành các cuộc đối đầu trực tiếp giữa các cường quốc với nhau.

Các Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc
– Trygve Lie, Na Uy, nhậm chức ngày 2/2/1946

– Dag Hammarskjold, Thụy Điển, nhậm chức ngày 10/4/1953

– U Thant, Mianma, nhậm chức ngày 3/11/1961

– Kurt Waldheim, Áo, nhậm chức ngày 22/12/1971

– Javier Perez De Cuillar, Pê-ru, nhậm chức ngày 15/12/1981

– Boutros Boutros Ghali, Ai Cập, nhậm chức ngày 1/1/1992

– Kofi Annan, Ghana, nhậm chức ngày 1/1/1997

– Ban Ki-moon, Hàn Quốc, nhậm chức ngày 1/1/2007

Từ 1988 đến 1992 là giai đoạn Liên Hiệp Quốc hoạt động khá thành công, mặc dù thành công đó là một kết quả trực tiếp của việc Chiến tranh Lạnh kết thúc. Việc đe dọa sử dụng quyền phủ quyết của các cường quốc không còn tạo ra sự bế tắc hay những nhượng bộ không có hiệu lực. Liên Hiệp Quốc trở nên được biết đến nhiều nhất, đặc biệt ở Mỹ, sau cuộc Chiến tranh vùng Vịnh vào năm 1991 khi thông qua thành công quyết định chống lại Iraq xâm lược và sát nhập Kuwait. Thành công này đã được phát triển thêm bởi một loạt các nổ lực trung gian hòa giải có vẻ như thành công của Liên Hiệp Quốc từ năm 1988 đến 1990 liên quan đến các cuộc xung đột khu vực kéo dài như chiến tranh Iran – Iraq, xung đột ở Afghanistan, Campuchia, Namibia, và El Salvador. Chuỗi thành công này đã tạo nên uy tín tạm thời cho Liên Hiệp Quốc, đáp ứng được sự mong đợi của cái mà Tổng thống Mỹ George H. Bush gọi là một “trật tự thế giới mới”. Theo đó, thế giới sẽ được điều chỉnh bởi luật pháp quốc tế, và hòa bình sẽ được gìn giữ bởi một tổ chức Liên Hiệp Quốc vững mạnh và ngày càng giành được niềm tin từ công chúng.

Chỉ trong một vài năm, con số các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc đã tăng gấp đôi, gần đến 20, và chi tiêu cho hoạt động này tăng gấp bốn lần, đạt đến 4 tỷ đô la Mỹ, và số binh lính gìn giữ hòa bình được triển khai trên toàn thế giới tăng vọt lên 80.000 người. Cho tới năm 1993, hàng chục ngàn lính mũ nồi xanh đã giúp cứu vãn và duy trì hòa bình ở nhiều khu vực trải dài từ Kuwait và Somalia cho tới Bosnia và khu vực Hồ Lớn ở Trung Phi.

Tuy nhiên, chỉ trong vòng vài tháng sau khi nhận chức, Chính quyền Clinton đã biến Liên Hiệp Quốc trở thành một tổ chức thất bại. Một chiến dịch quân sự không được tổ chức tốt ở Mogadishu, thủ đô của Somalia đã làm cho 18 lĩnh Mỹ tử trận. Mặc dù chiến dịch quân sự này được tổ chức bởi một mình quân đội Mỹ và không liên quan đến Liên Hiệp Quốc nhưng Tổng thống Clinton và Quốc hội Mỹ đã chỉ trích kịch liệt vai trò của Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc lúc bấy giờ là Boutros Boutros-Ghali. Sự thất bại của Lực lượng Gìn giữ Hòa bình của Liên Hiệp Quốc ở Bosnia cũng góp phần làm tăng thêm sự thất vọng của Mỹ đối với tổ chức này.

Theo đó, chính sách của Mỹ đối với Liên Hiệp Quốc đã có 2 sự thay đổi lớn. Thứ nhất, vào tháng 5 năm 1994, chính quyền Clinton đã áp dụng những quy tắc mới hạn chế việc Mỹ ủng hộ các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc. Thứ hai, Quốc hội Mỹ ngày càng lưỡng lự trong việc đóng góp cho những khoản chi phí ngày càng cao của các chiến dịch gìn giữ hoà bình lớn của Liên Hiệp Quốc, đặc biệt khi Washington chịu trách nhiệm chi trả tới 31% tổng những chi phí đó. Thay vì đóng góp đầy đủ cho Liên Hiệp Quốc, Quốc hội Mỹ đã trì hoãn và chỉ chi trả một phần nhỏ. Vì vậy, số nợ của Mỹ đối với Liên Hiệp Quốc ngày càng tăng cao trong những năm 1990. Vào năm 1999, Quốc hội Mỹ cuối cùng cũng đồng ý bắt đầu chi trả khoản nợ của mình. Điều này phản ánh sự thất bại của Liên Hiệp Quốc trong việc nối dài sự thành công của mình trong giai đoạn hậu Chiến tranh Lạnh.

Có ba lý do chính giải thích cho sự đi xuống của Liên Hiệp Quốc trong những năm 1990s. Thứ nhất, các hình thức chiến tranh đã thay đổi. Hiến chương Liên Hiệp Quốc được xây dựng dựa trên nguyên tắc chủ quyền và không can thiệp vào các vấn đề nội bộ của các quốc gia. Liên Hiệp Quốc đã không thể phản ứng lại một cách có hiệu quả đối với các cuộc xung đột vũ trang không được xác định rõ là xung đột quốc tế hay nội chiến. Thứ hai, mặc dù Chiến tranh Lạnh đã kết thúc, Liên Hiệp Quốc chỉ có thể vận hành có hiệu quả nếu như nhận được sự ủng hộ của các thành viên, đặc biệt là nhóm năm nước thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an. Liên Hiệp Quốc không có lực lượng quân đội riêng, và vì thế phụ thuộc vào các quốc gia thành viên trong việc đóng góp lực lượng theo kiến nghị của Tổng Thư ký. Liên Hiệp Quốc phản ứng rất chậm đối với các cuộc khủng hoảng và không thể can thiệp ở những khu vực được xem là thuộc phạm vi ảnh hưởng của của năm nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an. Thứ ba, Liên Hiệp Quốc được chi trả bởi các nước thành viên, đặc biệt là nhóm năm nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an. Điều này giúp cho các nước này có thể sử dụng sức mạnh tài chính để đạt được lợi ích quốc gia của mình ở trong khuôn khổ Liên Hiệp Quốc.

Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều cuộc bàn luận về việc làm thế nào để cải cách Liên Hiệp Quốc. Vào tháng 4 năm 2005, Tổng Thư ký Kofi Annan đã đưa ra bản kiến nghị về cải tổ Liên Hiệp Quốc, kêu gọi gia tăng số thành viên Hội đồng Bảo an từ 15 lên 25, và thành lập một Hội đồng Nhân đạo mới. Bản kiến nghị của Annan cũng kêu gọi gia tăng số thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an từ 5 lên 7 để phản ánh sự chuyển đổi cán cân quyền lực trong nền chính trị thế giới những năm qua. Nhiều nhà bình luận cho rằng Nhật Bản, Đức và Ấn Độ xứng đáng có vị trí cao hơn trong Hội đồng Bảo an. Ngoài ra, tranh luận cũng nổ ra quanh việc liệu có nên và làm cách nào để cung cấp thêm cho Liên Hiệp Quốc các công cụ tài chính và quân sự để phản ứng lại những cuộc khủng hoảng thuộc phạm vi xử lý của tổ chức này. Nếu không được cải tổ, Liên Hiệp Quốc sẽ tiếp tục khó có thể đáp ứng được kỳ vọng của công chúng và các quốc gia. Nếu vậy đây sẽ là điều không đáng trông đợi vì Liên Hiệp Quốc hiện vẫn có thể coi là tổ chức quốc tế duy nhất đảm nhiệm sứ mạng quản trị toàn cầu.

Nguồn: Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (chủ biên), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế, (TPHCM: Khoa QHQT – Đại học KHXH&NV TPHCM, 2013).

This entry was posted in Nhập môn QHQT, Thuật ngữ QHQT and tagged , . Bookmark the permalink.