Nguồn: Stephen M. Walt, “Why the United States Keeps Losing Wars”, Foreign Policy, 05/08/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Nếu bạn là người Mỹ, có lẽ bạn đã phát ngán với chuỗi thất bại quân sự nối tiếp nhau. Tôi cũng vậy. Và rất có thể bạn sẽ tự hỏi: “Tại sao chuyện này cứ lặp đi lặp lại?” Đó là một nghịch lý vừa kỳ lạ vừa đáng thất vọng. Suốt nhiều thập kỷ, Mỹ vẫn là quốc gia hùng mạnh nhất thế giới, sở hữu một quân đội có ngân sách và năng lực thực tế gần như không đối thủ. Thế nhưng, lịch sử chiến tranh gần đây của nước này lại chủ yếu được đánh dấu bằng những thất bại. Trong số đó có cả cuộc chiến hiện nay với Iran, vốn chưa đạt được bất kỳ mục tiêu nào mà chính quyền Trump đề ra và thậm chí có nguy cơ kết thúc bằng việc Iran giành được một vị thế chiến lược mạnh hơn đáng kể.
Hãy nhìn vào danh sách. Chiến tranh Triều Tiên kết thúc trong thế hòa, điều tôi sẽ quay lại sau. Việt Nam là một thất bại rõ ràng, cũng như Chiến tranh Iraq năm 2003 và “cuộc chiến không hồi kết” tại Afghanistan. Chiến tranh Kosovo năm 1999 cũng khó có thể được xem là một chiến thắng, bởi Serbia cuối cùng giành được những điều kiện có lợi hơn so với những gì họ từng được đề nghị trước khi giao tranh nổ ra. Trừ phi bạn tính cả cuộc xâm chiếm đảo quốc nhỏ bé Grenada năm 1983, một sự chênh lệch lực lượng quá lớn để có thể coi là một chiến thắng đáng kể, thì chiến thắng rõ ràng duy nhất của Mỹ trong suốt nhiều thập kỷ qua chỉ là Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991. Vâng, tôi biết: Mỹ và các đồng minh đã “thắng” Chiến tranh Lạnh. Nhưng đó là một ngoại lệ chứng minh cho quy luật, bởi “cuộc chiến” này chưa bao giờ dẫn tới một cuộc xung đột vũ trang trực tiếp giữa Mỹ và Liên Xô.
Vậy tại sao Mỹ lại thể hiện kém cỏi đến thế? Chắc chắn không phải vì thiếu tiền, nếu nhìn vào quy mô ngân sách quốc phòng Mỹ và sự sẵn lòng của Quốc hội trong việc phê duyệt thêm các khoản chi bất cứ khi nào được yêu cầu. Cũng không phải vì thiếu hỏa lực. Mỹ vẫn cực kỳ giỏi trong việc san phẳng mọi thứ, kể cả tại những nơi cách xa bờ biển của mình. Năng lực đó có thể đã suy giảm phần nào ở thời điểm hiện tại, khi Tổng thống Donald Trump và Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth đã phung phí một phần kho tên lửa tiên tiến của đất nước trong cuộc chiến ngớ ngẩn chống Iran. Nhưng điều đó vẫn không giải thích được tại sao Mỹ liên tục không thể giành chiến thắng. Nguyên nhân cũng không nằm ở sự thiếu dũng cảm của binh sĩ Mỹ. Họ vẫn sẵn sàng lao vào hiểm nguy, thường với lòng can đảm đáng khâm phục. Và chắc chắn vấn đề cũng không phải vì binh sĩ Mỹ thiếu testosterone, bất kể vị bộ trưởng chiến tranh chuyên thua trận đáng thương của chúng ta nghĩ gì.
Nguyên nhân thực sự khiến Mỹ liên tục thất bại mang tính chiến lược và cấu trúc. Mỹ thường tự lựa chọn tham gia những cuộc chiến trong đó lợi ích của mình chỉ ở mức tương đối hạn chế, nhưng mục tiêu lại cực kỳ tham vọng, chẳng hạn cố gắng tái định hình một xã hội nước ngoài theo hình mẫu Mỹ. Kết quả là đối thủ thường có quyết tâm chiến đấu cao hơn Washington rất nhiều, bởi họ có nhiều thứ để mất hơn. Họ chiến đấu vì sự sống còn hoặc ít nhất là để bảo vệ nền độc lập và quyền tự chủ của mình. Trong khi đó, trong phần lớn trường hợp, Mỹ chiến đấu cho những mục tiêu có thể đáng mong muốn nhưng xét cho cùng không thực sự thiết yếu. Trong những điều kiện như vậy, không có gì khó hiểu khi đối thủ sẵn sàng hy sinh nhiều hơn Mỹ. Giống như trong hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả, các cuộc xung đột bất đối xứng, bên yếu hơn không cần phải giành một chiến thắng áp đảo trên chiến trường. Họ chỉ cần không chịu thua và chờ cho cường quốc mạnh hơn nhận ra rằng tiếp tục đổ binh lính và tiền bạc vào một vũng lầy là điều không đáng.
Công thức đơn giản đó giải thích rất nhiều về những cuộc chiến gần đây của Mỹ. Tại Bán đảo Triều Tiên, Mỹ thực sự bảo vệ những lợi ích quan trọng. Một chiến thắng hoàn toàn của phe cộng sản mà không gặp kháng cự có thể làm thay đổi đáng kể cục diện Chiến tranh Lạnh tại châu Á. Nhưng Trung Quốc coi nỗ lực thống nhất bán đảo dưới sự hậu thuẫn của Mỹ là một mối đe dọa sống còn, và cuối cùng đã hy sinh ít nhất 200.000 binh sĩ, có lẽ còn nhiều hơn, để ngăn chặn kịch bản đó. Sau ba năm giao tranh khốc liệt, kết quả cuối cùng về cơ bản chỉ là một thế hòa.
Tại Việt Nam, Mỹ phải đối mặt với chủ nghĩa dân tộc mãnh liệt của phong trào cộng sản Việt Nam, lực lượng trước đó đã đánh bại ách thống trị thực dân Pháp và chứng minh rằng họ không thể dễ dàng bị dập tắt. Giới lãnh đạo Mỹ từng thuyết phục được công chúng rằng việc ngăn cộng sản chiến thắng là một lợi ích thiết yếu, chủ yếu bằng cách phóng đại nỗi sợ về hiệu ứng domino và sự suy giảm uy tín. Nhưng cuối cùng, công chúng Mỹ quay lưng với một cuộc chiến dường như không có hồi kết, buộc Washington phải rút quân và mở đường cho chiến thắng sau cùng của Hà Nội.
Cục diện tương tự cũng dẫn đến những kết quả tồi tệ tại Iraq và Afghanistan. Saddam Hussein là một kẻ gây rắc rối, nhưng đến năm 2003 ông ta đã bị kiềm chế, các chương trình vũ khí của Iraq đã bị triệt phá, và Saddam không đóng bất kỳ vai trò nào trong vụ khủng bố ngày 11/9. Vì vậy, việc lật đổ ông ta không phải là một lợi ích sống còn của Mỹ, bất kể giới tân bảo thủ Mỹ, những người mơ mộng về việc biến Trung Đông thành một biển các nền dân chủ thân Mỹ, đã tuyên bố điều gì. Việc đánh đổ Saddam tương đối dễ dàng, qua đó cũng cho thấy ông ta thực ra không nguy hiểm đến mức nào. Nhưng lực lượng chiếm đóng nhanh chóng vấp phải một cuộc nổi dậy mạnh mẽ phản đối sự thống trị từ bên ngoài, được Iran và Syria hậu thuẫn, bởi cả hai đều không muốn trở thành cái tên tiếp theo trong danh sách bị Washington xâm lược. Thêm một cuộc chiến tự chọn với mục tiêu quá tham vọng lại biến thành một thảm họa tốn kém. Nghe quen không?
Ở Afghanistan, sự kết hợp giữa thiếu hiểu biết, chủ nghĩa lý tưởng và tầm quan trọng chiến lược hạn chế cuối cùng đã đẩy nỗ lực chiến tranh của Mỹ vào ngõ cụt. Washington có lý do chính đáng để truy lùng Osama bin Laden và những người Taliban che chở cho hắn. Nhưng việc tiếp tục ở lại để biến Afghanistan thành một nền dân chủ kiểu phương Tây đã châm ngòi cho sự kháng cự quyết liệt từ một xã hội vốn hoàn toàn xứng đáng với danh xưng “mồ chôn của các đế chế”. Cuối cùng, phe nổi dậy quan tâm đến việc đuổi Mỹ ra khỏi đất nước hơn rất nhiều so với việc Washington quan tâm đến việc đánh bại họ, nếu điều đó thậm chí có thể làm được. Và rồi Trump, trong nhiệm kỳ đầu, sau đó là Tổng thống Joe Biden, đã khép lại một cuộc xung đột mà từ lâu đã trở thành một trò tiêu khiển vô nghĩa.
Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991 là ngoại lệ rõ ràng trong thành tích kém ấn tượng của Washington. Nói một cách nghiêm ngặt, đây cũng là một “cuộc chiến tự chọn”, theo nghĩa Mỹ hoàn toàn có thể để Iraq chiếm Kuwait mà không phải đối mặt với mối đe dọa trực tiếp nào đối với an ninh của chính mình. Tuy nhiên, về lâu dài, việc Iraq kiểm soát Kuwait và nguồn thu dầu mỏ của nước này có thể làm thay đổi cán cân quyền lực ở vùng Vịnh theo những hướng đáng lo ngại. Chính quyền George H.W. Bush cũng lo ngại rằng nếu dung túng cho một hành động xâm lược không bị trừng phạt, điều đó có thể tạo ra một tiền lệ nguy hiểm. Điều quan trọng là trong trường hợp này, mục tiêu của Mỹ tương xứng với lợi ích của Mỹ. Washington và các đồng minh đánh bật Iraq khỏi Kuwait, phá hủy phần lớn sức mạnh quân sự của Baghdad, đồng thời áp đặt các cuộc thanh sát nghiêm ngặt của Liên Hợp Quốc nhằm triệt phá các chương trình vũ khí. Nhưng Tổng thống George H.W. Bush đã khôn ngoan quyết định không “tiến đánh Baghdad” và lật đổ chế độ. Làm như vậy sẽ vượt quá thẩm quyền do Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc trao, đồng thời buộc Mỹ phải chiếm đóng và cai quản một xã hội bị chia rẽ và đầy phẫn uất. Nhờ mục tiêu phù hợp với lợi ích và việc Bush kết thúc chiến tranh một cách dứt khoát, cuộc chiến này được xem một cách chính đáng là một thành công vang dội.
Tuy nhiên, đối với một siêu cường, việc đồng bộ hóa lợi ích với mục tiêu không hề dễ dàng. Bởi Mỹ quá mạnh và xét cho cùng quá an toàn, không có nhiều cuộc xung đột trong đó các lợi ích thực sự sống còn của họ bị đe dọa và những hy sinh lớn lao, như trong Thế chiến II, có thể dễ dàng được biện minh. Đồng thời, sức mạnh và ưu thế công nghệ của Mỹ cũng khiến việc can thiệp vào đủ loại nơi trên thế giới trở nên dễ dàng, từ đó khiến giới hoạch định chính sách tự thuyết phục mình rằng những cuộc chiến đó sẽ dễ thắng. Tóm lại, vấn đề không phải là Mỹ chiến đấu kém. Vấn đề là nước này thường tham gia sai cuộc chiến vì những mục tiêu sai lầm, qua đó làm suy giảm lòng tin của đồng minh vào khả năng phán đoán của Washington và khiến việc cạnh tranh với những đối thủ thực sự như Trung Quốc trở nên khó khăn hơn.
Vậy tại sao chuyện này cứ tiếp diễn, ngay cả dưới thời một tổng thống từng lớn tiếng phản đối những cuộc chiến không hồi kết và khẳng định mình là “ứng cử viên hòa bình”? Có rất nhiều nguyên nhân, nhưng một trong số đó là sự miễn cưỡng kéo dài của giới tinh hoa chính sách đối ngoại Mỹ trong việc chịu trách nhiệm và rút kinh nghiệm từ những sai lầm trong quá khứ. Một minh họa hoàn hảo có thể được tìm thấy trong cuộc phỏng vấn gần đây của Robert Kagan với Responsible Statecraft. Cần ghi nhận rằng Kagan đã công khai chỉ trích cuộc chiến của Trump với Iran. Nhưng ông từ lâu vẫn là một người ủng hộ kiên định đường lối đối ngoại can thiệp và từng là một trong những tiếng nói công khai nổi bật nhất ủng hộ Chiến tranh Iraq năm 2003. Khi được hỏi liệu cuộc chiến đó có phải là một sai lầm hay không, ông trả lời: “Tôi không chắc việc thừa nhận đó là một sai lầm thì có ích gì. Nó sẽ chẳng làm ai sống lại cả.” Ông còn nói thêm rằng điều khiến ông tiếc nuối nhất là cuộc chiến đó đã làm suy giảm sự ủng hộ của công chúng đối với kiểu chính sách đối ngoại can thiệp mà ông vẫn ưa chuộng.
Chừng nào sự miễn cưỡng thừa nhận sai lầm và gánh vác trách nhiệm còn phổ biến trong giới hoạch định chính sách đối ngoại Mỹ, bao gồm cả phần lớn thế giới MAGA hiện nay, thì người Mỹ vẫn sẽ phải làm quen với thêm nhiều nỗi thất vọng.
Stephen M. Walt là chuyên gia bình luận của Foreign Policy và Giáo sư Quan hệ Quốc tế tại Đại học Harvard.

