Tại sao Mỹ và Trung Quốc vẫn cần ASEAN?

Nguồn: Kai He và Huiyun Feng, “The G-2’s Missing Link”, Foreign Affairs, 20/04/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Khi Tổng thống Mỹ Donald Trump và nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình gặp nhau tại Bắc Kinh vào giữa tháng 5, chuyến thăm này sẽ đánh dấu bước tiếp theo trong nỗ lực làm ổn định mối quan hệ quan trọng nhất thế giới. Lần cuối cùng hai nhà lãnh đạo gặp mặt trực tiếp tại Hàn Quốc vào cuối năm ngoái, ông Trump đã mô tả cuộc gặp là sự hội tụ của nhóm “G-2”. Đó có thể chỉ là một lời nhận xét bộc phát, nhưng việc nhắc đến khái niệm này — ngụ ý rằng Washington và Bắc Kinh sẽ cùng nhau thiết lập các điều khoản cho trật tự khu vực và thậm chí toàn cầu — đã gây chấn động khắp khu vực. Các đồng minh của Mỹ như Úc và Nhật Bản ngay lập tức tự hỏi liệu Washington có đang bỏ rơi họ và trao cho Bắc Kinh tầm ảnh hưởng lớn hơn hay không.

Trong quá khứ, cả Trung Quốc và Mỹ đều không chấp nhận bị gán cái mác G-2. Các quan chức Mỹ ngần ngại việc trao cho Trung Quốc sự ngang hàng về mặt biểu tượng, trong khi Bắc Kinh nghi ngờ Washington đang cố gắng khiến Trung Quốc phải chấp nhận những gánh nặng quốc tế mà họ không muốn gánh vác. Nhưng lần này, dù vô tình hay hữu ý, việc ông Trump sử dụng thuật ngữ G-2 đã phơi bày một sự thật khó chịu nhưng ngày càng không thể tránh khỏi: tại châu Á, Trung Quốc và Mỹ buộc phải cùng chung tay để mang lại sự ổn định ngay cả khi họ đang cạnh tranh quyết liệt. Bắc Kinh và Washington phải chia sẻ trách nhiệm lớn hơn trong việc quản trị các rủi ro địa chính trị, điều phối chính sách kinh tế và giảm thiểu khả năng tính toán sai lầm cũng như hiểu lầm xung quanh các điểm nóng như eo biển Đài Loan.

Nhưng hai quốc gia này cần sự giúp đỡ. Mối quan hệ của họ quá bấp bênh và phạm vi các thách thức của khu vực quá lớn để Trung Quốc và Mỹ có thể tự mình đảm bảo hòa bình khu vực. Một nhóm G-2 mới nổi phải thừa nhận các tổ chức khu vực vốn đã đóng vai trò quan trọng trong việc hạ nhiệt xung đột. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các diễn đàn, hội nghị thượng đỉnh liên quan từ lâu đã giúp kiềm chế những khía cạnh khốc liệt nhất của chính trị cường quốc bằng cách phân tán tầm ảnh hưởng, thể chế hóa đối thoại và đưa ra các lối thoát giữ thể diện trong các cuộc khủng hoảng. Các tổ chức như ASEAN và các nhánh của nó cung cấp những gì mà một nhóm G-2 không thể: sự đồng thuận của khu vực, một khung làm việc bao trùm để quản lý căng thẳng và các thông lệ ngoại giao giúp sự kiềm chế trở nên bền vững hơn.

Một nền hòa bình lâu dài ở châu Á sẽ sẽ được đảm bảo tốt nhất bằng cách kết hợp sự can dự Mỹ-Trung với các tiến trình ngoại giao của ASEAN — cái có thể gọi là mô hình ““G-2 cộng””. Một sự sắp xếp như vậy sẽ không phủ nhận thực tế cạnh tranh cường quốc, cũng không giả định rằng cuộc cạnh tranh này có thể được giải quyết triệt để. Thay vào đó, nó sẽ định hướng sự kình địch vào các tổ chức đa phương hiện có vốn đã có bề dày thành tích trong việc thúc đẩy đối thoại hiệu quả và giảm thiểu khả năng xung đột. Trong một khu vực mà chủ nghĩa dân tộc đang trỗi dậy và các điểm nóng địa chính trị đang nhân lên, một cách tiếp cận như vậy sẽ giữ cho Đông Á ổn định và bình lặng.

Gìn giữ hòa bình

Trong giai đoạn ngay sau chiến tranh, châu Á là nơi nguy hiểm nhất thế giới. Từ khi kết thúc Thế chiến II đến năm 1979, khu vực này chiếm khoảng 80% số tử vong do chiến sự toàn cầu. Tuy nhiên kể từ đó, khu vực đã hưởng nền hòa bình một cách đáng chú ý. Không có cuộc chiến tranh liên quốc gia lớn nào xảy ra, bất chấp ngân sách quân sự tăng vọt và ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc. Ngày nay, châu Á hòa bình hơn nhiều so với châu Âu và Trung Đông, những nơi đang bị chấn động bởi các cuộc chiến tranh đang diễn ra.

Nền hòa bình kéo dài này dựa trên khả năng của khu vực trong việc kiềm tỏa ba lực lượng gây bất ổn cơ bản: quyền lực, nghèo đói và sự ngờ vực. Như các nhà hiện thực cổ điển trong lý thuyết quan hệ quốc tế lập luận, các quốc gia luôn có xung lực muốn thống trị kẻ khác. Ở châu Á, thế cân bằng quyền lực giữa mạng lưới liên minh của Mỹ và một Trung Quốc đang lên đã kìm hãm xung lực này và tạo ra một trạng thái cân bằng tương đối ổn định. Đồng thời, nghèo đói và sự kém phát triển làm xói mòn năng lực quốc gia, tiếp nhiên liệu cho các cuộc nổi dậy và đưa vào các nguồn gây ma sát xuyên biên giới mới như dòng người tị nạn và khủng bố. Nhưng sự trỗi dậy công nghiệp của Nhật Bản đã thúc đẩy tăng trưởng khu vực từ những năm 1970 trở đi, và sự trỗi dậy kinh tế bùng nổ cùng các khoản đầu tư cơ sở hạ tầng của Trung Quốc thông qua Sáng kiến Vành đai và Con đường đã đưa hàng triệu người thoát khỏi nghèo đói và kết nối khu vực tốt hơn.

Tuy nhiên, sự ngờ vực là thứ khó quản lý hơn. Bản chất vô chính phủ của chính trị quốc tế, nơi không có cơ quan quyền lực bao trùm nào đảm bảo an ninh cho bất kỳ quốc gia nào, đồng nghĩa với việc ngay cả những bước đi mang tính phòng thủ cũng có thể bị hiểu lầm là tấn công. Điều này thúc đẩy các thế lưỡng nan an ninh kinh điển, trong đó nỗ lực cải thiện an ninh của một quốc gia có thể khiến các quốc gia khác cảm thấy kém an toàn hơn, thúc đẩy các phản ứng làm tăng nguy cơ cho tất cả mọi người. Châu Á dễ bị tổn thương trước những động lực này, đặc biệt là ở eo biển Đài Loan và Biển Đông, nơi các tín hiệu thường xuyên làm mờ đi ranh giới giữa răn đe và khiêu khích.

Chủ nghĩa đa phương lấy ASEAN làm trung tâm đã đóng một vai trò thầm lặng nhưng quan trọng trong việc xây dựng lòng tin trên toàn khu vực. Các định chế như Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) và Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, nơi thường xuyên quy tụ các nhà lãnh đạo từ khắp khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, cung cấp các địa điểm để thảo luận về các thách thức kinh tế, chính trị và an ninh ngày càng tăng. Họ đã nuôi dưỡng một văn hóa đối thoại và lồng ghép các biện pháp xây dựng lòng tin vào các thói quen ngoại giao của khu vực, giúp quản lý, nếu không muốn nói là giải quyết hoàn toàn, những tranh chấp nguy hiểm nhất của khu vực.

Các nhà phê bình thường chế nhạo ASEAN là kém hiệu quả vì tổ chức này không giải quyết được nhiều xung đột khu vực. Chẳng hạn, Campuchia và Thái Lan một lần nữa sa vào các cuộc đụng độ biên giới chết người. Nhưng giá trị thực sự của ASEAN nằm ở khả năng truyền tải lòng tin vào ngoại giao khu vực và ngăn chặn các căng thẳng biến thành xung đột. Kể từ khi thành lập, cái gọi là “phương thức ASEAN” về đối thoại, tham vấn, ngoại giao thầm lặng và không can thiệp đã giúp các quốc gia thành viên vượt qua sự ngờ vực sâu sắc vốn từng khiến Đông Nam Á bị gán cho cái tên “vùng Balkan của châu Á”.

Văn hóa tham vấn ngoại giao của ASEAN, vốn đòi hỏi phải đạt được sự đồng thuận trong việc ra quyết định, thường bị chỉ trích là quá chậm chạp, thận trọng và cứng nhắc. Tuy nhiên, chính nền văn hóa này đã cho phép ASEAN duy trì đối thoại ngay cả khi các điều kiện chính trị khiến việc hợp tác có ý nghĩa trở nên khó khăn. Điều này thể hiện rõ qua khả năng của ASEAN trong việc duy trì các kênh liên lạc với các chính thể như chính quyền quân sự Myanmar, nơi mà nhiều cường quốc bên ngoài ngần ngại hợp tác. Các cơ chế quản lý thảm họa của ASEAN, bao gồm một thỏa thuận có tính ràng buộc pháp lý về cách phối hợp ứng phó và cung cấp hỗ trợ khẩn cấp, cũng đã tạo điều kiện cho các hành động tập thể sau các cuộc khủng hoảng nhân đạo lớn như siêu bão Haiyan, cơn bão đã gây tàn phá tại Philippines vào năm 2013. Sự hợp tác như vậy thúc đẩy lòng tin, tạo ra thiện chí và giúp quân đội khu vực tác chiến cùng nhau.

Nghịch lý thay, điểm yếu bề ngoài của ASEAN cũng có thể là một trong những thế mạnh của nó. Bởi vì nó không gây ra mối đe dọa cho cả Bắc Kinh lẫn Washington, ASEAN cung cấp một không gian được chấp nhận về mặt chính trị cho sự can dự khi các mối quan hệ song phương bị căng thẳng. Giá trị của nó không nằm ở việc hóa giải sự ngờ vực giữa các cường quốc mà là ngăn sự ngờ vực đó đóng băng các hoạt động ngoại giao. Bằng cách giữ cho các kênh liên lạc luôn mở, đặc biệt là vào những thời điểm mà sự can dự trực tiếp trở nên tốn kém về mặt chính trị, ASEAN giúp đảm bảo rằng cạnh tranh không trượt dài thành đối đầu.

Không chỉ là sân chơi của hai siêu cường

Những lực lượng đã giữ cho Đông Á hòa bình suốt nửa thế kỷ qua đang đứng trước áp lực thực sự. Một cuộc chạy đua vũ trang đang thành hình giữa Trung Quốc và Mỹ đe dọa làm xáo trộn cán cân quyền lực khu vực. Việc Mỹ kiểm soát xuất khẩu chất bán dẫn và các biện pháp trả đũa của Trung Quốc đối với các khoáng sản quan trọng đã và đang chia cắt các chuỗi cung ứng, làm suy yếu sự phụ thuộc lẫn nhau vốn là nền tảng của sự ổn định khu vực. Và các nhóm an ninh mới, chẳng hạn như hiệp ước ba bên giữa Úc, Anh và Mỹ (AUKUS) và nhóm Bộ tứ (Quad) được hồi sinh bao gồm Úc, Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ, đã trấn an một số đồng minh và đối tác của Mỹ nhưng lại có nguy cơ gạt các quốc gia khác ra rìa — đặc biệt là các quốc gia nhỏ hơn ở Đông Nam Á, những nước đang ngày càng lo ngại rằng họ sẽ bị buộc phải chấp nhận những thỏa thuận giữa các cường quốc được đưa ra trên đầu trên cổ họ.

Việc lồng ghép một nhóm G-2 vào trong các tiến trình do ASEAN dẫn dắt đưa ra một giải pháp thay thế khả thi hơn so với việc để mặc quyền quyết định cho riêng Trung Quốc và Mỹ hoặc dựa chủ yếu vào các nhóm mới lấy Mỹ làm trung tâm như AUKUS hay Quad. Một nhóm G-2 không có các cơ chế kiểm soát khác có khả năng gây ra sự phản kháng từ các đồng minh và đối tác của Mỹ vốn cảnh giác với các thỏa thuận cường quốc, trong khi làm việc với ASEAN sẽ trấn an các quốc gia nhỏ hơn rằng họ có thể đóng một vai trò nào đó ngay cả khi Trung Quốc và Mỹ phải dẫn đầu. Một sự sắp xếp như vậy cũng sẽ cung cấp vỏ bọc ngoại giao cho cả Bắc Kinh và Washington, làm cho sự phối hợp có vẻ ít giống như một sự áp đặt của các cường quốc và giống như một cơ chế bao trùm để ổn định khu vực.

Một mô hình “G-2 cộng” sẽ bao gồm một khung quản lý khủng hoảng, điều phối kinh tế và tham vấn đa phương được neo giữ trong sự can dự lâu dài Mỹ-Trung và các tiến trình ngoại giao của ASEAN. Logic đằng sau nó rất đơn giản. Trung Quốc và Mỹ sẽ cung cấp năng lực để kiểm soát leo thang và giải quyết các thách thức lớn của khu vực, trong khi ASEAN cung cấp tính chính danh khu vực và áp lực để khuyến khích Bắc Kinh và Washington thực hiện sự kiềm chế chiến lược. Nếu hai cường quốc thường xuyên gặp nhau trong các khuôn khổ đa phương, điều đó sẽ làm rõ các tín hiệu mà họ muốn gửi cho nhau và cho khu vực, giảm thiểu khả năng hiểu sai có thể dẫn đến mất kiểm soát và tạo ra các lộ trình có thể dự đoán được để giảm căng thẳng. Các tiến trình bao trùm của ASEAN, vốn đòi hỏi sự tham vấn và sự đồng thuận rộng rãi của khu vực, sẽ làm tăng chi phí chính trị của việc leo thang bằng cách đặt các bước đi đơn phương dưới sự giám sát rộng rãi của khu vực, khiến cả hai bên khó hành động mà không làm mất lòng toàn bộ khu vực.

Các quan chức Trung Quốc và Mỹ có thể sử dụng các hội nghị thượng đỉnh và các cuộc họp cấp bộ trưởng do ASEAN dẫn dắt như những địa điểm thường trực để phối hợp xử lý khủng hoảng. ASEAN đã chứng minh họ có thể phục vụ chức năng này. Chẳng hạn, vào cao điểm của cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung năm 2025, cuộc gặp trực tiếp đầu tiên giữa Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio và Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị đã diễn ra bên lề một cuộc họp do ASEAN dẫn dắt. Singapore và các nước ASEAN khác cũng đã tổ chức nhiều cuộc đối thoại Kênh 1.5 và Kênh 2 giữa Mỹ và Trung Quốc chính xác là vì không bên nào muốn bị xem là đang đi vào lãnh thổ của đối phương trong bối cảnh kình địch đang gia tăng.

Việc lôi kéo ASEAN tham gia cũng sẽ mang lại nhiều nguồn lực hỗ trợ hơn và khuyến khích chia sẻ trách nhiệm trong việc cung cấp các hàng hóa công cộng của khu vực, bao gồm cứu trợ thảm họa và điều phối kinh tế để giảm bớt sự gián đoạn chuỗi cung ứng. Đây không phải là những cử chỉ mang tính biểu tượng. Ngược lại, chúng là những cách thực tế để neo giữ sự kình địch Mỹ-Trung vào các quy tắc, thói quen và kỳ vọng vốn sẽ giúp cho sự kiềm chế trở nên bền vững hơn.

Đối đầu trong vòng kiểm soát

Cạnh tranh giữa Trung Quốc và Mỹ mang tính cấu trúc, không phải là vấn đề của sự lựa chọn. Nó bắt nguồn từ một cán cân quyền lực đang thay đổi, các lợi ích chiến lược xung đột và những sự ngờ vực lẫn nhau mà không nhà lãnh đạo nào có thể đơn giản xóa bỏ bằng mong muốn. Nhưng cạnh tranh cấu trúc không nhất thiết có nghĩa là một bên thắng và một bên thua. Chẳng hạn, Mỹ đã tồn tại lâu hơn Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh, nhưng Nga vẫn là một cường quốc gây xáo trộn nhiều thập kỷ sau đó. Cố gắng giành chiến thắng tuyệt đối trong cuộc kình địch Mỹ-Trung, thay vì quản lý nó, có thể làm tăng khả năng xảy ra xung đột quân sự.

Một dàn xếp “G-2 cộng” sẽ có lợi cho cả Trung Quốc và Mỹ. Washington sẽ có thể cạnh tranh với Trung Quốc mà không làm các đồng minh lo lắng hay tỏ ra bỏ rơi khu vực cho sự mặc cả của các cường quốc, trong khi Bắc Kinh sẽ được khuyến khích đảm nhận một vai trò ổn định lớn hơn mà không cần phải thuyết phục các nước láng giềng rằng họ đang tìm kiếm sự dẫn dắt khu vực chứ không phải bá quyền. Và một mô hình “G-2 cộng” có thể củng cố chính ASEAN. Việc biến các diễn đàn do ASEAN dẫn dắt trở thành bối cảnh chính trị cho sự phối hợp cường quốc sẽ củng cố vị thế trung tâm của tổ chức, nâng cao tầm quan trọng ngoại giao của nó và trao cho nó một vai trò lớn hơn trong việc định hình phản ứng của khu vực đối với các cuộc khủng hoảng. Về lâu dài, nó có thể tạo ra một chu kỳ tích cực: ASEAN sẽ trở nên có giá trị hơn chính xác vì hai quốc gia mạnh nhất khu vực tiếp tục sử dụng nó như một nền tảng để quản lý những căng thẳng mà họ không thể tự giải quyết.

Trung Quốc và Mỹ không cần phải trở thành đối tác, nhưng họ cần tránh trở thành kẻ thù theo cách kéo cả khu vực xuống vực thẳm cùng với họ. Nhiệm vụ không phải là chấm dứt sự kình địch mà là quản lý nó một cách nghiêm ngặt để ngăn cạnh tranh leo thang thành đối đầu quân sự. Sự giám sát của khu vực và các rào chắn chính trị có thể tránh được kiểu cạnh tranh chỉ diễn ra thông qua chạy đua vũ trang, các tín hiệu cưỡng ép và các khối độc quyền. Xây dựng dựa trên những thế mạnh hiện có của ASEAN sẽ là điểm bắt đầu tốt nhất.

KAI HE là Giáo sư về Quan hệ Quốc tế tại Khoa Chính phủ và Quan hệ Quốc tế thuộc Đại học Griffith, đồng thời là Nghiên cứu viên Cao cấp không thường trực tại Viện Hòa bình Toda.

HUIYUN FENG là Giáo sư về Quan hệ Quốc tế tại Khoa Chính phủ và Quan hệ Quốc tế thuộc Đại học Griffith.