Xu hướng bình thường hóa quốc phòng không thể đảo ngược của Nhật Bản

Nguồn:  Daisuke Kawai, “Japan’s Point of No Return”, Foreign Affairs, 25/05/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Trong vòng mười năm qua, Nhật Bản đã rũ bỏ bản sắc hòa bình của mình. Sau khi cam kết chỉ duy trì một lực lượng quân sự quy mô nhỏ thời hậu Thế chiến thứ II, Tokyo giờ đây đang xây dựng các lực lượng vũ trang có năng lực thực sự và một nền tảng công nghiệp quốc phòng quy mô. Ví dụ, vào tháng 12/2018, quốc gia này đã công bố kế hoạch cải tiến các tàu khu trục lớp Izumo để chúng có thể vận hành các chiến đấu cơ F-35B — điều đã mang lại cho Nhật Bản chiếc tàu sân bay đầu tiên kể từ năm 1945 — và mua 147 chiến đấu cơ F-35. Vào năm 2023, họ đã cho phép các công ty của mình bắt đầu bán một số loại vũ khí tấn công và linh kiện vũ khí. Và vào tháng trước, Tokyo đã dỡ bỏ hầu hết các hạn chế còn lại đối với xuất khẩu vũ khí, bao gồm cả tàu khu trục, tên lửa và máy bay phản lực.

Sự xoay trục của Nhật Bản cần phải được hoan nghênh rộng rãi tại Washington, nơi vốn từ lâu đã tìm cách thúc ép đồng minh Đông Á giàu có của mình chi tiêu nhiều hơn cho quốc phòng. Những bước đi này được thiết kế nhằm củng cố liên minh, khi các quan chức Nhật Bản vẫn cam kết sâu sắc đối với mối quan hệ đối tác với các đồng cấp Mỹ. Một Nhật Bản mạnh mẽ hơn, ví dụ, có ý nghĩa quyết định trong việc răn đe Trung Quốc tấn công Đài Loan. Bắc Kinh sẽ không chọn đối đầu với một liên minh không chỉ gồm các lực lượng Mỹ và Đài Loan mà còn có cả các lực lượng Nhật Bản được trang bị tốt. Và ngày càng có nhiều khả năng Trung Quốc phải giả định rằng Tokyo sẽ can dự vào một cuộc xung đột liên quan đến hòn đảo này, đồng nghĩa với việc bất kỳ cuộc chiến Đài Loan nào cũng sẽ kéo theo sự tham gia của các căn cứ, tên lửa, cảm biến, hệ thống phòng không và mạng lưới hậu cần của Nhật Bản, khiến cho một chiến thắng chớp nhoáng trở nên khó đạt được.

Dẫu vậy, việc liệu các nỗ lực của Tokyo có thực sự mang lại kết quả là củng cố mối quan hệ đối tác Mỹ-Nhật hay không vẫn là câu hỏi còn bỏ ngỏ — và câu trả lời phụ thuộc rất lớn vào cách phản ứng của Washington. Kể từ khi Tổng thống Mỹ Donald Trump trở lại nắm quyền vào năm 2025, Mỹ đã nhìn nhận các liên minh của mình theo lăng kính thực dụng mang tính đổi chác, và liên minh với Nhật Bản cũng nằm trong số đó. Chẳng hạn, vào tháng 4/2025, Trump đã áp thuế 25% lên hàng hóa Nhật Bản. (Hai nước cuối cùng đã đạt được một thỏa thuận nhằm hạ hầu hết các mức thuế xuống 15%, trước khi Tòa án Tối cao phán quyết rằng các mức thuế này là không thể chấp nhận được.) Trump trước đó cũng từng yêu cầu Nhật Bản phải trả gấp khoảng bốn lần cho Mỹ để đổi lấy việc tiếp tục đồn trú quân đội Mỹ. Ông gọi Nhật Bản là “được nuông chiều” vì “đã trục lợi từ chúng ta suốt 30, 40 năm qua”. Nếu Mỹ tiếp tục chỉ trích Nhật Bản, thì Tokyo thực sự có thể sẽ vạch ra một con đường độc lập hơn. Xét cho cùng, việc gia tăng chi tiêu quốc phòng và sức mạnh ngày càng lớn của nước này đóng vai trò như một gói bảo hiểm giúp giữ cho Nhật Bản an toàn trong trường hợp Mỹ dao động.

Washington do đó nên từ bỏ các nỗ lực nhằm bòn rút nhiều nhất có thể từ ngân khố của Nhật Bản. Thay vào đó, họ phải tìm cách tận dụng sức mạnh của Tokyo — chẳng hạn như bằng cách hợp tác trong sản xuất quân sự, hoặc kết nối tốt hơn các chuỗi chỉ huy của họ ở Thái Bình Dương. Điều này có thể khiến một số quan chức Mỹ, những người vốn đã quen với việc là đối tác mạnh hơn rất nhiều, cảm thấy dè chừng. Nhưng bất kỳ sự mất mát nào về vị thế áp đảo của Mỹ cũng hoàn toàn xứng đáng với những lợi ích mang lại. Trong nhiều năm, Mỹ đã tìm kiếm một phương cách để kìm hãm Bắc Kinh tốt hơn. Một Nhật Bản có thể giữ vững chiến tuyến ngay từ đầu cuộc khủng hoảng và hỗ trợ Mỹ phản công là một giải pháp xuất sắc.

Trỗi dậy mạnh mẽ

Nhật Bản từ lâu đã nhen nhóm ý tưởng rũ bỏ lập trường hòa bình của mình, nhưng tiến trình phát triển an ninh của họ mới chỉ thực sự bắt đầu vào năm 2015. Năm đó, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã thông qua luật cho phép Lực lượng Tự vệ Nhật Bản sử dụng vũ lực trong các trường hợp hạn chế của cái gọi là “quyền tự vệ tập thể”, chẳng hạn như nếu một cuộc tấn công vào Mỹ đe dọa đến sự sống còn của Nhật Bản. (Trước đây, Nhật Bản chỉ cho phép sử dụng vũ lực khi chính Nhật Bản bị tấn công.) Cuộc cải cách này đã gây tranh cãi dữ dội vào thời điểm thông qua, làm dấy lên làn sóng phẫn nộ và các cuộc biểu tình. Nhưng nó đã có hiệu lực, và Nhật Bản kể từ đó đã tiếp tục nới lỏng các rào cản đối với quân đội của mình. Ví dụ, vào năm 2017, ông Abe đã phát đi tín hiệu rằng Tokyo sẽ không còn coi mức trần không chính thức 1% GDP cho chi tiêu quốc phòng là bất khả xâm phạm. Vào năm 2018, Nhật Bản đã thành lập Lữ đoàn Đổ bộ Triển khai Nhanh, một đơn vị kiểu thủy quân lục chiến được thiết kế để bảo vệ và tái chiếm các đảo xa. Và Chiến lược An ninh Quốc gia cùng Chương trình Tăng cường Quốc phòng năm 2022 của Nhật Bản đã cam kết quốc gia này sẽ sở hữu năng lực phản công, bao gồm cả các tên lửa tầm xa hơn.

Không ai tỏ ra quyết tâm với sự chuyển dịch này hơn Thủ tướng đương nhiệm của Nhật Bản, bà Sanae Takaichi. Là một học trò của ông Abe, bà Takaichi đã nhậm chức vào tháng 10 năm ngoái và không lãng phí thời gian trong việc mở rộng vị thế quân sự của Nhật Bản. Vào ngày 7/11, bà đã tuyên bố trước quốc hội Nhật Bản rằng một cuộc tấn công của Trung Quốc vào Đài Loan có thể đe dọa sự sống còn của Nhật Bản, phát đi tín hiệu rõ ràng hơn bất kỳ người tiền nhiệm nào của bà rằng Tokyo có thể sử dụng lực lượng quân sự theo luật an ninh năm 2015 nếu một cuộc tấn công vào hòn đảo này xảy ra. Để đáp trả, một Bắc Kinh giận dữ đã cáo buộc bà Takaichi cố tình đưa Nhật Bản trở lại quá khứ thuộc địa và cảnh báo rằng quốc gia này sẽ phải đối mặt với những hậu quả nghiêm trọng nếu không rút lại tuyên bố đó. Bà Takaichi đã từ chối. Trung Quốc sau đó đã hiện thực hóa một phần lời đe dọa của mình bằng cách hạn chế công dân Trung Quốc đi du lịch đến Nhật Bản và đình chỉ nhập khẩu hải sản từ Nhật Bản. Họ hạn chế xuất khẩu các mặt hàng lưỡng dụng sang các thực thể quân sự Nhật Bản, thậm chí đi xa đến mức đe dọa hành động pháp lý chống lại các tổ chức hoặc cá nhân ngoài Trung Quốc cung cấp các mặt hàng lưỡng dụng có nguồn gốc Trung Quốc cho Nhật Bản, và sau đó đã đưa hàng chục công ty và tổ chức niêm yết của Nhật Bản vào danh sách kiểm soát xuất khẩu và danh sách theo dõi. Vào tháng 12, theo các quan chức Nhật Bản, các chiến đấu cơ Trung Quốc thậm chí đã khóa radar điều khiển hỏa lực vào máy bay quân sự của Nhật Bản. Bà Takaichi vẫn kiên định, và việc bà từ chối lùi bước dường như đã làm gia tăng uy tín của bà.

Kết cục của cuộc khẩu chiến này đã minh chứng cho nghịch lý từ sự chèn ép của Trung Quốc: Bắc Kinh càng cố gắng trấn áp mạnh tay, họ càng phải đối mặt với nhiều phản ứng ngược. (Các chính phủ khác, bao gồm Úc, Ấn Độ và Đài Loan, cũng đã chịu áp lực ngày càng lớn từ Trung Quốc vì chỉ trích Bắc Kinh và họ cũng đã phản ứng bằng cách giữ vững lập trường.) Tokyo giờ đây đang trên lộ trình chi tiêu khoảng 2% GDP cho quốc phòng vào năm 2027, và họ đang củng cố an ninh trên các hòn đảo phía tây nam bằng cách bổ sung các đơn vị tên lửa, phòng không, kho đạn dược, kho chứa nhiên liệu, hầm trú ẩn kiên cố và các cơ sở cho phép máy bay cùng các đơn vị mặt đất phân tán khắp quần đảo Ryukyu. Nước này đang đầu tư vào các kho dự trữ đạn dược, mở rộng các hệ thống không người lái và nới lỏng các hạn chế đối với xuất khẩu và hợp tác công nghiệp quốc phòng để các công ty Nhật Bản có thể cùng chế tạo với các đối tác, chẳng hạn như các nhà sản xuất ở Mỹ, thay vì chỉ đơn thuần là mua lại từ họ.

Nhật Bản không còn nới lỏng các hạn chế một cách nửa vời hay thực hiện các thương vụ mua sắm nhỏ lẻ; họ đang tái định hình toàn bộ thế bố trí phòng thủ của mình. Những người kế nhiệm của bà Takaichi có thể làm chậm một số chương trình hoặc sắp xếp lại một số ưu tiên, nhưng việc đảo ngược quỹ đạo tổng thể trong tiến trình tăng cường sức mạnh của Nhật Bản là điều gần như không thể. Việc đó đòi hỏi phải hủy bỏ các hợp đồng mua sắm dài hạn, thu hẹp các dây chuyền sản xuất, xóa bỏ các quy định xuất khẩu mới và làm suy yếu các đơn vị cũng như căn cứ đang được xây dựng dọc khắp vùng tây nam nước này. Hơn nữa, với sự ủng hộ rộng rãi dành cho các cuộc cải cách này, quốc gia này khó lòng bầu ra những nhà lãnh đạo muốn hủy hoại chúng. Cuộc tranh luận tại Tokyo giữa hầu hết các chính trị gia không còn là về việc liệu Nhật Bản có nên tăng cường an ninh của chính mình hay không; mà là về việc họ nên thực hiện điều đó nhanh đến mức nào.

Răn đe và trì hoãn

Các nỗ lực của Nhật Bản là phản ứng tự nhiên của một quốc gia bị dồn ép bởi sự chèn ép từ Trung Quốc. Nhưng chúng cũng là phản ứng trước nỗi lo ngại về một sự rút lui có thể xảy ra của Mỹ. Quốc gia này không cố gắng thay thế Mỹ với tư cách là bên đảm bảo an ninh cho khu vực; họ đang hướng tới mục tiêu giúp ngăn chặn hoặc kiềm chế một cuộc khủng hoảng khu vực mà Washington có thể sẽ do dự — hoặc quyết định rằng cái giá để hỗ trợ các đồng minh của mình là quá cao. Đối với Tokyo, sự bảo hộ như vậy là đặc biệt thiết yếu do vị trí địa lý nằm sát các điểm nóng nguy hiểm nhất của Đông Á và các điểm nghẽn chuỗi cung ứng quan trọng.

Các nỗ lực của Tokyo cũng đặc biệt thiết yếu vì một cuộc khủng hoảng Đài Loan có thể bắt đầu bằng một nỗ lực của Trung Quốc nhằm chia rẽ các nhà hoạch định chính sách của Mỹ và Nhật. Như một bước đệm cho một cuộc phong tỏa hoặc một cuộc tấn công trực diện, Bắc Kinh có thể bóp nghẹt quyền tiếp cận vào nguồn nguyên liệu đầu vào công nghiệp cần thiết để duy trì sự răn đe: đất hiếm, vật liệu đặc chủng, cảm biến, linh kiện drone, các công cụ liên quan đến bán dẫn và các công nghệ lưỡng dụng được sử dụng bởi cả ngành công nghiệp dân sự lẫn các nhà sản xuất quốc phòng. Áp lực đó có thể đẩy Nhật Bản và Mỹ đi theo các hướng khác nhau. Tokyo có thể cảm thấy buộc phải hành động nhanh chóng để bảo vệ lãnh thổ của mình, giữ cho các tuyến đường biển luôn mở và ngăn chặn trường hợp việc đã rồi xung quanh Đài Loan hoặc Biển Hoa Đông. Ngược lại, các quan chức Mỹ có thể do dự nếu sự can thiệp đe dọa nền kinh tế Mỹ hoặc làm gián đoạn chuỗi cung ứng mà nền công nghiệp Mỹ phụ thuộc vào. Những nỗ lực hiện tại của Nhật Bản là câu trả lời cho bài toán đó. Bằng cách cam kết rõ ràng với Đài Loan và tăng cường quân đội, Tokyo đang phát đi tín hiệu rằng họ sẽ không né tránh việc bảo vệ hòn đảo này ngay cả khi Mỹ do dự. Và bằng cách làm sâu sắc thêm sự phối hợp tác chiến hàng ngày với Mỹ — thông qua các cuộc tập trận chung phức tạp hơn, mở rộng chia sẻ tình báo và lập kế hoạch chặt chẽ hơn giữa Lực lượng Tự vệ và Lực lượng Mỹ tại Nhật Bản — Tokyo hy vọng sẽ đảm bảo rằng Washington cuối cùng cũng sẽ phải can dự theo.

Có những giới hạn đối với mức độ bảo hộ mà Nhật Bản có thể mang lại cho các nước láng giềng nếu Mỹ quyết định không làm gì cả. Mục tiêu của những thay đổi gần đây không phải là biến Nhật Bản thành một siêu cường khu vực mà đơn giản là để câu giờ. Những bước đi này có thể giúp đảm bảo rằng Trung Quốc không thể đè bẹp Đài Loan hoặc chiếm giữ lãnh thổ do Nhật Bản quản lý như một sự đã rồi. Trong một cuộc khủng hoảng liên quan đến Đài Loan hoặc Biển Hoa Đông, vị thế quân sự ban đầu sẽ đóng vai trò vô cùng quan trọng. Nếu Nhật Bản có thể duy trì hoạt động của các sân bay ở Ryukyu và các đảo chính, phân tán lực lượng, duy trì đạn dược, bảo vệ các cảng biển và duy trì thông tin liên lạc trước khi sự trợ giúp của Mỹ đến nơi, Trung Quốc sẽ gặp nhiều khó khăn hơn để giành được kiểu chiến thắng chớp nhoáng, mang tính quyết định mà họ có thể cần. Trên thực tế, nếu Bắc Kinh chỉ đơn giản tin rằng Tokyo có thể làm tất cả những điều này — và hỗ trợ các chiến dịch sau đó của Mỹ trong khi bảo vệ lãnh thổ của chính mình — Trung Quốc có thể sẽ không thực hiện bất kỳ ý định nào đối với người láng giềng của mình.

Hệ quả là, một vài trong số những khoản đầu tư mang lại hệ quả lớn nhất của Nhật Bản lại nằm ở đạn dược, nhiên liệu, vật tư bảo dưỡng và sửa chữa, hầm trú ẩn, tàu hậu cần, khả năng phục hồi không gian mạng và các loại phần cứng lẫn phần mềm bảo vệ khác. Mặc dù những kiểu đầu tư này có thể không tạo nên những dòng tít giật gân, nhưng chúng quyết định việc liệu một lực lượng quân sự có thể vận hành khi một cuộc khủng hoảng nổ ra hay không. Những tiếng nói chỉ trích sự chuyển dịch an ninh của Nhật Bản lo ngại rằng những bước đi này, dù chủ yếu mang tính phòng thủ, sẽ làm gia tăng nguy cơ leo thang. Nếu các năng lực mới của Nhật Bản phối hợp kém với Mỹ, bị chi phối bởi các quy tắc can dự không rõ ràng hoặc sự chia sẻ vai trò thiếu chính xác, điều đó có thể xảy ra. Nhưng chừng nào Nhật Bản còn tăng cường lực lượng như một sự bổ sung cho sức mạnh của Mỹ, chứ không phải một sự thay thế cho nó, cuộc tăng cường này khó có thể thúc đẩy một cuộc tấn công từ Bắc Kinh. Trên thực tế, việc không làm gì cả mới dễ dẫn đến một cuộc xung đột hơn. Xét cho cùng, nếu Nhật Bản tỏ ra yếu đuối và thiếu quyết đoán, Bắc Kinh sẽ càng bị cám dỗ để thử thách họ.

Tokyo cũng đã tìm cách tăng cường khả năng răn đe bằng cách xây dựng các mạng lưới ngoại giao và tác chiến mạnh mẽ hơn. Liên minh của họ với Washington sẽ luôn là trung tâm trong chiến lược an ninh, nhưng chính phủ Nhật Bản giờ đây đang hợp tác chặt chẽ hơn với Úc, Ấn Độ, các quốc gia châu Âu, các quốc gia Đông Nam Á và thậm chí cả Hàn Quốc — nước vốn có mối quan hệ căng thẳng truyền thống với quốc gia từng đô hộ mình. Các mối quan hệ này khiến Trung Quốc khó cô lập Nhật Bản hơn bằng cách tạo ra nhiều kênh hơn để Tokyo lập kế hoạch với các đối tác, tiến hành huấn luyện chung nhằm cải thiện mức độ sẵn sàng của Lực lượng Tự vệ Nhật Bản và đa dạng hóa chuỗi cung ứng để củng cố thương mại. Ngược lại, các đối tác của họ cũng có được một mức độ bảo vệ cho chính mình. Đối với họ, một Nhật Bản có năng lực hơn không phải là một mối đe dọa mà là một điểm tựa — một nguồn cung cấp tài nguyên và công nghệ, huấn luyện quân sự và hỗ trợ cảnh sát biển, cũng như năng lực công nghiệp giúp củng cố hoạt động sản xuất quốc phòng. Do đó, công cuộc tăng cường an ninh của Nhật Bản lớn lao hơn một câu chuyện song phương giữa Tokyo và Washington hay giữa Tokyo và Bắc Kinh — nó là một phần của sự tái cân bằng an ninh toàn cầu.

Các mối quan hệ kinh tế mới của Nhật Bản là đặc biệt thiết yếu đối với các đối tác của họ. Tokyo biết rằng họ không phải là quốc gia duy nhất mà Trung Quốc đã cố gắng chèn ép bằng các biện pháp hạn chế kinh tế, và họ nhận thức được việc Bắc Kinh có thể gây ra thêm bao nhiêu sự hỗn loạn bằng cách vũ khí hóa sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế. Trung Quốc, chẳng hạn, đang thống trị việc khai thác và — đặc biệt là — tinh chế đất hiếm cùng nhiều vật liệu quân sự quan trọng khác. Các biện pháp kiểm soát xuất khẩu trong tháng 1 và tháng 2 của họ, vốn hạn chế xuất khẩu các mặt hàng lưỡng dụng quân sự-dân sự, đã làm nổi bật việc các mối quan hệ phụ thuộc kinh tế có thể trở thành công cụ chèn ép nhanh chóng đến mức nào.

Dù vậy, Tokyo có vị thế tốt để giảm thiểu phần lớn mối nguy hiểm này và giúp các quốc gia khác cùng thực hiện điều đó. Họ đóng vai trò trung tâm trong các mạng lưới sản xuất công nghệ cao vốn duy trì nguồn cung toàn cầu về bán dẫn, pin, sản xuất tiên tiến, robot và các vật liệu quốc phòng khác. Với uy tín tại Đông Nam Á và châu Âu cũng như tại Mỹ, Nhật Bản có thể giúp các quốc gia này tái thiết kế và tái trang bị cho chuỗi cung ứng của họ khi họ rơi vào cảnh bị cưỡng ép. Tokyo do đó có thể giúp ngăn chặn kiểu sao lặp tốn kém có thể xảy ra nếu các quốc gia này vội vã củng cố chuỗi cung ứng của họ một cách riêng rẽ, thay vì hợp tác cùng nhau.

Đồng minh, không phải khách hàng

Các quyết định chiến lược của Tokyo được thiết kế để mang lại lợi ích cho Washington. Thế nhưng Mỹ lại có nguy cơ phung phí sự hỗ trợ của Nhật Bản. Đó là vì Washington đột nhiên tỏ ra không bận tâm đến lợi ích của các đối tác. Thay vào đó, họ dường như quan tâm hơn đến việc bòn rút các nhượng bộ tài chính từ họ. Trump, chẳng hạn, đã khăng khăng rằng nếu các đồng minh NATO của Mỹ không chi trả nhiều hơn cho an ninh của chính họ thì Mỹ sẽ “không bảo vệ họ”, và các nỗ lực của ông nhằm thiết lập các mức thuế toàn diện đã phớt lờ các mối quan hệ đối tác thương mại song phương cùng có lợi lâu đời của Mỹ. Cách tiếp cận này là tự chuốc lấy thất bại. Việc gắn kết các cam kết an ninh với các mức thuế song phương, các ngoại lệ công nghệ hoặc các nhượng bộ thương mại không liên quan sẽ cho các đồng minh một lý do để tìm kiếm các thị trường, kênh tài trợ và tuyến đường cung ứng không đi qua Mỹ.

Cho đến nay, Nhật Bản phần lớn vẫn sát cánh cùng Washington bất chấp hành vi bất thường này. Tuy nhiên, nếu các quan chức Mỹ không thay đổi lộ trình, Tokyo có thể sử dụng năng lực lớn hơn của mình để mặc cả cứng rắn hơn và định hình nhiều hơn chính sách an ninh của họ vượt ra ngoài tầm ảnh hưởng trực tiếp của Washington. Bằng cách chuyển dịch nhiều hoạt động mua sắm quốc phòng và đồng phát triển hơn về phía Úc và châu Âu, Nhật Bản sẽ tạo ra các kho dự trữ và chuỗi cung ứng né tránh Mỹ cùng các nhà sản xuất của nước này. Tokyo có thể bắt đầu phản kháng lại các khoản chi trả cao hơn cho nước chủ nhà đồn trú và phối hợp nhiều kế hoạch khu vực hơn thông qua các diễn đàn đa phương không có sự tham gia của Washington. Những hành động này không làm cho Nhật Bản trở nên bài Mỹ, nhưng chúng sẽ để lại cho Mỹ ít tầm ảnh hưởng hơn đối với Tokyo.

Washington do đó phải ngừng gây áp lực lên Nhật Bản. Thay vào đó, họ cần hợp tác chặt chẽ hơn với đồng minh của mình. Họ có thể bắt đầu bằng cách coi các khoản đầu tư quân sự của quốc gia này như những bước đi hướng tới việc cải thiện sự chia sẻ gánh nặng — điều mà hiển nhiên chính là bản chất của chúng. Sau đó, họ có thể làm việc với các quan chức Nhật Bản để xây dựng một chuỗi cung ứng đồng minh giúp tăng cường sức mạnh cho cả hai quốc gia. Hai nước có thể sử dụng năng lực sản xuất chung của mình, ví dụ, để cùng sản xuất các hệ thống then chốt như tên lửa, vũ khí đánh chặn phòng không, phương tiện không người lái, cảm biến, năng lực sửa chữa tàu biển và các công nghệ nhận thức hàng hải dựa trên không gian. Họ cũng có thể tạo ra các kho dự trữ chung cho đạn dược và các vật liệu quan trọng. Điều này sẽ khiến Trung Quốc khó đe dọa bất kỳ quốc gia nào hoặc đóng một mũi chêm vào giữa hai nước.

Các nhà hoạch định chính sách Mỹ cũng nên cải thiện các kênh thông tin liên lạc với các đối tác Nhật Bản của họ. Hai chính phủ, đặc biệt, cần đầu tư vào các lộ trình rõ ràng hơn cho việc cùng ra quyết định để họ có thể đưa ra các lựa chọn nhanh chóng và hiệu quả trong trường hợp xảy ra khủng hoảng. Quân đội Mỹ cần phải diễn tập các kịch bản khẩn cấp với Lực lượng Tự vệ Nhật Bản, kết nối bộ chỉ huy nâng cấp của Lực lượng Mỹ tại Nhật Bản với Bộ Chỉ huy Tác chiến Hợp nhất của Nhật Bản và xây dựng các cơ chế chung để kiểm soát sự leo thang. Là một phần của tiến trình đó, Washington nên khuyến khích Tokyo duy trì các kênh của họ với Bắc Kinh luôn mở, đặc biệt là khi các mối quan hệ trở nên căng thẳng.

Khi Trung Quốc ngày càng trở nên hung hăng và mang tính chèn ép, Nhật Bản sẽ tiếp tục mở rộng bộ máy phòng thủ của mình. Đối với Mỹ, đây là cơ hội cần phải nắm bắt, và thực sự là điều mà nhiều quan chức Mỹ đã đòi hỏi từ lâu. Nếu chính quyền hiện tại của Mỹ tiếp tục đối xử với Nhật Bản như một chư hầu, Washington có thể sẽ phát hiện ra rằng đồng minh châu Á thân cận nhất của họ đã học được cách xoay xở mà không cần đến họ, với sự giúp đỡ của chính những đối tác mà Mỹ đã khuyến khích Tokyo vun đắp. Nhưng nếu Washington đối xử với một Nhật Bản mạnh mẽ hơn như một đối tác thực sự và giữ chân họ vững chắc trong hệ thống liên minh của mình, tầm ảnh hưởng của Mỹ tại châu Á sẽ trở nên lớn lao hơn bao giờ hết.

Daisuke Kawai là Trợ lý Giáo sư Dự án kiêm Giám đốc Chương trình An ninh Kinh tế và Đổi mới Chính sách tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ Tiên tiến thuộc Đại học Tokyo.