Chính sách “Bốn Không” của Việt Nam trong bối cảnh Mỹ lạm dụng vũ lực

Nguồn: Khang Vũ, “How Vietnam’s ‘Four Nos’ Can Help a Region Manage the U.S. Rogue Use of Force”, The Diplomat, 20/04/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Cuộc chiến của Mỹ chống lại Iran đang dạy cho Việt Nam hai bài học quan trọng theo thời gian thực. Thứ nhất, nó cho Việt Nam thấy những giới hạn của sức mạnh quân sự Mỹ. Iran, mặc dù bị bao vây bởi các đồng minh của Mỹ và sở hữu lực lượng hải quân lẫn không quân yếu thế hơn, vẫn có khả năng phong tỏa eo biển Hormuz và trụ vững về mặt chính trị trước các đợt oanh tạc dữ dội từ phía Mỹ. Mỹ sẽ có rất ít cơ hội chiến thắng nếu cố gắng thách thức kho vũ khí tối tân hơn nhiều của Trung Quốc.

Thứ hai, nó cho Hà Nội thấy trật tự quốc tế tự do hiện nay mong manh đến nhường nào khi Mỹ quyết định phá vỡ chính các nguyên tắc về chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và tự do thương mại của mình. Việc Washington cố tình làm suy yếu nền tảng của trật tự quốc tế nhằm ép buộc các đồng minh và đối tác nhượng bộ về tiền bạc và ảnh hưởng đã làm gia tăng sự hoài nghi của Hà Nội về thành ý của Mỹ với tư cách là một đối tác thương mại và an ninh.

Cách hành xử của Mỹ đã xác nhận tính đúng đắn của chính sách “Bốn Không” của Hà Nội: không liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế (điểm thứ tư được bổ sung vào năm 2019). Việc Mỹ sử dụng các căn cứ ở Trung Đông để ném bom Iran đã dẫn đến sự trả đũa của Iran nhằm vào các cơ sở hạ tầng quan trọng tại Ả Rập Saudi, Qatar, Kuwait, Jordan và UAE, đồng thời làm xáo trộn thế cân bằng mỏng manh của các quốc gia này giữa Washington và Tehran. Ngay cả những đồng minh ở xa như Nhật Bản, Hàn Quốc và Úc cũng bị chỉ trích vì không hỗ trợ mở lại eo biển Hormuz. Bằng cách không liên minh với Mỹ cũng như không cho phép tiếp cận các căn cứ, Việt Nam đồng thời đảm bảo rằng mình sẽ không trở thành mục tiêu trả đũa của Trung Quốc và không bị sa lầy vào các chiến dịch quân sự của Mỹ ở nơi khác.

Việc Washington tùy tiện sử dụng vũ lực hiện nay đòi hỏi Hà Nội phải chủ động hơn nữa với chính sách Bốn Không của mình. Sự phát triển kinh tế của Việt Nam cần một trật tự quốc tế có thể dự đoán được và cởi mở. Chính sách Bốn Không không nên chỉ được coi là một chính sách tự kiềm chế, mà còn là một công cụ để ràng buộc hành vi của các nước láng giềng và ngăn cản họ tập hợp thành các khối quân sự đối địch do sự coi thường trật tự quốc tế của Mỹ. Điều này đòi hỏi phải mở rộng phạm vi của Bốn Không ra ngoài lãnh thổ Việt Nam. Mục tiêu của Việt Nam nên rõ ràng: vận động tất cả các nước láng giềng và đối tác ngoại giao cùng tuân thủ Bốn Không trong các trao đổi song phương.

Việt Nam đã đưa ra chính sách “Ba Không” để ứng phó với sự tan rã của Liên Xô và trật tự thế giới do Moscow dẫn đầu vào năm 1991. Trong cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ ba (1978–1991), Hà Nội đã cho Liên Xô tiếp cận căn cứ hải quân Cam Ranh để Moscow có thể giám sát Trung Quốc và Đông Nam Á. Đồng thời, sự hiện diện quân sự của Việt Nam tại Lào và Campuchia đã tước đi khả năng Trung Quốc tấn công Việt Nam từ phía tây. Tuy nhiên, các nước láng giềng của Việt Nam coi hành động này và liên minh với Liên Xô là một mối đe dọa, dẫn đến việc họ sử dụng áp lực quân sự, kinh tế và ngoại giao để buộc Hà Nội phải chấm dứt việc sử dụng lãnh thổ của nước khác hoặc cho phép nước khác sử dụng lãnh thổ Việt Nam vì mục đích quân sự.

Do sự ủng hộ của Liên Xô suy giảm sau năm 1986, Hà Nội lần lượt phải rút quân khỏi Lào vào năm 1988 và Campuchia vào năm 1989. Đồng thời, Liên Xô cũng rút các máy bay chiến đấu và oanh tạc cơ khỏi Việt Nam, đồng thời giảm sự hiện diện tại Cam Ranh. Kể từ khi chính thức áp dụng vào năm 1998, Việt Nam đã coi Ba Không, và sau này là Bốn Không, là cốt lõi của chính sách quốc phòng và là sự khẳng định cam kết theo Hiệp định Paris 1991 về việc không đưa quân trở lại Campuchia. Sau khi hợp đồng thuê căn cứ hải quân của Nga hết hạn vào năm 2004, Hà Nội đã từ chối cho phép hải quân nước ngoài đồn trú thường trực tại đây. Việc kiềm chế sử dụng vũ lực và không cho lực lượng quân sự nước ngoài hiện diện trên lãnh thổ mình đã giúp Hà Nội bình thường hóa thành công quan hệ với Trung Quốc và các nước ASEAN, đồng thời góp phần đưa nền kinh tế tăng trưởng ở mức trung bình hàng năm 6,7% trong giai đoạn 1990–2024.

Bốn Không là nền tảng cho sự trỗi dậy kinh tế của Việt Nam và sự hội nhập của nước này vào trật tự thời hậu Liên Xô vì hai lý do. Thứ nhất, nó làm cho khuôn mẫu ứng xử của Việt Nam trở nên dễ dự đoán và cởi mở với các láng giềng. Các điểm nóng quân sự ở vùng lân cận đã không làm Hà Nội thay đổi lộ trình. Việt Nam tránh sử dụng vũ lực trong việc giải quyết các tranh chấp trên biển với Trung Quốc và các nước láng giềng ASEAN, và không giống như trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ ba, Việt Nam đã bác bỏ ý tưởng gửi quân tham gia vào cuộc xung đột biên giới Thái Lan–Campuchia gần đây. Các tuyến đường hàng hải ở Biển Đông vẫn mở bất chấp các tranh chấp của Việt Nam với Trung Quốc và các quốc gia khác. Tính dễ dự đoán làm giảm bớt nguy cơ chạy đua vũ trang trong khu vực, còn sự cởi mở thúc đẩy thịnh vượng và làm gia tăng cái giá của chiến tranh.

Thứ hai, Bốn Không giúp Việt Nam tránh bị kéo vào một cuộc cạnh tranh cường quốc tương tự như thời kỳ chia rẽ Trung–Xô. Bằng cách tự hạn chế quyền lựa chọn đồng minh của chính mình, Việt Nam đảm bảo rằng các đối tác cường quốc không phải lo lắng về việc phải giành được sự liên minh của Việt Nam bằng mọi giá nhằm ngăn các cường quốc khác tiếp cận các căn cứ và nguồn lực của nước này. Việc Việt Nam từ chối gia nhập bất kỳ liên minh nào đã hóa giải thế lưỡng nan an ninh đồng minh. Sự tham gia của Việt Nam vào một tổ chức quốc tế cụ thể, chẳng hạn như Hội đồng Hòa bình của Tổng thống Mỹ Donald Trump, không có nghĩa là Hà Nội đang đứng về phía cường quốc này để chống lại cường quốc kia. Ngược lại, việc gia nhập nhiều tổ chức và diễn đàn quốc tế đa dạng càng củng cố thêm vị thế không liên kết của Việt Nam.

Trong bối cảnh Mỹ đang suy yếu tương đối so với Trung Quốc, Washington có thể tìm kiếm các căn cứ ở Đông Nam Á hoặc đơn phương sử dụng vũ lực để thách thức sự kiểm soát ngày càng tăng của Trung Quốc đối với Chuỗi đảo thứ nhất. Chính sách Bốn Không của Việt Nam có thể được vận dụng để quản trị việc Washington tùy tiện sử dụng vũ lực và sự suy tàn của trật tự do Mỹ dẫn dắt. Ngoài việc đơn phương hạn chế hành vi của chính mình, Việt Nam phải nỗ lực hạn chế hành vi của các bên khác thông qua các cam kết song phương nhằm duy trì trật tự khu vực theo hướng dễ dự đoán và cởi mở. Điều này có nghĩa là Việt Nam nên thuyết phục các đối tác cam kết từ bỏ việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và không cho quân đội nước ngoài đồn trú trên lãnh thổ của họ. Nếu Việt Nam mở rộng thành công Bốn Không đến các đối tác, điều đó sẽ thuyết phục các cường quốc không gây áp lực buộc các quốc gia Đông Nam Á phải cho đặt căn cứ quân sự hoặc chọn bên trong các cuộc kình địch chiến lược của họ. Khi đó, sẽ không có quốc gia nào sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để phong tỏa eo biển Malacca và Biển Đông. Việc bác bỏ sự can thiệp của các cường quốc vào các vấn đề khu vực, chẳng hạn như trong các cuộc giao tranh biên giới Thái Lan–Campuchia, là điều bắt buộc để duy trì trật tự khu vực.

Một cam kết song phương về Bốn Không từ các đối tác khu vực cũng sẽ mang lại lợi ích trực tiếp cho Việt Nam. Sự hiện diện quân sự của Việt Nam tại Lào và Campuchia trước đây nhằm ngăn chặn các nước này bị lợi dụng làm bàn đạp cho các cuộc tấn công nhằm vào Việt Nam. Việt Nam có thể đạt được mục tiêu tương tự với chi phí thấp hơn nhiều nếu các đối tác ngoại giao cam kết không sử dụng lãnh thổ của chính họ hoặc của nước khác để chống lại Việt Nam. Đồng thời, việc các nước láng giềng không cho nước ngoài đặt căn cứ sẽ khiến họ không còn trông cậy vào sự hỗ trợ bên ngoài để leo thang các tranh chấp hiện có, đồng thời ngăn họ trở thành mục tiêu quân sự trong trường hợp xảy ra xung đột.

Bên cạnh mối đe dọa mà Việt Nam cảm nhận từ Mỹ đối với thể chế chính trị của mình, việc Washington tùy tiện sử dụng vũ lực giờ đây cũng nổi lên như một mối đe dọa không kém phần nghiêm trọng. Hà Nội không chỉ muốn Washington tôn trọng chính phủ cộng sản của mình mà còn cả trật tự mà nước này cần để phát triển kinh tế mạnh mẽ. Một cách diễn giải rộng hơn về chính sách Bốn Không sẽ góp phần bổ sung nội hàm cho “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Chính sách Bốn Không của Việt Nam đã giúp đất nước đứng ngoài cuộc cạnh tranh cường quốc trong hơn ba thập kỷ; nó cũng có thể giúp giữ cho cả khu vực đứng ngoài vòng cạnh tranh đó.

Khang Vũ là học giả thỉnh giảng tại Khoa Khoa học Chính trị thuộc Đại học Boston College.