Những trụ cột của hòa bình toàn cầu đang sụp đổ

Nguồn: Thant Myint-U, “The Crumbling Pillars of Global Peace,” Foreign Affairs, 21/05/2026

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Chiến tranh, đế quốc, và quyền lực bị lãng quên của Liên Hiệp Quốc

Nền hòa bình kéo dài trong tám thập kỷ qua đã dựa trên hai niềm tin mang tính cách mạng: chiến tranh xâm lược là không thể dung thứ và thời đại đế quốc phải chấm dứt. Nguyên tắc đầu tiên nảy sinh từ cuộc tàn sát của hai cuộc thế chiến, cướp đi sinh mạng của một trăm triệu người. Nguyên tắc thứ hai đến từ nhiều thế kỷ bị ách thuộc địa khuất phục và cuộc đấu tranh giành quyền tự quyết trên khắp châu Á, châu Phi, và Mỹ Latinh. Hiến chương Liên Hiệp Quốc – được ký tại San Francisco vào tháng 06/1945 – đã tạo ra hình thức chính trị cho cả hai niềm tin này.

Kể từ đó đến nay, thế giới đã tránh được một cuộc chiến tàn khốc giữa các cường quốc. Đáng chú ý hơn, các đế quốc toàn cầu bắt nguồn từ châu Âu đã bị xóa bỏ và được thay thế bằng một hệ thống mới gồm gần 200 quốc gia có chủ quyền. Cả hai thành tựu này kết hợp lại đã dẫn đến những tiến bộ phi thường về phúc lợi cho nhân loại. Chắc chắn là thế giới đã chứng kiến nhiều cuộc xung đột kể từ khi Thế chiến II kết thúc, bao gồm cả những cuộc chiến độc lập khốc liệt, và tăng trưởng kinh tế nhảy vọt đã đi kèm với những bất bình đẳng sâu rộng và sự tàn phá môi trường. Nhưng có một điều không thể chối cãi là đối với hàng tỷ người, 80 năm qua là khoảng thời gian của hòa bình và thịnh vượng.

Nhưng kỷ nguyên đó đang đi đến hồi kết. Hai niềm tin song hành là không có chiến tranh và không có đế quốc – những bức tường chịu lực của nền hòa bình lâu dài – đang đổ vỡ nhanh chóng. Các triệu chứng rất rõ ràng. Chiến tranh giữa các quốc gia và nội chiến xuất hiện ồ ạt trong những năm gần đây, gây khổ đau khôn lường cho hàng trăm triệu người. Bản thân các cường quốc cũng liên tục phát động chiến tranh xâm lược, bao gồm cuộc xâm lược Ukraine của Nga và cuộc chiến của liên quân Mỹ-Israel chống lại Iran. Các cường quốc hạt nhân đang hiện đại hóa và mở rộng kho vũ khí của họ, các hiệp định kiểm soát vũ khí chiến lược đã hết hiệu lực, các cơ sở hạt nhân đã bị tấn công quân sự trực tiếp trong những năm gần đây, và các quốc gia lớn nhỏ đang tự vũ trang với tốc độ chưa từng thấy kể từ những năm 1980. Ở Ukraine, Palestine, Sudan, và nay là Iran, ngoại giao chỉ xuất hiện dưới hình thức yếu ớt hoặc chắp vá nhất. Và trong lúc xung đột lan rộng, nỗ lực kiến tạo hòa bình của Liên Hiệp Quốc lại hoàn toàn vắng bóng.

Lời giải thích tiêu chuẩn cho cuộc khủng hoảng đang diễn ra là sự sụp đổ của cái gọi là trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, hoặc trật tự quốc tế tự do, một dàn xếp thời hậu Chiến tranh Lạnh gắn liền với uy thế quân sự và tài chính của Mỹ. Việc Washington rút lui khỏi các liên minh và thể chế đa phương như NATO và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đồng nghĩa với việc trật tự này thực sự đang tan vỡ. Nhưng phân tích này đã đánh đồng hai điều rất khác nhau. Trật tự quốc tế tự do không phải là thứ tạo ra nền hòa bình lâu dài. Thay vào đó, và ở những khía cạnh quan trọng, nó đã làm suy yếu hai niềm tin vốn là nền tảng thực sự của nền hòa bình này.

Thảm họa thực sự là việc các quốc gia và công chúng của họ từ bỏ hai niềm tin về không có chiến tranh và không có đế quốc; và nguyên nhân không phải do sự rút lui của Mỹ mà do sự xói mòn của vai trò lãnh đạo đạo đức quốc tế và ký ức tập thể từng duy trì những niềm tin đó. Nó là một cuộc khủng hoảng của trí tưởng tượng sinh ra từ một hội chứng mất trí nhớ phức hợp, không chỉ về chiến tranh và đế quốc, mà còn về những thành công kiến tạo hòa bình phi thường của Liên Hiệp Quốc trước đây. Khôi phục lại lịch sử đã mất đó và xây dựng lại nền chính trị (và chỉ sau đó mới là các thể chế) từng đặt hai niềm tin này làm trung tâm của tư duy toàn cầu là những bước đi đầu tiên thiết yếu hướng tới một trật tự toàn cầu mới, hòa bình hơn.

Lịch sử đã mất này càng trở nên quan trọng hơn bởi vì thế giới đang trỗi dậy – nơi không một cường quốc đơn lẻ nào có thể tổ chức nền chính trị quốc tế theo sở thích riêng của mình – giống với thế giới của Liên Hiệp Quốc thời kỳ đầu (từ khoảng năm 1955 đến năm 1990) hơn là thế giới trong ba thập kỷ rưỡi qua dưới sự thống trị của Mỹ. Cuộc chiến gần đây của Mỹ-Israel chống lại Iran có thể là điềm báo cho các cuộc xung đột trong tương lai, một kiểu chiến tranh giữa các quốc gia mà trong đó một hoặc nhiều bên sẽ cần đến thứ mà ngày nay thường được gọi là “lối thoát.” Trong quá khứ, chính xác là khi các bên tham chiến dần kiệt sức hoặc cảnh giác với sự leo thang nhưng không thể tìm thấy lối thoát sẵn có, thì các Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc đã chứng tỏ vai trò không thể thiếu của mình, hết lần này đến lần khác, tạo ra không chỉ đơn thuần là một lối thoát mà là một lối thoát bảo vệ hòa bình trong tương lai bằng cách củng cố điều cấm kỵ đối với chiến tranh xâm lược và mệnh lệnh rằng thời đại của các đế quốc không được phép quay trở lại.

Liên Hiệp Quốc có thể được xây dựng lại. Điều cần thiết không chỉ là một sự sửa chữa về mặt thể chế (như việc cải cách tư cách thành viên Hội đồng Bảo an) mà quan trọng hơn là sự phục hồi của hai niềm tin: thông qua một ban lãnh đạo chính trị sẵn sàng bảo vệ chúng, một tân Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc sẽ chứng minh chúng bằng hành động, và một công chúng toàn cầu kiên định đòi hỏi một thế giới không có chiến tranh hay đế quốc. Nỗ lực kiến tạo hòa bình của Liên Hiệp Quốc trong quá khứ có thể được thực hiện không phải vì các thể chế đã hoàn hảo – chúng chưa bao giờ hoàn hảo – mà vì những niềm tin thổi hồn cho các thể chế đó vẫn còn sức sống chính trị, được bảo vệ và thúc đẩy bởi các quốc gia và các dân tộc quyết tâm giữ chúng ở trung tâm của quan hệ quốc tế.

MỘT THẾ GIỚI ĐƯỢC TẠO LẬP LẠI

Liên Hiệp Quốc không ra đời như một dự án tự do. Ban đầu, nó được thai nghén như một sự tiếp nối mạnh mẽ của liên minh thời chiến, một cơ chế an ninh tập thể sẽ nghiền nát mọi cuộc xâm lược trong tương lai, với các máy bay ném bom của Mỹ và Liên Xô hoạt động chung từ các căn cứ không quân trên toàn cầu. Nhưng những tầm nhìn khác, cởi mở hơn về Liên Hiệp Quốc lại phác họa nó như một tổ chức sẽ bao gồm tiếng nói của các quốc gia nhỏ hơn đang cùng nhau hợp tác hướng tới một thế giới tốt đẹp hơn. Bản hiến chương thể hiện một sự thỏa hiệp. Vào thời điểm nó được ký 81 năm trước, Washington và Moscow đã bắt đầu dè chừng nhau như những đối thủ và muốn đảm bảo rằng Liên Hiệp Quốc trước hết sẽ ngăn chặn Thế chiến III. Năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an – Trung Quốc, Pháp, Liên Xô, Anh, và Mỹ – mỗi nước đều được trao quyền phủ quyết để đảm bảo rằng tổ chức này không bao giờ có thể trở thành một liên minh chống lại bất kỳ ai trong số họ. Các thành viên hy vọng rằng bằng cách giữ mọi người trong cùng một hệ thống, ngay cả với cái giá phải trả là sự tê liệt, thì những động lực đã dẫn đến sự sụp đổ của nỗ lực kiến tạo tổ chức hòa bình quốc tế yểu mệnh trước đó, Hội Quốc Liên, sẽ không lặp lại.

Hội đồng Bảo an sớm rơi vào bế tắc, chẳng hạn như thất bại trong việc ngăn chặn chiến tranh ở Triều Tiên. Nhưng nhìn chung, Liên Hiệp Quốc đã nhanh chóng phát triển khi các tổng thư ký trở thành những nhà hòa giải hàng đầu của thế giới. Trong cuộc khủng hoảng Kênh đào Suez năm 1956, Tổng Thư ký người Thụy Điển Dag Hammarskjöld đã triển khai lực lượng gìn giữ hòa bình đầu tiên của Liên Hiệp Quốc, gần như chỉ sau một đêm, như một cách để cung cấp cho Pháp, Israel, và Anh một lối thoát giữ thể diện khỏi cuộc xâm lược Ai Cập đáng hổ thẹn của họ. Liên Hiệp Quốc như một công cụ của niềm tin đầu tiên, rằng các cuộc chiến xâm lược là không thể dung thứ, đã trở thành hiện thực. Các chính phủ bắt đầu theo bản năng tìm đến người đứng đầu Liên Hiệp Quốc trong những thời khắc khủng hoảng, ví dụ như năm 1958 ở Lebanon, nơi lực lượng quan sát viên của Hammarskjöld đã giúp tạo điều kiện cho Mỹ rút quân. Tổng Thư ký có thể thiếu một đội quân, nhưng ông có uy tín đạo đức của một nhà hòa giải toàn cầu và công tâm.

Cùng lúc đó, niềm tin rằng thời đại đế quốc phải chấm dứt cũng dần trở thành hiện thực. Đại diện của các quốc gia mới giành độc lập ở châu Á và châu Phi lũ lượt kéo đến New York, nhiều người trong số họ vừa giành chiến thắng trong các cuộc đấu tranh giành độc lập kéo dài nhiều thập kỷ, và biến Liên Hiệp Quốc thành thể chế phổ quát đầu tiên của nhân loại. Họ đón nhận bản hiến chương với một sự nhiệt thành mà các tác giả phương Tây của nó đã không lường trước được, và nhấn mạnh rằng ngôn từ của nó về bình đẳng chủ quyền và nhân phẩm con người áp dụng cho tất cả các dân tộc. Nhiều người trong nhóm này đã làm việc với các nhà lãnh đạo dân quyền ở Mỹ; họ thách thức hệ thống thứ bậc chủng tộc ở bất cứ nơi nào nó vẫn còn tồn tại. Bằng cách làm vậy, họ đã kích hoạt chủ nghĩa cấp tiến tiềm ẩn sâu bên trong ngôn ngữ sáng lập của bản hiến chương, biến các nguyên tắc thành những đòi hỏi chính trị. Năm 1960, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, dưới sự dẫn dắt của khối “Á-Phi,” đã vượt qua sự phản đối lâu dài của phương Tây và thông qua Tuyên bố về Trao trả Độc lập cho Các Nước và Các Dân tộc Thuộc địa mang tính bước ngoặt, đặt Liên Hiệp Quốc dứt khoát đứng về phía những người đang đấu tranh chống lại đế quốc. Đồng thời, những quốc gia mới này cũng ủng hộ mạnh mẽ cuộc chiến giành độc lập của Algeria chống lại người Pháp.

Nhưng tầm nhìn của họ còn vượt xa sự chấm dứt chủ nghĩa đế quốc về mặt hình thức. Theo quan điểm của họ, chủ quyền không thể chỉ đơn giản nghĩa là một lá cờ châu Âu được hạ xuống và một lá cờ mới được kéo lên. Nó phải có nghĩa là tự do thực sự khỏi các can thiệp chính trị và sự thống trị kinh tế từ bên ngoài. Một thế giới của những quốc gia bình đẳng về chủ quyền thực sự, họ lập luận, là nền tảng ổn định duy nhất cho một nền hòa bình lâu dài. Họ đã neo giữ tầm nhìn thời hậu đế quốc của mình trong khuôn khổ của Liên Hiệp Quốc, ngăn chặn tình trạng vô chính phủ quốc tế và kiến tạo nên hệ thống toàn cầu như nó đang tồn tại ngày nay.

MỘT SỨ MỆNH PHỔ QUÁT ĐÍCH THỰC

Các quốc gia mới ở châu Á và châu Phi, những nước như Ghana, Ấn Độ, và Indonesia – hợp tác chặt chẽ tại New York với các quốc gia trung lập như Ireland, Thụy Điển, và Nam Tư – không thấy có lý do gì khiến thế giới mới của những quốc gia bình đẳng có chủ quyền này lại phải làm con tin cho sự kình địch của các siêu cường. Họ phản đối logic của Chiến tranh Lạnh và lo ngại rằng người Mỹ và người Liên Xô, nếu cứ để mặc họ tự tung tự tác, sớm muộn gì cũng sẽ kéo phần còn lại của thế giới chìm xuống theo. Với họ, khi đứng trước nguy cơ diệt vong vì hạt nhân, chỉ một kỷ nguyên mới của hòa bình và hợp tác toàn cầu dựa trên sự bình đẳng về chủ quyền mới có thể tiếp nối thời đại của các đế quốc. Cùng nhau, họ trao cho Liên Hiệp Quốc một uy tín đạo đức không bắt nguồn từ bất kỳ cường quốc nào, một sứ mệnh sẽ chứng minh tính quyết định trong những thập kỷ tiếp theo.

Trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962, Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc người Myanmar U Thant đã cung cấp một lối thoát quan trọng. Thông qua một loạt các thông điệp công khai và bí mật gửi tới Tổng thống Mỹ John F. Kennedy và Lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev, cũng như việc đích thân đến gặp Chủ tịch Cuba Fidel Castro tại Havana ở đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng, ông đã định vị bản thân, dù không có bất kỳ sự ủy quyền nào từ Hội đồng Bảo an, là một nhà hòa giải công tâm không thể thiếu để xoa dịu tình hình. (U Thant là ông của tôi và là nhân vật chính trong cuốn sách gần đây của tôi, “The Peacemaker: U Thant and the Forgotten Quest for a Just World” – Nhà Kiến tạo Hòa bình: U Thant và Hành trình Tìm kiếm một Thế giới Công bằng Bị lãng quên.”) Đối với Khrushchev và Castro, việc có thể phản hồi tích cực trước một lời kêu gọi hòa bình từ Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc thay vì một tối hậu thư từ Washington tỏ ra là điều thiết yếu. Và Kennedy, trong không chỉ một lần, đã bác bỏ các cố vấn kêu gọi hành động quân sự bằng cách lập luận rằng Mỹ phải chờ đợi “chính sách ngoại giao của U Thant.” Khi cần thiết nhất, Liên Hiệp Quốc đã tạo ra thời gian và không gian cần thiết để các cường quốc tự lùi bước khỏi bờ vực chiến tranh.

Sau đó, đã có nhiều thắng lợi hòa giải hơn nữa, từ Síp đến Indonesia. Năm 1965, khi Ấn Độ và Pakistan nổ ra chiến tranh vì vùng Kashmir, U Thant đã bay tới cả hai thủ đô. Chấp nhận sự hòa giải của Liên Hiệp Quốc không ngụ ý bất kỳ sự yếu kém nào. Tổng Thư ký không hề ảo tưởng rằng mình có thể ngăn chặn một cuộc chiến đang diễn ra dữ dội. Thay vào đó, ông bồi đắp lòng tin của cả hai nhà lãnh đạo, phác thảo một công thức ngừng bắn, sau đó đánh giá chính xác thời điểm nào thì áp lực từ Hội đồng Bảo an sẽ mang lại hiệu quả cao nhất. Sau ba tuần, khi các lựa chọn trên chiến trường bị giới hạn, một phương án hòa bình của Liên Hiệp Quốc đã sẵn sàng và chờ đợi, bao gồm cả việc ngay lập tức triển khai các quan sát viên quân sự để ngăn đụng độ tái diễn. Vậy là cuộc chiến đã đi đến hồi kết.

Một kiểu thử thách khác đã xuất hiện ở Congo, quốc gia giành độc lập vào năm 1960, nhưng chỉ trong vài ngày, cựu chính quốc thực dân là Bỉ đã phát động thứ mà họ gọi là một cuộc can thiệp nhân đạo, rồi chiếm khu vực miền nam giàu khoáng sản, Katanga, và đặt nó dưới sự cai trị của một chế độ da trắng thượng đẳng. Các lực lượng da trắng thượng đẳng sau đó nhanh chóng tham gia vào cuộc lật đổ và cuối cùng là sát hại thủ tướng được bầu của Congo, Patrice Lumumba. U Thant quyết định lựa chọn giải pháp quân sự, huy động một lực lượng Liên Hiệp Quốc do Ấn Độ dẫn đầu gồm quân đội châu Phi, châu Á, Thụy Điển, và Ireland để đánh tan các lực lượng da trắng thượng đẳng vào đầu năm 1963. Trong trường hợp này, hành động cứng rắn của Liên Hiệp Quốc đã đưa lập trường chống đế quốc ngày càng mạnh mẽ của tổ chức này vào thực tiễn.

Tuy nhiên, thái độ của Washington đối với chính thực thể mà họ tạo ra lại bắt đầu trở nên tồi tệ. Cách U Thant định hình cuộc chiến ở Việt Nam không phải như một “quân cờ domino” của Chiến tranh Lạnh mà là một cuộc đấu tranh giành quyền tự quyết, cùng với những nỗ lực kéo dài nhiều năm của ông mà không cần bất kỳ sự ủy quyền nào của Hội đồng Bảo an nhằm làm trung gian cho các cuộc đàm phán giữa Mỹ và Bắc Việt, đã chọc giận Washington. Từ năm 1967 trở đi, những nỗ lực của ông trong việc tìm kiếm nền hòa bình ở Trung Đông, bao gồm cả việc Israel phải rút lui hoàn toàn khỏi các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng, cũng dẫn đến những nhận thức rằng cơ quan toàn cầu này đang có thành kiến chống lại nhà nước Do Thái.

Bắt đầu từ cuối những năm 1960, Liên Hiệp Quốc – phớt lờ những phản đối của phương Tây – đã ủng hộ các phong trào giải phóng chống lại các chế độ thực dân và da trắng thượng đẳng trên khắp miền nam châu Phi. Liên Hiệp Quốc cũng thúc đẩy việc định hình lại nền kinh tế toàn cầu, một nỗ lực lên đến đỉnh điểm với Tuyên bố năm 1974 về một Trật tự Kinh tế Quốc tế Mới, trong đó yêu cầu các điều khoản công bằng hơn đối với thương mại, chuyển giao công nghệ và kiểm soát các nguồn tài nguyên thiên nhiên, một tầm nhìn về quan hệ kinh tế toàn cầu có thể thúc đẩy tăng trưởng đồng thời giảm thiểu những bất bình đẳng.

Nhưng đến lúc đó, một quan điểm rất khác về tương lai đang được củng cố ở Washington và nhiều thủ đô phương Tây khác, một tương lai mà trong đó Liên Xô bị đánh bại và toàn cầu hóa kinh tế được neo giữ vào các thị trường phương Tây và trong đó một Liên Hiệp Quốc độc lập và quyết đoán không có mấy chỗ đứng. Và ở những nước từng là thuộc địa, tình thế đã đảo ngược. Thế hệ những người theo chủ nghĩa quốc tế thời hậu thuộc địa, chẳng hạn như Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru, Tổng thống Ghana Kwame Nkrumah, và Tổng thống Indonesia Sukarno, đã rời khỏi vũ đài thế giới. Từ Jakarta đến Accra rồi tới Santiago, các cuộc đảo chính quân sự cánh hữu (thường có sự hậu thuẫn của Mỹ) nhanh chóng lật đổ một số chính phủ cam kết mạnh mẽ nhất với tầm nhìn hậu đế quốc.

Khi thái độ thù địch của Mỹ gia tăng và vai trò lãnh đạo của các nước đang phát triển suy yếu vào những năm 1980, phiên bản trước đó của Liên Hiệp Quốc, giờ đây đã bị che khuất khỏi tầm nhìn, không chỉ sống sót mà còn trưởng thành. Dựa trên nhiều thập kỷ kinh nghiệm được chia sẻ, Tổng Thư ký người Peru Javier Pérez de Cuéllar và đội ngũ hòa giải viên của ông đã kiên nhẫn làm việc để xây dựng khuôn khổ mà đến năm 1988 đã giúp đưa cuộc chiến Iran-Iraq đến hồi kết. Trong những năm đó, họ cũng làm trung gian cho các thỏa thuận phức tạp ở Afghanistan, Campuchia, El Salvador, Mozambique, Namibia, và nhiều nơi khác, tạo tiền đề cho sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh.

Tính đến đầu những năm 1990, Liên Hiệp Quốc đã bảo vệ được nền hòa bình lâu dài thông qua hơn một chục cuộc can thiệp kiến tạo hòa bình và thông qua việc củng cố hệ thống các quốc gia dân tộc có chủ quyền thời hậu đế quốc. Tổ chức này đã giúp thế giới tránh được một kịch bản tồi tệ thảm khốc: những cuộc đấu tranh giành độc lập ngày càng đẫm máu hơn, được châm ngòi bởi những đường biên giới độc đoán do các cường quốc thực dân để lại, vốn có thể đã dẫn đến một làn sóng xung đột lớn không thể tưởng tượng nổi, thậm chí là chiến tranh hạt nhân. Thành công của Liên Hiệp Quốc không phải là công lao của bất kỳ thế lực hay ý thức hệ đơn lẻ nào, mà là của hai niềm tin về việc không có chiến tranh và không có đế quốc, được hiện thực hóa thông qua nỗ lực của thể chế đầu tiên đại diện cho tất cả các dân tộc trên thế giới.

TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI

Tuy nhiên, trong những năm tiếp theo, Liên Hiệp Quốc lại một lần nữa bị định hình lại, lần này là bởi sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh và sự trỗi dậy của Mỹ với tư cách là siêu cường duy nhất. Cái gọi là trật tự quốc tế tự do theo sau sự sụp đổ của Liên Xô được xây dựng xoay quanh vị thế bá chủ không thể thách thức về kinh tế và quân sự của Washington. Liên Hiệp Quốc đã đạt đến những tầm cao mới, nhưng thường giống như một phần phụ trợ không mấy thoải mái của sự phân chia trật tự mới.

Nỗ lực hòa giải giữa các quốc gia nhường chỗ cho các cuộc can thiệp vào những cuộc nội chiến. Tầm nhìn của “Thế giới Thứ Ba” về một trật tự kinh tế quốc tế mới với cốt lõi là một hệ thống thương mại toàn cầu công bằng hơn đã bị tráo đổi với các mục tiêu viện trợ phát triển và giảm nghèo do chương trình nghị sự của các nhà tài trợ phương Tây thiết lập. Chủ quyền trở thành có điều kiện, có thể bị thay thế nhân danh nhân quyền và nhu cầu nhân đạo, với các chiến dịch vũ trang, như ở Haiti, Somalia, và Nam Tư cũ, theo đó tạo ra những tiền lệ mới.

Vấn đề không nằm ở tham vọng: chấm dứt nội chiến và thúc đẩy nhân quyền hoàn toàn phù hợp với các nguyên tắc sáng lập của Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Nhưng trong những thập kỷ trước đó, các quốc gia mới giành độc lập đã quyết liệt bảo vệ nguyên tắc không can thiệp của Liên Hiệp Quốc như một hiện thân về mặt thể chế của niềm tin chống lại các đế quốc. Số lượng ngày càng tăng các cuộc can thiệp được Hội đồng Bảo an ủy quyền sau Chiến tranh Lạnh – từ Somalia năm 1992 đến Libya năm 2011, ngay cả khi được châm ngòi bởi những tội ác tàn bạo hoặc những vi phạm nhân quyền trên diện rộng – có nguy cơ biến tổ chức này thành một cơ chế để phô diễn sức mạnh của Mỹ hơn là duy trì các nguyên tắc phổ quát. Trong quá trình đó, niềm tin chống lại các đế quốc từng định hình nên Liên Hiệp Quốc bắt đầu bị xói mòn. Cuộc xâm lược Iraq của Mỹ năm 2003 đã giáng một đòn trực tiếp vào niềm tin chống lại các cuộc xâm lược. Vào thời điểm Nga xâm lược Ukraine, hai niềm tin này vốn dĩ đang sụp đổ. Vai trò từng rất nổi bật của các tổng thư ký như người hòa giải giữa các quốc gia gần như đã biến mất hoàn toàn.

Và giờ đây, bản thân trật tự quốc tế tự do thời hậu Chiến tranh Lạnh cũng đang biến mất. Nước Mỹ đã quay lưng lại với các liên minh từng là chốt chặn của trật tự đó – thứ cũng chưa bao giờ được thiết kế để dung nạp sự trỗi dậy của các cường quốc phi phương Tây, trên hết là Trung Quốc. Giữa những dòng chảy cuộn xoáy này, Liên Hiệp Quốc bị bỏ lại như rắn mất đầu và hiện đang phải đối mặt với áp lực tài chính gay gắt, hồ sơ thành công trong quá khứ về kiến tạo hòa bình của nó gần như đã bị lãng quên hoàn toàn.

QUÁ KHỨ CÓ THỂ LÀ TIỀN ĐỀ

Điều cần thiết lúc này là việc đưa hai niềm tin ban đầu trở về vị trí trung tâm của nền chính trị toàn cầu. Cặp nguyên tắc về không có chiến tranh và không có đế quốc không phải là những khát vọng lý tưởng hóa, mà là những bức tường chịu lực của thời kỳ hòa bình toàn cầu thực sự duy nhất mà nhân loại từng xây dựng được. Chúng đòi hỏi sự bảo vệ khẩn cấp, kiên quyết, và rõ ràng. Điều quan trọng không phải là chủ nghĩa đa phương, vốn là khái niệm không mang giá trị thiên lệch và có thể phục vụ cho bất kỳ chương trình nghị sự nào, mà là những ý tưởng được phục vụ bởi sự hợp tác toàn cầu. Việc cải tổ Liên Hiệp Quốc là quan trọng, nhưng đó chỉ là yếu tố thứ yếu: các thể chế chỉ có thể phản ánh nền chính trị thổi hồn cho chúng.

Thời điểm hiện tại nhấn mạnh tính cấp bách của việc đưa những ý tưởng này đi vào hoạt động trở lại. Để điều đó xảy ra, cần phải có ba điều kiện. Thứ nhất là sự hợp tác của các chính phủ từ khắp mọi khu vực, sẵn sàng làm việc ở những cấp độ cao nhất để bảo vệ hai niềm tin này và kiên quyết yêu cầu rằng chúng phải là kim chỉ nam cho các phản ứng của quốc tế đối với những xung đột và khủng hoảng.

Thứ hai, vị tổng thư ký tiếp theo – người sẽ được lựa chọn trong những tháng tới – phải có lòng can đảm và sự sáng tạo để tự đưa mình vào những cuộc xung đột nguy hiểm nhất, thông qua những hành động táo bạo chứng minh rằng việc kiến tạo hòa bình có nguyên tắc vẫn là điều khả thi. Chắc chắn là thành công của các tổng thư ký trong quá khứ chưa bao giờ hoàn toàn mang tính cá nhân. Chúng phụ thuộc vào sự sẵn lòng của các cường quốc trong việc tạo ra chí ít là một không gian tối thiểu để hoạt động, cũng như phụ thuộc vào các nhà lãnh đạo từ các quốc gia khác, dù lớn hay nhỏ, trong việc đầu tư nguồn vốn chính trị thực sự vào tổ chức này. Thất bại có thể sẽ nhiều hơn thành công. Nhưng những nỗ lực đầy nghị lực của vị tổng thư ký tiếp theo nhằm xoa dịu và chấm dứt các cuộc xung đột có thể bắt đầu thay đổi những gì mà các quốc gia tin là có thể đạt được và những gì mà công chúng có thể tưởng tượng được.

Thứ ba, và cũng là điều cơ bản nhất, các chính phủ và công chúng phải khôi phục lại ký ức về những thảm họa của chiến tranh và các đế quốc, cũng như những gì mà Liên Hiệp Quốc thời kỳ đầu đã đạt được. Nếu không có điều đó, ngay cả những nỗ lực đổi mới kiên quyết nhất cũng sẽ là bất khả thi.

Đã từng có thời mà mỗi người ngồi quanh bàn Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đều có kinh nghiệm trực tiếp về chiến tranh tổng lực hoặc nỗi nhục nhã của thân phận thuộc địa. Họ không cần ai nhắc nhở về sự tàn khốc của cả hai thứ đó. Điều đáng lẽ phải diễn ra sau sự ra đi của thế hệ đó là sự tiếp nối văn hóa, những câu chuyện mà một xã hội kể về chính nó, nhằm giữ cho hai niềm tin kia luôn sống động. Nhưng sự tiếp nối đó đã thất bại. Ví dụ, Thế chiến II thường xuyên được phương Tây tôn vinh như một chiến thắng lịch sử, nhưng hiếm khi được nhớ đến như một tai họa khủng khiếp, trong đó các cường quốc đang lên và các đế quốc đang suy tàn đã ném thế giới vào một vòng xoáy tàn sát chưa từng có. Trong phần lớn các ấn phẩm xuất bản, truyền thông, và giáo dục tinh hoa của phương Tây, lịch sử thời kỳ đầu của Liên Hiệp Quốc – đặc biệt là vai trò then chốt của các quốc gia phi phương Tây trong việc định hình thế giới hậu thuộc địa – đã bị bỏ qua hoàn toàn, thường là để nhường chỗ cho các câu chuyện được đóng khung xoay quanh cuộc tranh giành giữa Mỹ và Liên Xô. Vấn đề sâu xa hơn mang tính văn hóa: những câu chuyện về sự đụng độ giữa các anh hùng và những kẻ phản diện luôn hấp dẫn hơn những câu chuyện về sự hòa giải và thỏa hiệp. Ngay cả ở phương Nam toàn cầu, nhiều người cũng chỉ tiếp thu một phiên bản của quá khứ mà trong đó những chương quan trọng nhất của chính họ đã bị xóa mờ khỏi tầm nhìn. Liên Hiệp Quốc thời kỳ đầu đã bị chôn vùi trong ký ức thành công đến mức vào giữa những năm 1990, những người ghi chép làm việc với các cuốn băng ghi âm của John F. Kennedy từ Khủng hoảng tên lửa Cuba đã nghe nhầm những đoạn đề cập đến “sáng kiến của U Thant” (U Thant initiative) thành “vụ tấn công” (the attack thing).

Tất nhiên, ngày nay chiến tranh không hề xa vời với tất cả mọi người. Cuộc sống của hàng triệu người trên khắp thế giới đã bị hủy hoại trong các cuộc xung đột gần đây. Nhưng những người bị ảnh hưởng nặng nề nhất lại hiếm khi nằm ở các quốc gia giàu có, nơi đưa ra những quyết định quan trọng nhất. Một ngoại lệ là những người đàn ông và phụ nữ Mỹ đã từng phục vụ ở Iraq và Afghanistan cùng gia đình của họ, nhiều người trong số đó đã bày tỏ rõ mong muốn không bao giờ muốn thấy đất nước mình tham gia vào một cuộc chiến tự chọn một lần nào nữa. Tuy nhiên, mong muốn này lại bị tách rời khỏi câu chuyện về chính thể chế do đất nước của họ tạo ra, vốn đã từng ngăn chặn và có thể một lần nữa ngăn chặn những kiểu chiến tranh mà họ đang phản đối.

Trên khắp địa cầu, khao khát về một thế giới không có chiến tranh và đế quốc vẫn tồn tại, chờ đợi được huy động và được trao một tiếng nói chính trị mới mẻ. Những niềm tin này vẫn là nền tảng chắc chắn nhất để xây dựng một kiến trúc hòa bình mới cho phần còn lại của thế kỷ 21. Việc khôi phục lại ký ức đó và làm mới vai trò lãnh đạo toàn cầu là nhiệm vụ cấp bách nhất trong nền chính trị quốc tế ngày nay.

Thant Myint-U là nghiên cứu viên cấp cao tại Quỹ Liên Hiệp Quốc và là tác giả cuốn “Peacemaker: U Thant and the Forgotten Quest for a Just World.”