
Nguồn: Gideon Rose, “Iran as Vietnam, Ukraine as Korea,” Foreign Affairs, 20/05/2026
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Những cuộc chiến tương tự kết thúc theo những cách tương tự.
Chính quyền Trump chỉ mất hai tháng để trải qua chớp nhoáng toàn bộ 5 năm chính sách Việt Nam của chính quyền Johnson: can thiệp, leo thang, bế tắc trong tuyệt vọng, và đàm phán. Giờ đây, họ đang bước vào địa hạt của chính quyền Nixon: đầu tiên là những lời đe dọa hùng hổ, sau đó là sự nhận thức dần dần về việc cần phải rút lui thông qua một thỏa thuận không mấy thỏa đáng. Nếu tốc độ này tiếp diễn, thì quyết định can thiệp vào Iran sẽ kết thúc sau vài tháng nữa, và đến thời điểm đó, những lời đổ lỗi lẫn nhau sẽ bắt đầu.
Tất nhiên, không có phép so sánh lịch sử nào là hoàn hảo, và có nhiều điểm khác biệt rõ ràng giữa các cuộc xung đột ở Iran và Việt Nam: các khu vực khác nhau, các ý thức hệ hiện diện cũng khác nhau, khung thời gian ngắn hơn nhiều, Mỹ không triển khai bộ binh hoặc chế độ nghĩa vụ quân sự, không có sự thay đổi về chính quyền, công nghệ quân sự tiên tiến hơn, và nhiều hơn thế. Tuy nhiên, vẫn có những điểm đối xứng đáng được chú ý trong cấu trúc của hai cuộc xung đột. Và điều tương tự cũng đúng với cuộc chiến ở Ukraine, vốn có cấu trúc đối xứng với Chiến tranh Triều Tiên. Bởi vì các cấu trúc luôn giới hạn những lựa chọn của các nhà hoạch định chính sách, nên việc nhận ra những khuôn mẫu này sẽ cung cấp manh mối về cách các cuộc chiến sẽ kết thúc.
Cuộc chiến của Mỹ-Israel tại Iran có khả năng sẽ kết thúc giống như Chiến tranh Việt Nam năm 1973, với một giải pháp thỏa hiệp bất ổn, giải quyết được một số vấn đề nhưng lại bỏ ngỏ những vấn đề quan trọng khác. Giống như cái cách mà số phận cuối cùng của Nam Việt Nam được để lại để định đoạt sau, số phận cuối cùng của Cộng hòa Hồi giáo và chương trình hạt nhân của họ sẽ được gác lại cho một ngày khác. Ngược lại, cuộc chiến ở Ukraine — giống như Chiến tranh Triều Tiên — có lẽ sẽ kết thúc bằng một giải pháp củng cố một ranh giới xung đột tương tự như hiện tại, với các đường biên giới bị đóng băng được tuần tra vô thời hạn trong một hiệp định đình chiến, thứ hóa ra lại ổn định và bền vững hơn những gì hầu hết các nhà quan sát mong đợi.
NỬA ĐƯỜNG CÙNG LBJ
Tháng 11/1963, hai nhà lãnh đạo của Nam Việt Nam và Mỹ đều bị ám sát, bất ngờ đẩy Tổng thống Lyndon Johnson vào thế phải tiếp quản hai quốc gia đang chìm trong khủng hoảng. Tại Việt Nam, các lực lượng miền Bắc với động lực mạnh mẽ và được lãnh đạo tốt, cùng với các đồng minh du kích của họ ở miền Nam, đang dần chiếm ưu thế trước một chế độ Nam Việt Nam rệu rã. Trừ phi Washington hành động để đảo ngược tình thế, nếu không Sài Gòn cuối cùng sẽ sụp đổ, và đất nước sẽ thống nhất dưới sự kiểm soát của phe cộng sản. Johnson và đội ngũ của ông không mấy lạc quan về việc giành chiến thắng, nhưng họ lo sợ những hậu quả trong nước và quốc tế nếu thất bại. Vậy nên, họ quyết định tăng cường hỗ trợ cho Sài Gòn với hy vọng rằng việc phô trương sức mạnh sẽ khiến Hà Nội phải lùi bước.
Ban đầu, điều này đồng nghĩa với việc viện trợ kinh tế và cử các cố vấn quân sự. Sau đó là ném bom. Sau đó nữa là gửi bộ binh. Và rồi là tăng thêm mọi thứ. Nhưng Hà Nội vẫn kiên định với các mục tiêu cốt lõi của mình và từ chối nhượng bộ. Đến năm 1968, cuộc chiến đã tiêu tốn quá nhiều xương máu và tiền của, đồng thời gây ra tình trạng hỗn loạn trong nước đến mức Washington buộc phải bắt đầu tìm kiếm lối thoát. Bản thân Johnson không bao giờ chấp nhận thất bại, nhưng ông đã đặt giới hạn cho sự leo thang của cuộc chiến, tuyên bố đơn phương ngừng ném bom, rút lui khỏi đời sống chính trị, và nhường lại vấn đề cho người kế nhiệm.
Nhân vật đó hóa ra là Richard Nixon, người — cùng với cố vấn an ninh quốc gia của mình, Henry Kissinger — được thừa hưởng một nhiệm vụ cấp bách cơ bản là phải kết thúc cuộc chiến nhưng lại có rất ít vốn liếng chính trị cho những hành động mới. Cả Nixon và Kissinger đều chưa bao giờ cân nhắc việc đơn giản là bỏ rơi Sài Gòn, nhưng đã đặt mục tiêu định hình lại quan hệ giữa các siêu cường và hiểu rằng Mỹ phải bước tiếp từ khá sớm — chắc chắn là trước cuộc bầu cử tổng thống tiếp theo. Lúc đầu, họ cố gắng đạt được những mục tiêu cũ thông qua một sự pha trộn mới giữa vũ lực và những lời dọa dẫm. Họ hy vọng rằng Bắc Việt Nam có thể bị dọa sợ bởi những đợt ném bom tàn khốc mới và những lời đe dọa điên rồ, Liên Xô cùng Trung Quốc có thể bị dụ dỗ để giúp đỡ, và công chúng Mỹ có thể được xoa dịu bằng những đợt rút quân nhỏ — và rằng tất cả những điều này cộng lại sẽ tạo ra một thỏa thuận cho phép Mỹ rút quân, Nam Việt Nam sống sót, và Bắc Việt Nam ngừng can thiệp. Đây là giai đoạn mà Chánh văn phòng Nhà Trắng H. R. Haldeman sau này đã ghi lại trong cuốn hồi ký của mình:
[Nixon] chắc chắn rằng — cuối cùng thì — ông có thể buộc Bắc Việt Nam bước vào các cuộc đàm phán hòa bình hợp pháp. Việc đe dọa là chìa khóa, và Nixon đã tạo ra một cụm từ cho lý thuyết của mình… Ông nói, “Tôi gọi nó là Thuyết Gã điên, Bob ạ. Tôi muốn người Bắc Việt tin rằng tôi đã đến mức có thể làm bất cứ điều gì để chấm dứt cuộc chiến. Chúng ta sẽ chỉ bóng gió với họ rằng, ‘vì Chúa, các ông biết Nixon bị ám ảnh bởi Chủ nghĩa Cộng sản mà. Chúng tôi không thể kiềm chế ông ấy khi ông ấy nổi giận — và ông ấy đang đặt tay lên nút bấm hạt nhân’ — và đích thân Hồ Chí Minh sẽ có mặt ở Paris trong hai ngày tới để cầu xin hòa bình.”
Nhưng chiến lược đó đã thất bại. Liên Xô không thể hoặc không muốn gây áp lực đủ mạnh lên Bắc Việt Nam để buộc họ chấp nhận một giải pháp, những người cộng sản không hề sụp đổ cũng không hề chùn bước, và cuộc chiến cứ thế kéo dài.
Đến mùa thu năm 1969, chính quyền lại quay về điểm xuất phát, ngoại trừ việc Mỹ đã bắt đầu rút quân, càng kích thích mong muốn của công chúng Mỹ về việc rút quân nhiều hơn và tạo động lực cho Hà Nội chờ đợi Washington rời đi. Sự thất vọng ngày càng gia tăng tại Nhà Trắng. Kissinger ra lệnh cho nhân viên của mình chuẩn bị kế hoạch cho một “đòn trừng phạt tàn khốc” giáng xuống kẻ thù. “Tôi không tin,” ông nói với họ, “rằng một quốc gia hạng tư như Bắc Việt Nam lại không có giới hạn chịu đựng.” Trước khi tấn công, các quan chức chính quyền đã đưa ra một tối hậu thư cho Liên Xô và Bắc Việt Nam, yêu cầu họ nhượng bộ — nếu không thì sẽ biết tay. Nhưng khi họ phớt lờ tối hậu thư, Washington lại không thực hiện những lời đe dọa của mình.
Cuối cùng, Nixon và Kissinger đã chọn một chiến lược rút lui, kết hợp việc Mỹ rút quân dần dần, tăng cường viện trợ cho chế độ Thiệu ở Sài Gòn, và nỗ lực hết sức để theo đuổi một giải pháp đàm phán. Năm 1973, nỗ lực này đã mang lại một hiệp định cho phép Mỹ ngừng chiến đấu và đưa các tù binh chiến tranh về nước mà không chính thức phản bội một đồng minh. Nhưng những điều khoản chi tiết của hiệp định lại cho phép lực lượng cộng sản ở lại những khu vực ở miền Nam mà họ kiểm soát, tạo điều kiện cho họ khởi động lại các chiến dịch sau khi Mỹ rút đi. Quy định đó — cùng với những hạn chế của Quốc hội đối với việc Mỹ tái can thiệp — đã dẫn đến sự sụp đổ của Nam Việt Nam hai năm sau đó.
Giống như những gì Johnson đã làm ở Việt Nam, Tổng thống Donald Trump can thiệp vào Iran để ngăn chặn những xu hướng đáng lo ngại. Các cuộc không kích của Israel và Mỹ vào tháng 6/2025 đã gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho chương trình hạt nhân của Iran. Nhưng ngay sau đó, Cộng hòa Hồi giáo này bắt đầu xây dựng lại các năng lực quân sự thông thường của mình, và Israel cùng với Mỹ lo sợ rằng điều này cuối cùng sẽ tạo ra một lá chắn vững chắc che chắn cho Tehran trên con đường theo đuổi các tham vọng hạt nhân của mình. Trump tin vào những lời cam đoan của Israel rằng một cuộc tấn công chặt đầu mạnh mẽ sẽ lật đổ chế độ Iran và giải quyết triệt để vấn đề, và ông đã phê chuẩn một cuộc tấn công chung của lực lượng Mỹ và Israel vào cuối tháng 2. Các cuộc không kích phá hủy phần lớn năng lực quân sự của Iran và tiêu diệt nhiều quan chức hàng đầu của nước này, bao gồm cả Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei. Nhưng con trai của Khamenei là Mojtaba đã kế vị cha mình, và chế độ Iran vốn đã bám rễ sâu vẫn tiếp tục hoạt động. Tệ hơn nữa, họ còn đánh trả các nước láng giềng ở Vùng Vịnh và gây ra một cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu bằng cách đặt ra các hạn chế đối với hoạt động vận tải biển qua Eo biển Hormuz.
Vào tháng 4 vừa qua, một Trump đầy thất vọng đã chuyển từ vai trò của Johnson sang vai trò của Nixon, thử nghiệm một chiến lược mới gồm gia tăng áp lực, đưa ra các tối hậu thư và những lời đe dọa, cùng với các đề nghị đàm phán. Sự hồi sinh của cách tiếp cận “gã điên” đã dẫn đến một lệnh ngừng bắn vào ngày 8/4 và các cuộc đàm phán trực tiếp giữa các quan chức Mỹ và Iran do Pakistan làm trung gian, nhưng không mang lại những nhượng bộ như mong muốn. Eo biển Hormuz vẫn đóng cửa, và yêu cầu của hai bên vẫn cách nhau rất xa. Vì chưa bao giờ lập kế hoạch cho một cuộc chiến kéo dài, cùng với cái giá phải trả ngày càng đắt và sự ủng hộ trong nước sụt giảm nghiêm trọng, Trump giờ đây rõ ràng đang tìm kiếm một lối thoát để giữ thể diện, hệt như Nixon và Kissinger hồi đầu những năm 1970. Nhưng người Iran, giống như người Bắc Việt, đang tỏ ra ngoan cố không hợp tác, đánh cược rằng họ có thể chiến thắng trong một cuộc thi gan chịu đựng đau khổ. Điều xảy ra tiếp theo nhiều khả năng sẽ là một thỏa thuận giúp chấm dứt giao tranh, cho phép hoạt động vận tải biển nối lại, và lảng tránh hoặc trì hoãn việc giải quyết nhiều điểm tranh chấp khác. Giống như số phận của Nam Việt Nam, số phận cuối cùng của chương trình hạt nhân Iran cùng với số phận của chính chế độ Iran rốt cuộc sẽ được quyết định vào một ngày khác.
VÁN CỜ BẤT PHÂN THẮNG BẠI
Trong khi đó, tại Ukraine, những người lính Triều Tiên chiến đấu bên cạnh quân Nga hẳn đang trải qua cảm giác quen thuộc khi họ tái hiện cơn ác mộng của ông cha mình, trở thành vật hiến tế trong một cuộc tắm máu bế tắc. Cuối tháng 6/1950, lực lượng Triều Tiên đã ồ ạt tràn qua vĩ tuyến 38 trong một cuộc tấn công bất ngờ được thiết kế nhằm đặt toàn bộ Bán đảo Triều Tiên dưới sự kiểm soát của phe cộng sản. Các quan chức của chính quyền Truman đã diễn giải động thái này như một phát súng mở màn quan trọng trong cuộc Chiến tranh Lạnh ngày càng khốc liệt và đã cam kết đưa Mỹ vào công cuộc bảo vệ Hàn Quốc, đồng thời sắp xếp để Liên Hiệp Quốc bảo trợ cho nỗ lực này.
Phe Triều Tiên tiến lên trong suốt mùa hè, cuối cùng ép lực lượng Liên Hiệp Quốc vào một khu vực nhỏ bé xung quanh cảng Busan ở phía đông nam. Nhưng sang tháng 9, cuộc đổ bộ thành công từ biển lên bờ của Tướng Mỹ Douglas MacArthur tại Cảng Inchon phía sau phòng tuyến kẻ thù đã đảo ngược tình thế của cuộc chiến, và chẳng bao lâu sau, chính quân đội Liên Hiệp Quốc lại là những người đẩy lùi quân Triều Tiên.
Qua tháng 10, say sưa với chiến thắng và nhận thấy một cơ hội bất ngờ để thống nhất bán đảo theo các điều khoản của Hàn Quốc, các nhà lãnh đạo Mỹ đã trao cho MacArthur quyền tự do tiến hành các chiến dịch tiến sâu vào lãnh thổ Triều Tiên, điều mà ông đã tận dụng đến mức tối đa và hơn thế nữa. Nhưng khi các đạo quân của Liên Hiệp Quốc ngày càng tiến xa về phía bắc, cuộc chiến lại đổi hướng một lần nữa, với việc quân đội Trung Quốc đến viện trợ cho Triều Tiên và buộc lực lượng Liên Hiệp Quốc phải vội vã rút lui về phía nam. Ấn Độ và Anh đã thúc ép Mỹ bắt đầu các cuộc đàm phán, dựa trên một thỏa thuận bao gồm việc từ bỏ Đài Loan và kết nạp Trung Quốc vào Liên Hiệp Quốc. Nhưng chính quyền Truman từ chối, đánh cược vào sự hồi sinh trên chiến trường. Và quả thực, dưới quyền của một chỉ huy lục quân mới, Matthew Ridgway, các lực lượng của Liên Hiệp Quốc lại một lần nữa đảo ngược tình thế, nhích dần từng bước trở lại bán đảo vào đầu năm 1951.
Tính đến thời điểm này, cả hai phe tham chiến đều nhận ra rằng việc vượt qua bế tắc sẽ cực kỳ khó khăn và tốn kém, và họ bắt đầu cân nhắc việc kết thúc chiến tranh bằng con đường đàm phán dựa trên hiện trạng trước chiến tranh. MacArthur không đồng ý với lựa chọn chính sách này và đã cố tình tìm cách phá hoại nó, đưa ra những tuyên bố công khai đầy tính hiếu chiến và chỉ trích chính quyền trước các nghị sĩ Đảng Cộng hòa tại Quốc hội. Để đáp trả, Tổng thống Harry Truman đã tước quyền tổng chỉ huy của MacArthur vào tháng 4, thay thế ông bằng Ridgway. Đến tháng 6, sau khi các lực lượng của Liên Hiệp Quốc đập tan một cuộc tấn công quy mô lớn của Trung Quốc, đại sứ Liên Xô tại Liên Hiệp Quốc đã gợi ý trong một buổi phát thanh rằng cả hai bên nên đồng ý một hiệp định đình chiến tại vĩ tuyến 38, và vào tháng 7, các cuộc đàm phán ngừng bắn trực tiếp đã bắt đầu. Các nhà quan sát đương thời kỳ vọng sẽ đạt được giải pháp trong vòng vài tuần. Những nhà đàm phán Mỹ đầu tiên được dặn phải mang theo lễ phục cho một buổi lễ ký kết, trong khi những nhà đàm phán Trung Quốc đầu tiên chỉ mang theo quần áo mùa hè. Nhưng các cuộc đàm phán đã sa lầy, và những trận giao tranh ác liệt vẫn tiếp diễn thêm hai năm nữa. Hiệp định đình chiến cuối cùng được ký vào tháng 7/1953, dọc theo các ranh giới gần với vị trí của các bên khi mới bắt đầu đàm phán.
Những điểm tương đồng giữa các cuộc chiến ở Triều Tiên và Ukraine là rất đáng kinh ngạc. Cuộc chiến hiện tại ở Ukraine bắt đầu bằng một cuộc tấn công bất ngờ của các lực lượng Nga vào cuối tháng 2/2022. Giống như người Triều Tiên năm 1950, người Nga đã đạt được những bước tiến ngoạn mục trong nỗ lực tái chiếm những gì họ tin là lãnh thổ quốc gia bị mất, và một lần nữa, các quan chức Mỹ và châu Âu cam kết sẽ giúp đỡ nạn nhân của hành động gây hấn phản kháng lại. Giống như ở Triều Tiên, năm đầu tiên của cuộc chiến ở Ukraine đã chứng kiến những sự đảo ngược quân sự và những biến động về mặt chiến dịch lớn, tiếp theo là vài năm bế tắc với cường độ cao dọc theo các phòng tuyến tương đối cố định.
Khi Trump nhậm chức vào năm 2025, ông đã cố gắng ép buộc một giải pháp, dụ dỗ Nga bằng cách ám chỉ rằng họ có thể giữ lại những vùng lãnh thổ đã giành được và bắt nạt Ukraine bằng cách giữ lại các khoản viện trợ. Nhưng không bên nào sẵn sàng chấp nhận thỏa thuận, và giao tranh cứ thế tiếp diễn. Tuy nhiên, khi các bên tham chiến càng trở nên kiệt sức và cam chịu, thì khả năng về một giải pháp xác nhận tình trạng bế tắc càng tăng lên. Giống như Chiến tranh Triều Tiên, Chiến tranh Ukraine đã diễn ra cực kỳ bạo lực, với tổng số người tử trận nơi chiến trường lên tới hàng trăm nghìn và thương vong lên tới hàng triệu. (Ở Triều Tiên, cũng có hàng triệu thương vong dân sự.) Tiêu tốn một nỗ lực khổng lồ chỉ để thu về những thành quả quá đỗi nhỏ nhoi như vậy sẽ để lại một dấu ấn, và ở Ukraine cũng như ở Triều Tiên, một khi tiếng súng đã ngừng thì khó có khả năng nó sẽ bùng phát trở lại trong một sớm một chiều — một phần không nhỏ là nhờ vào sự cảnh giác nghiêm ngặt tại đường phân định.
LẦN NÀY CŨNG KHÔNG CÓ GÌ KHÁC
Cả bốn cuộc chiến đều mang đặc trưng của chính sách bên miệng hố chiến tranh hạt nhân. Khuôn mẫu này đã được thiết lập ở Triều Tiên, cuộc xung đột đầu tiên trong lịch sử mà nguy cơ xảy ra chiến tranh hạt nhân tổng lực giữa các liên minh tham chiến là một khả năng. Các cường quốc hạt nhân sẽ đe dọa sử dụng bom, hy vọng sẽ làm cho kẻ thù của họ sợ hãi mà nhượng bộ, nhưng chưa bao giờ thực sự làm vậy. Mỹ đã không sử dụng vũ khí hạt nhân ở Triều Tiên hay Việt Nam, Nga cũng chưa sử dụng chúng ở Ukraine, và cả Mỹ lẫn Israel sẽ không sử dụng chúng ở Iran, bất chấp những lời lẽ khoa trương về sự hủy diệt nền văn minh mà họ tung ra. Tuy nhiên, những áp lực đòi phổ biến vũ khí hạt nhân chắc chắn sẽ gia tăng. Ai nấy đều nhận ra rằng Ukraine bị tấn công chỉ sau khi nước này từ bỏ năng lực hạt nhân, và rằng một Triều Tiên sở hữu hạt nhân thì được an toàn trong khi một Iran phi hạt nhân lại nằm dưới đống đổ nát.
Cả bốn cuộc chiến cũng mang đặc trưng là những tranh chấp không chỉ giữa các đối thủ mà còn giữa các đối tác — điều này không có gì đáng ngạc nhiên, vì các nước lớn và các nước nhỏ có những lợi ích và trách nhiệm khác nhau. Ở đây, một lần nữa, khuôn mẫu đã được thiết lập ở Triều Tiên. Khi các cường quốc quyết định rằng họ đã sẵn sàng ngừng chiến đấu, họ bắt đầu kéo theo các đối tác nhỏ hơn của mình. Sau cái chết của Stalin, các nhà lãnh đạo mới của Liên Xô đã quyết định cắt giảm tổn thất và cho phép tiến hành một hiệp định đình chiến, trong khi Washington buộc Seoul phải chấp nhận một thỏa thuận mà nước này phản đối. Hai mươi năm sau, Washington cũng ép Sài Gòn phải làm điều tương tự. Cho đến nay, Ukraine vẫn đang chống lại những áp lực như vậy, nhưng nếu đến một lúc nào đó Nga sẵn sàng nhượng bộ để đạt được một thỏa thuận hợp lý, thì Mỹ và các đồng minh châu Âu của mình sẽ tìm cách đảm bảo rằng Kyiv phải chấp nhận nó. Và điều tương tự cũng sẽ đúng ở Iran: một khi chính quyền Trump tìm thấy tiếng nói chung với Cộng hòa Hồi giáo, Mỹ sẽ gạt đi mong muốn của Israel và các quốc gia Vùng Vịnh về việc duy trì một đường lối cứng rắn hơn.
Ngày nay có rất nhiều lời bàn tán vu vơ rằng thất bại của Washington trong việc đạt được các mục tiêu của mình ở Iran là dấu hiệu của một sự suy giảm quyền lực rộng lớn hơn không thể đảo ngược. “Trung Quốc ngày càng xem nước Mỹ của Trump như một Đế chế đang suy tàn” — đó chính là một tiêu đề xuất hiện gần đây trên tờ New York Times, và nhiều người ở trong và ngoài nước cũng đồng tình với điều này. Nhưng người ta cũng đã nói điều tương tự về thất bại khủng khiếp ở Việt Nam — chỉ để rồi Mỹ lại vực dậy từ thất bại của mình trong vòng vài năm và tiếp tục nhiều thập kỷ nắm giữ bá quyền toàn cầu. Không có gì đảm bảo cho một sự phục hưng địa chính trị nào khác giống như vậy, nhưng sự năng động đầy sáng tạo của chủ nghĩa tư bản Mỹ và khả năng tái tạo của nền dân chủ Mỹ đã tạo ra những phép màu trong nhiều thế kỷ và khó có khả năng sẽ ngừng làm như vậy ngay lúc này.
Có lẽ khía cạnh đáng chú ý nhất của tất cả những tương đồng lịch sử này là những mơ tưởng ngây thơ, lặp đi lặp lại và phổ biến trong giới lãnh đạo thời chiến, những người thản nhiên cho rằng sức mạnh quân sự có thể dễ dàng mang lại những lợi ích chính trị, rằng kẻ thù sẽ không đáp trả, và rằng việc lên kế hoạch chiến lược nghiêm túc là không cần thiết. Trong chiến tranh cũng như trên thị trường, những từ ngữ nguy hiểm nhất có lẽ là “lần này sẽ khác.”
Gideon Rose là nghiên cứu viên cấp cao tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại và là tác giả của cuốn How Wars End.
