NATO vẫn đang trong tình trạng yếu ớt

Nguồn: Stephen M. Walt, “NATO Is Still a Sick Puppy,” Foreign Policy, 13/07/2026

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Hội nghị thượng đỉnh Ankara chỉ trì hoãn việc giải quyết các vấn đề.

Hội nghị thượng đỉnh NATO năm 2026 đã khép lại, nhưng chưa chắc sẽ đi vào lịch sử. Nếu bạn từng hy vọng cuộc họp này sẽ khơi dậy một mục tiêu chung và làm mới tinh thần đoàn kết xuyên Đại Tây Dương, tôi rất thông cảm với bạn. Nếu bạn cho rằng hội nghị tại Ankara sẽ đánh dấu hồi chuông báo tử của NATO, có lẽ vì một cơn thịnh nộ bốc đồng điển hình nào đó của Trump, thì điều đó cũng không xảy ra. Thay vào đó, những gì diễn ra là một nỗ lực có chủ ý và tương đối thành công nhằm phớt lờ những căng thẳng hiển nhiên, tránh tạo ra các tiêu đề lớn trên mặt báo và tiếp tục trì hoãn việc giải quyết những vấn đề cốt lõi.

Tuy nhiên, không ai nên ảo tưởng: liên minh này đang ở trong tình trạng rất yếu ớt. Nếu mỗi hội nghị thượng đỉnh NATO đều được triệu tập trong bầu không khí lo sợ rằng thành viên mạnh nhất của khối có thể phá hỏng tất cả rồi rút lui, và kết thúc bằng tiếng thở phào nhẹ nhõm của cả tập thể vì viễn cảnh đó đã được ngăn chặn, thì đây khó có thể được xem là dấu hiệu đáng an tâm về sự gắn kết chiến lược hay các giá trị chung.

Rất dễ quy toàn bộ những căng thẳng xuyên Đại Tây Dương hiện nay cho Tổng thống Mỹ Donald Trump – tôi sẽ trở lại vấn đề này ở phần sau – nhưng vấn đề cốt lõi của NATO mang tính cấu trúc. Bản thân các liên minh quân sự không phải là mục đích cuối cùng; chúng chỉ là công cụ để các quốc gia tìm cách tăng cường an ninh trước một mối đe dọa chung. Và bất kể quan điểm của bạn về nước Nga hiện nay ra sao, các thành viên NATO không còn đối mặt với một môi trường đe dọa rõ ràng, cấp bách và đòi hỏi mức độ tập trung cao như khi liên minh được thành lập vào năm 1949. Chắc chắn, Nga là một láng giềng đáng lo ngại, nhưng nước này không phải là một siêu cường toàn cầu như Liên Xô trước đây; vì vậy, việc xem Nga là một mối đe dọa bá quyền nghiêm trọng đối với châu Âu không thật sự thuyết phục. Các thành viên châu Âu của NATO cũng không hoàn toàn nhất trí về mức độ nguy hiểm thực sự của Moscow, và thậm chí không rõ liệu chính quyền Trump có còn xem Nga là một mối đe dọa hay không.

Sự trỗi dậy của Trung Quốc từ lâu đã khiến sự chú ý chiến lược của Mỹ dịch chuyển khỏi châu Âu, bởi Trung Quốc là một đối thủ cạnh tranh ngang tầm thực sự – còn Nga thì không – và bởi châu Á hiện là đấu trường kinh tế quan trọng hơn. Tôi không cho rằng châu Âu không còn quan trọng hay NATO không còn giá trị; vấn đề chỉ là thứ chất keo từng gắn kết châu Âu với Mỹ đã bắt đầu bị bào mòn từ rất lâu trước khi Trump bước vào chính trường.

Từ đó, có thể thấy rõ NATO cần một sự phân công trách nhiệm mới, trong đó các thành viên châu Âu từng bước đảm nhận vai trò chính trong việc bảo vệ chính mình, còn Washington tập trung nhiều nguồn lực và sự chú ý hơn cho châu Á. Trong kịch bản lý tưởng, quá trình chuyển dịch này nên diễn ra dần dần trong khoảng một thập niên, không đi kèm sự thù địch, với việc Mỹ hỗ trợ các đồng minh tái xây dựng lực lượng và hợp tác cùng họ để thích ứng với những yêu cầu đang thay đổi trên chiến trường. Một NATO được tái cân bằng vẫn sẽ là tài sản quan trọng đối với Mỹ và các thành viên khác: một phần vì nó giúp duy trì sự ổn định ở châu Âu – qua đó mang lại lợi ích cho tất cả các bên – và một phần vì trong nhiều tình huống, bao gồm các cuộc xung đột tại châu Phi và Trung Đông, hợp tác với đồng minh sẽ hiệu quả hơn nhiều so với hành động đơn phương.

Tiếc thay, khả năng thực hiện quá trình điều chỉnh một cách suôn sẻ và êm đẹp đã bị loại bỏ khi Trump tái đắc cử vào năm 2024, rồi sau đó áp dụng cách tiếp cận mang tính ép buộc và công khai đối với các đồng minh châu Âu của Mỹ. Thái độ xem thường châu Âu của Trump vốn đã tồn tại từ lâu, thể hiện qua tuyên bố sai lệch của ông rằng Liên minh châu Âu được lập ra để “chơi xỏ Mỹ”, cũng như qua sự khinh miệt mà ông dành cho các quan chức châu Âu, kể cả những người từng được ông ủng hộ như Thủ tướng Ý Giorgia Meloni. Những lời đe dọa lặp đi lặp lại về việc chiếm Greenland, việc áp đặt các mức thuế quan tùy tiện và mang tính trừng phạt, cùng những màn ve vãn không dứt với Tổng thống Nga Vladimir Putin, tất cả đều cho thấy cam kết của Trump đối với an ninh và sự thịnh vượng của châu Âu mong manh đến mức nào. Bài phát biểu mang tính công kích của Phó Tổng thống Mỹ J.D. Vance tại Hội nghị An ninh Munich năm 2025 – sau đó được Ngoại trưởng Marco Rubio lặp lại dưới một hình thức mềm mỏng hơn đôi chút vào tháng 2 năm nay – cũng hoàn toàn phù hợp với cách tiếp cận của Trump. Ngay cả việc buộc Đại tướng Lục quân Mỹ Christopher Donahue – một sĩ quan xuất sắc và rất được châu Âu đánh giá cao – phải nghỉ hưu sớm cũng có thể được xem là một biểu hiện của thái độ coi thường ấy.

Công bằng mà nói, Trump và những người tiền nhiệm của ông có lý khi phàn nàn về việc châu Âu trước đây đã đầu tư quá ít cho quốc phòng. Thậm chí, người ta còn có thể lập luận rằng cách tiếp cận thô bạo, bất chấp hậu quả của ông đã góp phần phá vỡ tâm lý tự mãn kéo dài hàng thập kỷ tại châu Âu. Hiện nay, châu Âu đang triển khai chương trình tái vũ trang lớn nhất kể từ sau Thế chiến II – một nỗ lực vốn sẽ có nhiều cơ hội thành công hơn nếu Mỹ không đồng thời phát động một cuộc chiến thương mại với chính các đồng minh của mình và lao vào một cuộc chiến nóng với Iran. Không chỉ khiến người nộp thuế Mỹ phải gánh thêm một khoản chi phí khổng lồ, những sai lầm này còn làm suy yếu nền kinh tế châu Âu đúng vào thời điểm họ đang cố gắng thay thế vai trò của Mỹ.

Trump cũng cho rằng Mỹ đang gánh quá nhiều trách nhiệm trong việc hỗ trợ Ukraine, nhưng trên thực tế, Liên minh châu Âu và từng quốc gia châu Âu đang ngày càng nỗ lực hơn trong vấn đề này. Tổng thống Mỹ cũng phàn nàn rằng các thành viên NATO không hỗ trợ ông ở Vịnh Ba Tư. Nhưng ông còn có thể mong đợi điều gì sau khi tự phát động một cuộc chiến ngu ngốc mà không hề tham khảo ý kiến các đồng minh, để rồi chứng kiến nó thất bại thảm hại? Tại sao các đồng minh lại phải mạo hiểm lực lượng hải quân của mình để mở lại Eo biển Hormuz, trong khi ngay cả Hải quân Mỹ cũng chưa thể hoàn thành nhiệm vụ đó?

Vậy điều đó đặt NATO vào vị thế nào? Trước hết, các nhà lãnh đạo châu Âu đều hiểu rằng cam kết của Mỹ không còn đáng tin cậy như trước và cuối cùng họ vẫn phải tự lực cánh sinh. Ngay cả khi cử tri Mỹ bầu lên một nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa Đại Tây Dương kiên định vào năm 2028 (tức là không phải Vance hay Rubio), những yếu tố mang tính cấu trúc đang làm suy yếu liên minh vẫn sẽ tồn tại, và người châu Âu sẽ không bao giờ có thể chắc chắn rằng một “phiên bản mới” nào đó của Trump sẽ không quay trở lại Nhà Trắng. Đúng là những biến động trong chính trị nội bộ của châu Âu, cùng những khó khăn cố hữu của hành động tập thể, đã làm chậm nỗ lực giảm sự phụ thuộc vào Mỹ. Nhưng tiến trình đó sẽ không dừng lại.

Thứ hai, hội nghị thượng đỉnh Ankara cũng cho thấy châu Âu ngày càng xem Trump là một người không nên được hiểu theo nghĩa đen hay đánh giá quá nghiêm túc. Họ hiểu rằng ông sẽ tiếp tục diễn trước ống kính và thỉnh thoảng lại nổi cơn thịnh nộ – chẳng hạn như lời đe dọa vô nghĩa về việc cắt đứt quan hệ thương mại với Tây Ban Nha. Vì vậy, phản ứng khôn ngoan nhất là phớt lờ những lời đe dọa suông của Trump, đồng thời từng bước giảm sự phụ thuộc vào Mỹ. Tôi đồng tình với Paul Krugman khi ông ví các đồng minh của Mỹ ngày càng xem Trump như một ông bác giàu có nhưng lẩm cẩm, người mà đám cháu vẫn nhẫn nhịn vì hy vọng được có tên trong di chúc. Nhưng như Nathalie Tocci, thuộc cơ sở châu Âu của Trường Nghiên cứu Quốc tế Tiên tiến (SAIS), Đại học Johns Hopkins, nhận xét với New York Times: “Những lời lăng mạ lặp đi lặp lại và những lời đe dọa sáo rỗng của Trump đang dần mất tác dụng.” Quả thực, như chúng ta đã chứng kiến tại Ankara, các nhà lãnh đạo châu Âu giờ đây chỉ lịch sự gật đầu, dành cho Trump những lời tâng bốc vô thưởng vô phạt mà ông luôn khao khát, rồi bỏ ngoài tai phần lớn những gì ông nói và âm thầm theo đuổi tính toán của riêng mình.

Ở thời điểm hiện tại, ưu tiên hàng đầu của các nước châu Âu là tranh thủ khoảng thời gian và sự hỗ trợ quân sự của Mỹ cần thiết để xây dựng một năng lực phòng thủ đủ mạnh. Họ cũng muốn ngăn Mỹ từ bỏ Ukraine hoàn toàn, qua đó buộc Nga tiếp tục phải trả giá đắt về cả tiền của lẫn sinh mạng và cuối cùng chấm dứt cuộc chiến theo những điều kiện mà Kyiv có thể chấp nhận. Vì vậy, cam kết của Trump về việc cấp phép để Ukraine sản xuất tên lửa phòng không Patriot là một tín hiệu tích cực, dù sẽ phải mất nhiều năm nữa Ukraine mới có thể tự sản xuất được loại tên lửa hiện đại này. Tại sao điều đó lại quan trọng? Đơn giản vì cam kết ấy phản ánh lập trường ủng hộ Kyiv rõ ràng hơn những gì Trump từng thể hiện trước đây. Và mặc dù rất khó đặt niềm tin vào các cam kết răn đe hạt nhân của Mỹ – liệu có ai thực sự tin rằng Trump sẽ mạo hiểm Mar-a-Lago để bảo vệ bất kỳ vùng lãnh thổ nào ở châu Âu? – thì việc duy trì mối quan hệ ở một mức độ nhất định vẫn có thể tạo ra hiệu ứng răn đe. Không một nhà lãnh đạo tỉnh táo nào muốn phát động chiến tranh hạt nhân chỉ để bảo vệ một đồng minh ở nước ngoài, nhưng bất kỳ bên nào có ý định gây hấn cũng phải tính đến khả năng một cuộc xung đột thông thường có thể leo thang ngoài dự kiến do tai nạn hoặc tính toán sai lầm. Với cái giá khủng khiếp của việc sử dụng vũ khí hạt nhân, chỉ riêng khả năng tồn tại một “yếu tố ngẫu nhiên” như vậy cũng có thể đủ để ngăn chặn hành động phiêu lưu quân sự.

Tóm lại, mục tiêu chủ yếu của hội nghị thượng đỉnh Ankara là bảo đảm mọi việc diễn ra càng êm thấm càng tốt. Mục tiêu đó đã đạt được. Nhưng đừng nhầm lẫn điều ấy với bằng chứng cho thấy NATO đang ở trong tình trạng hết sức khỏe mạnh.

Stephen M. Walt là cây bút bình luận của Foreign Policy và là Giáo sư Quan hệ Quốc tế tại Đại học Harvard. Ông cũng là tác giả của The New Geopolitics, một khóa học chuyên sâu gồm năm phần được phát hành qua bản tin, phân tích những khái niệm địa chính trị cốt lõi giúp người đọc định hướng trong thế giới đương đại.