
Nguồn: Alexander Gabuev, Alexandra Prokopenko và Tatiana Stanovaya, “Why a Weaker Russia Keeps Fighting,” Foreign Affairs, 31/07/2026
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Đó là bởi Putin thấy không có nhiều lý do để đàm phán.
Cuối tháng 6 vừa qua, Tổng thống Nga Vladimir Putin trả lời một cuộc phỏng vấn, trong đó ông một lần nữa tuyên bố Nga sẽ giành chiến thắng trong cuộc chiến chống Ukraine. Ông khẳng định quân đội Nga đang tiến lên dọc chiến tuyến dài hơn 1.200 km và chiếm thêm lãnh thổ Ukraine mỗi ngày. Ngược lại, Kyiv đang lúng túng.
Putin thừa nhận các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái của Ukraine nhằm vào những nhà máy lọc dầu và cơ sở hạ tầng quan trọng nằm sâu phía sau chiến tuyến đang “gây ra một số rắc rối”. Nhưng theo ông, người Nga sẽ thích nghi và vượt qua. “Những cuộc tấn công khủng bố này hoàn toàn không có bất kỳ tác động nào đến tình hình,” ông nói.
Nếu là 20 tháng trước, sự tự tin ấy của Putin hoàn toàn có cơ sở. Khi đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump vừa tái đắc cử, công khai ca ngợi Moscow và chỉ trích Kyiv. Quân đội Nga đang đạt được những bước tiến chậm nhưng đều đặn trên chiến trường.
Vì vậy, Putin có thể theo đuổi ba chiến lược, như chúng tôi từng lập luận trong một bài viết đăng trên Foreign Affairs vào tháng 3/2025. Theo Kế hoạch A, Điện Kremlin sẽ hợp tác với Nhà Trắng để buộc Kyiv chấp nhận một thỏa thuận được soạn thảo tại Moscow. Theo Kế hoạch B, Putin chỉ cần cầm cự cho đến khi Trump rút lại sự ủng hộ của Mỹ dành cho Ukraine, tạo điều kiện để quân đội Nga giành chiến thắng. Nếu cả hai thất bại, Putin có thể chuyển sang Kế hoạch C: tiếp tục chiến đấu cho đến khi giành thắng lợi trên chiến trường.
Nhưng hiện nay, vị thế của Nga đã suy giảm. Kế hoạch A, tức thuyết phục Trump, đã thất bại; Putin thậm chí còn không nhắc đến Tổng thống Mỹ trong cuộc phỏng vấn gần đây. Kế hoạch B cũng đi chệch hướng. Dù Nhà Trắng đã ngừng cung cấp nhiều loại viện trợ cho Ukraine, Mỹ vẫn tiếp tục chia sẻ thông tin tình báo quan trọng với Kyiv và duy trì các lệnh trừng phạt nhằm vào Nga.
Trong khi đó, Kyiv đã chuyển sang các nước hậu thuẫn ở châu Âu để bù đắp phần viện trợ bị mất. Trên thực tế, vị thế quân sự của Ukraine hiện còn tốt hơn so với một năm trước. Ngược lại, Nga đang mất nhiều binh sĩ hơn số lượng có thể tuyển bổ sung và rơi vào tình trạng đình trệ trên chiến trường. Nền kinh tế nước này cũng đang gặp nhiều khó khăn.
Vì thế, Kế hoạch C, theo đó Nga sẽ chiến thắng bằng cách trụ lâu hơn Ukraine, cũng đang tỏ ra kém hiệu quả.
Nhưng điều đó không có nghĩa Putin sẽ đổi hướng. Những vấn đề của Nga là có thật, song nước này vẫn đủ khả năng duy trì cuộc chiến. Nền kinh tế vẫn vận hành được, còn Moscow vẫn có đủ nhân lực và vũ khí để tiếp tục chiến đấu.
Điện Kremlin cũng đang tìm ra những cách thức mới để giành lại thế chủ động. Việc kiên quyết kéo dài chiến tranh sẽ khiến cuộc sống của người Nga trở nên tồi tệ hơn, và vì thế một số thành viên giới tinh hoa tại Moscow đang kêu gọi tìm kiếm giải pháp thông qua đàm phán. Nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy Putin đang lắng nghe.
Do đó, cuộc chiến gần như chắc chắn sẽ còn kéo dài.
NHỮNG KỲ VỌNG LỚN
Khi Trump nhậm chức vào năm 2025, Điện Kremlin tin rằng họ có thể tạo ra một bước đột phá về ngoại giao. Trong chiến dịch tranh cử năm 2024, Trump cam kết sẽ kết thúc chiến tranh Ukraine “trong vòng 24 giờ”.
Ngay sau khi nhậm chức, ông bắt đầu gây sức ép buộc giới lãnh đạo Ukraine chấp nhận một số yêu cầu của Nga. Tháng 2/2025, Trump khăng khăng yêu cầu Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky chấp thuận một lệnh ngừng bắn ngay lập tức với Nga, đồng thời ám chỉ rằng Kyiv phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến.
Khi Zelensky từ chối, Trump tạm thời đình chỉ chia sẻ thông tin tình báo và viện trợ quân sự cho Ukraine. Phó Tổng thống J.D. Vance thậm chí còn có một bài phát biểu tại Hội nghị An ninh Munich năm 2025, trong đó tuyên bố Mỹ đang rút khỏi châu Âu.
Đến tháng 8/2025, Trump và Putin tổ chức một hội nghị thượng đỉnh thân mật tại Alaska. Sau đó, Tổng thống Mỹ lại một lần nữa cho rằng Zelensky chính là lý do khiến cuộc xung đột chưa kết thúc.
Quỹ đạo của nền kinh tế Nga và tình hình chiến trường càng khiến Putin thêm tự tin. Năm 2024, GDP Nga tăng 4,3%, được thúc đẩy bởi sản xuất quân sự và tiêu dùng trong nước. Lạm phát cao nhưng vẫn trong tầm kiểm soát.
Lực lượng vũ trang Nga tuyển được nhiều người hơn số binh sĩ bị tổn thất, trong khi quân đội Ukraine lại mất nhiều binh sĩ hơn số lượng có thể bổ sung.
Chiến dịch chiếm Donbas khiến Nga mất hàng chục nghìn binh sĩ, nhưng những tổn thất đó vẫn được chấp nhận vì quân đội Nga tiếp tục tiến lên. Trong năm 2024, Putin chiếm thêm hơn 4.100 km² lãnh thổ Ukraine.
Nga khi ấy cũng sản xuất số lượng máy bay không người lái gần tương đương Ukraine và sử dụng chúng theo những cách ngày càng sáng tạo hơn. Nước này còn sản xuất nhiều vũ khí truyền thống, như đạn pháo và tên lửa, hơn hẳn Ukraine hoặc các đối tác phương Tây.
Từ góc nhìn của Điện Kremlin, chiến thắng của Nga dường như là điều tất yếu.
Nhưng đây không phải lần đầu sự tự mãn khiến Putin trở nên quá tự tin. Ông tiếp tục đòi hỏi những điều kiện mà Trump không thể chấp nhận hoặc không có khả năng thực hiện, trong đó có yêu cầu Kyiv phải giao nộp những khu vực ở Donbas mà Ukraine vẫn kiểm soát và từ bỏ phần lớn chủ quyền của mình.
Hai đặc phái viên chính của Trump tới Moscow, người bạn Steve Witkoff và con rể Jared Kushner, đều là những người thiếu kinh nghiệm trong ngoại giao quốc tế và không thể khởi động một tiến trình đàm phán thực chất.
Tại Moscow, thái độ dành cho hai người này ngày càng xấu đi, và Kế hoạch A cuối cùng thất bại.
Trong một thời gian, Putin kỳ vọng Kế hoạch B sẽ thành công, tức Trump sẽ đơn giản phủi tay khỏi Ukraine.
Tháng 3/2025, Trump chấm dứt vĩnh viễn việc cung cấp miễn phí vũ khí Mỹ cho Ukraine, giáng một đòn mạnh vào Kyiv. Đến tháng 7/2025, ông cắt hoàn toàn viện trợ tài chính của Mỹ cho nước này.
Tuy nhiên, hoạt động ngoại giao khôn khéo của các quan chức Ukraine và đồng minh châu Âu cuối cùng đã thuyết phục Trump tiếp tục chia sẻ thông tin tình báo với Kyiv và bán vũ khí cho Ukraine thông qua một chương trình do châu Âu chi trả.
Các nước châu Âu cũng can thiệp để cung cấp phần hỗ trợ tài chính mà Washington đã rút lại. Dần dần, châu Âu trở thành hậu phương vững chắc cho nền công nghiệp quốc phòng Ukraine, cung cấp tiền bạc, công nghệ và những địa điểm an toàn trên lãnh thổ EU để Ukraine tự sản xuất máy bay không người lái và tên lửa.
Cùng lúc đó, Trump ngày càng thất vọng với Putin vì Nga không chịu cân nhắc bất kỳ nhượng bộ nào. Ông giữ nguyên các lệnh trừng phạt hiện hành và thậm chí đưa Rosneft cùng Lukoil, hai tập đoàn dầu khí lớn nhất của Nga, vào danh sách đen, gây thêm sức ép lên ngân sách chiến tranh của Điện Kremlin.
NHỮNG TRẬN THUA
Sau khi Kế hoạch A và B thất bại, Putin chuyển sang Kế hoạch C: giành chiến thắng trên chiến trường. Nhưng kế hoạch này cũng đang bắt đầu lung lay.
Nỗ lực chiến tranh của Nga rõ ràng đang gặp khó khăn. Năm 2025, quân đội Nga chiếm được hơn 4.100 km² lãnh thổ Ukraine, với cái giá vô cùng lớn về thương vong. Nhưng trong nửa đầu năm nay, họ chỉ tiến thêm được tối đa khoảng 250 dặm vuông.
Nguyên nhân một phần là Ukraine đã xây dựng thêm các tuyến phòng thủ với công sự và bãi mìn. Phần khác là người Ukraine đã mở rộng khu vực mà các nhà phân tích gọi là “vùng hủy diệt”, nơi dọc tiền tuyến mà binh lính Nga gần như ngay lập tức bị máy bay không người lái phát hiện và tấn công.
Hệ quả là thương vong của Nga tiếp tục gia tăng. Dù không có số liệu công khai, theo nhà phân tích quân sự Michael Kofman thuộc Quỹ Carnegie, số binh sĩ Nga thiệt mạng mỗi tháng gần như chắc chắn đã tăng mạnh trong 18 tháng qua.
Tổng cộng, mỗi tháng có khoảng 30.000 binh sĩ Nga thiệt mạng hoặc bị thương nặng. Trong khi đó, số tân binh gia nhập quân đội đã giảm xuống còn khoảng 27.000 người mỗi tháng, hệ quả của việc tiền thưởng nhập ngũ bị cắt giảm ở một số khu vực và nhận thức ngày càng rõ về mức độ thương vong.
Khả năng Moscow chọc thủng phòng tuyến Ukraine vì thế ngày càng bị nghi ngờ.
Điện Kremlin còn phải đối mặt với nhiều rắc rối khác. Ukraine đã triển khai một chiến dịch tấn công tầm trung rất hiệu quả, phá vỡ các tuyến tiếp tế và hậu cần của Nga, qua đó làm chậm bước tiến của quân đội nước này.
Kyiv cũng mở rộng các cuộc tấn công tầm xa nhằm vào cơ sở sản xuất quân sự và hạ tầng dân sự nằm sâu trong lãnh thổ Nga, bao gồm các cảng dầu và nhà máy lọc dầu.
Sau những cuộc tấn công ấy, Nga mất khoảng một phần ba công suất lọc dầu, gây ra tình trạng thiếu xăng, phân phối nhiên liệu theo định mức và những hàng dài chờ đợi tại các trạm xăng kéo dài từ tháng 6 đến cuối tháng 7. Tình trạng này hoàn toàn có thể quay trở lại nếu Ukraine tái diễn các đợt tấn công.
Cũng trong tháng 7, Ukraine bắt đầu phá hủy các nhà kho thuộc Wildberries, nhà bán lẻ trực tuyến lớn nhất của Nga. Điều này khiến chiến tranh trở thành mối quan tâm trực tiếp của người tiêu dùng bình thường và ảnh hưởng tới hàng nghìn doanh nghiệp vừa và nhỏ đang bán hàng thông qua nền tảng này.
Kyiv cũng gia tăng nỗ lực cô lập Crimea bằng cách nhắm vào các tuyến cung cấp nhiên liệu và cơ sở phát điện trên bán đảo bị chiếm đóng.
Máy bay không người lái của Ukraine còn tấn công các tàu chở dầu và tàu hàng Nga trên Biển Đen và Biển Azov, trong nỗ lực cản trở hoạt động xuất khẩu dầu mỏ và ngũ cốc bằng đường biển.
Chiến dịch của Kyiv rõ ràng đang gây tổn hại cho nền kinh tế Nga. Dự báo chính thức về tăng trưởng GDP của Nga năm 2026 chỉ ở mức 0,4%.
Trong khi đó, lạm phát tiếp tục gia tăng. Để kiềm chế giá cả, Ngân hàng Trung ương Nga đang giữ lãi suất ở mức 14%. Nhưng mức lãi suất mang tính trừng phạt này khiến tín dụng trở nên đắt đỏ đến mức nhiều doanh nghiệp không thể tiếp cận.
Điều khiến Điện Kremlin lo ngại nhất là thâm hụt ngân sách đã tăng thêm 73 tỷ USD chỉ trong sáu tháng đầu năm 2026, vượt xa mức 48,5 tỷ USD mà họ dự kiến cho cả năm.
Cuộc chiến của Trump chống Iran đúng là đã giúp Nga tăng doanh thu từ dầu mỏ, nhưng nguồn thu ấy không đủ tạo ra một lớp đệm tài chính đáng kể. Trong khi đó, dự trữ tiền tệ mà Nga tích lũy qua nhiều thập kỷ xuất khẩu hàng hóa, kể cả trong đợt bùng nổ giá hàng hóa do chiến tranh gây ra năm 2022, đã gần như cạn kiệt.
Để trang trải hóa đơn chiến tranh ngày càng lớn, Điện Kremlin phải tiếp tục cắt giảm chi tiêu phi quân sự và tăng vay nợ trong nước, đúng vào lúc những người mua trái phiếu Nga đang đòi hỏi mức bù đắp rủi ro cao hơn.
Do những khó khăn này, Điện Kremlin cũng đang mất dần sự ủng hộ trong nước.
Khó khăn kinh tế, tình trạng mất điện, hạn chế Internet và sự mệt mỏi chung vì chiến tranh đã khiến tỷ lệ ủng hộ Putin giảm từ khoảng 80% đầu năm xuống còn 66% vào giữa tháng 7.
Tất cả dữ liệu thăm dò hiện có đều cho thấy tâm trạng xã hội Nga ngày càng bất an và lo lắng hơn. Người dân ngày càng ít tin rằng quân đội có thể giành chiến thắng hoặc rằng Putin có một kế hoạch thực sự khả thi.
KẾ HOẠCH D
Nhìn vào tất cả những thất bại này, các chính phủ phương Tây có thể cho rằng Putin sẽ sẵn sàng cân nhắc một thỏa thuận thực chất.
Nhưng đáng tiếc, kịch bản đó có lẽ sẽ không xảy ra.
Trong tất cả những lần xuất hiện công khai gần đây, Putin đều khẳng định mục tiêu chiến tranh của ông không hề thay đổi.
“Khi không thể đánh bại nước Nga trên chiến trường, các đối thủ của chúng ta sử dụng những phương pháp khủng bố trắng trợn chống lại nhân dân ta,” ông tuyên bố ngày 27/07. “Nhưng người dân Nga không bao giờ có thể bị khuất phục.”
Điều đáng tiếc là Putin vẫn có đủ sức mạnh để củng cố những tuyên bố đó.
Nền kinh tế Nga có thể đang chật vật, nhưng chưa đứng bên bờ sụp đổ. Moscow vẫn có thể tiếp tục chi trả cho cuộc chiến bằng cách buộc các doanh nghiệp tự gánh chi phí từ các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái, thay vì nhà nước phải đầu tư nhiều hơn cho phòng thủ hoặc bồi thường cho các công ty bị thiệt hại.
Nga cũng có thể chuyển thêm gánh nặng quốc phòng sang chính quyền các khu vực thông qua cắt giảm ngân sách, và buộc các hộ gia đình chịu chi phí chiến tranh dưới hình thức lạm phát cao hơn.
Điện Kremlin còn có thể loại thêm nhiều khoản chi dân sự khỏi ngân sách quốc gia.
Hiện tại, Nga chi khoảng 8% GDP cho quốc phòng, một tỷ lệ rất cao nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với mức mà Liên Xô hay Mỹ từng chi trong Thế chiến II, cũng như thấp hơn con số gần 40% mà Ukraine đang phải gánh hiện nay.
Những chính sách đó sẽ khiến người Nga nghèo hơn và bất mãn hơn. Nhưng Điện Kremlin tương đối được bảo vệ khỏi làn sóng phản đối.
Chế độ này sở hữu các công cụ đàn áp tinh vi, bao gồm luật kiểm duyệt toàn diện, hệ thống giám sát hỗ trợ bởi AI và mạng lưới cơ quan thực thi pháp luật rộng khắp, đủ sức ngăn chặn bất kỳ đợt nổi loạn nào.
Sự bất mãn kinh tế của công chúng cũng có thể được bù đắp bằng hiệu ứng “đoàn kết dưới ngọn cờ”. Khi các cuộc tấn công của Ukraine gia tăng và ảnh hưởng trực tiếp tới nhiều người hơn, dân thường Nga có thể đi đến kết luận rằng cuộc chiến chống Kyiv thực sự là một cuộc chiến sinh tồn của quốc gia, đúng như Putin đã tuyên truyền từ lâu.
Các cuộc thăm dò của Trung tâm Levada độc lập cho thấy hơn 65% người dân trên toàn quốc ủng hộ hành động của lực lượng vũ trang Nga, trong khi chưa đến 25% phản đối. Nhưng tại những khu vực của Nga giáp Ukraine, nơi phải hứng chịu các cuộc tấn công trả đũa sớm hơn phần còn lại của đất nước, mức ủng hộ chiến tranh thậm chí còn cao hơn.
Tất nhiên, Moscow vẫn có thể bị buộc phải dàn xếp nếu quân đội bắt đầu sụp đổ, cho dù nền kinh tế còn ổn định và chính quyền vẫn được ủng hộ rộng rãi.
Nhưng Điện Kremlin vẫn có những cách để duy trì thế mạnh trên chiến trường.
Moscow tiếp tục gia tăng sản lượng bom lượn, loại vũ khí đe dọa các vị trí quân sự Ukraine và khủng bố các thành phố gần tiền tuyến, trong đó có các thủ phủ khu vực như Zaporizhzhia và Sumy.
Nga cũng tăng gấp đôi sản lượng tên lửa đạn đạo so với trước chiến tranh, đúng vào lúc Ukraine đang cạn kiệt tên lửa đánh chặn chất lượng cao. Tình trạng thiếu hụt ấy càng trầm trọng hơn sau khi Washington quyết định tham chiến chống Iran và không còn bán các hệ thống Patriot cho Ukraine.
Điều này tạo cho Putin cơ hội bắn phá các thành phố Ukraine bằng những tên lửa mang đầu đạn lớn hơn nhiều so với máy bay không người lái.
Hậu quả có thể đặc biệt nghiêm trọng vào mùa đông, khi Ukraine cần điện nhất và Nga có thể gây ra nhiều thiệt hại nhất.
Điện Kremlin cũng bắt đầu có hệ thống nhắm vào các cảng và tàu thuyền của Ukraine trên Biển Đen, với hy vọng phá hoại cơ sở hạ tầng phục vụ xuất khẩu nông sản.
Putin tin rằng nếu gây đủ nỗi kinh hoàng cho dân thường Ukraine, ông có thể tạo ra một làn sóng di cư mới quy mô lớn sang châu Âu ngay trước các cuộc bầu cử khu vực ở Đức và bầu cử tổng thống Pháp, qua đó củng cố các đảng cực hữu phản đối hỗ trợ Ukraine và khiến châu Âu xa rời Kyiv.
Nếu chỉ riêng chiến dịch ném bom vẫn không đủ để đảo ngược tình thế và buộc Kyiv phải chấp nhận các yêu cầu của Putin, Điện Kremlin có thể gia tăng sức ép bằng một đợt động viên mới.
Putin từng tiến hành động viên toàn quốc một lần vào cuối năm 2022, triệu tập quân nhân từ khắp các tỉnh. Quyết định đó bổ sung hàng trăm nghìn binh sĩ, nhưng khiến tỷ lệ ủng hộ Putin tạm thời sụt giảm và làm hàng trăm nghìn thanh niên trong độ tuổi nhập ngũ tháo chạy khỏi đất nước.
Sau đó, Putin chuyển sang sử dụng các ưu đãi tiền mặt để thu hút tân binh.
Nhưng khi mô hình này đang chạm tới giới hạn, chế độ bắt đầu chuẩn bị quay trở lại với hình thức nhập ngũ bắt buộc, lần này dựa trên giấy gọi điện tử ít gây chú ý hơn và có thể được gửi quanh năm tới hàng nghìn người.
Khác với năm 2022, những người bị gọi nhập ngũ sẽ bị chặn tại biên giới nếu tìm cách rời khỏi Nga.
Các cơ quan thực thi pháp luật cũng có thể sử dụng camera giám sát kỹ thuật số và công nghệ nhận diện khuôn mặt để truy tìm những người trốn quân dịch, đồng thời đe dọa họ bằng án tù hai năm mới được áp dụng.
Một đợt động viên mới gần như chắc chắn sẽ gây bất mãn, nhưng sẽ diễn ra âm thầm hơn nhiều so với năm 2022, khi Putin công bố việc huy động trên truyền hình quốc gia, và do đó cũng ít thu hút sự chú ý hơn.
Điện Kremlin nhiều khả năng cũng sẽ đảm bảo rằng nỗ lực huy động chủ yếu tránh Moscow và các thành phố lớn, thay vào đó tập trung vào những khu vực nghèo hơn.
Moscow còn có thể gia tăng sức ép lên châu Âu thông qua nhiều cuộc tấn công lai hơn, hoặc những hoạt động quân sự có thể chối bỏ trách nhiệm, chưa đến mức chiến tranh toàn diện nhưng vẫn gây thiệt hại hoặc đe dọa mục tiêu.
Trong bốn năm qua, Nga đã sử dụng máy bay không người lái và các đặc vụ bí mật để phá hoại cơ sở sản xuất quốc phòng, căn cứ quân sự và hạ tầng giao thông tại châu Âu, dù Moscow phủ nhận trách nhiệm trong tất cả các vụ việc.
Nhưng Nga có thể mở rộng danh sách mục tiêu với hy vọng gây thêm gián đoạn cho đời sống người dân châu Âu, chẳng hạn bằng cách phá hoại các kho hàng thương mại bằng những chiếc drone giá rẻ.
KẾT CỤC ĐẮNG CAY
Không phải tất cả giới tinh hoa cầm quyền Nga đều muốn tiếp tục chiến tranh, càng không phải ai cũng muốn leo thang.
Trong nhóm này, giờ đây đã xuất hiện những tiếng nói kêu gọi đàm phán thực chất.
Chẳng hạn, tháng 5 vừa qua, một tạp chí ngoại giao hàng đầu của Nga đăng bài viết của Vasily Kashin, một nhà phân tích quân sự nổi tiếng, thực dụng nhưng mang tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, lập luận ủng hộ việc đóng băng xung đột.
Kashin cho rằng Nga khó có thể đạt thêm nhiều thành quả trên chiến trường trong ngắn hạn và trung hạn, trong khi cái giá của một cuộc chiến kéo dài đang bắt đầu vượt quá lợi ích chiến lược.
Xét đến vị thế của tạp chí, bài viết của Kashin gần như chắc chắn đã được các quan chức Điện Kremlin xem trước và bật đèn xanh, nhiều khả năng như một cách để phe thực dụng trong giới an ninh Nga phát đi quan điểm.
Tương tự, ngày 30/06, giám đốc điều hành ngân hàng lớn nhất Nga, đồng thời là một phụ tá lâu năm của Putin, cũng ám chỉ rằng đã đến lúc khép lại xung đột.
“Tôi không nghĩ có ai bên trong nước Nga lại có mong muốn nào khác ngoài việc kết thúc chiến sự càng nhanh càng tốt,” ông nói.
Tuy nhiên, lựa chọn này hiện vẫn không thu hút được sự quan tâm của Putin.
Dù ông dung thứ cho những lời kêu gọi hòa bình thận trọng và đôi khi phát tín hiệu cho thấy mình quan tâm tới một thỏa thuận, hành động của Putin cho thấy ông chưa sẵn sàng thoát khỏi cái hố mà mình đang mắc kẹt.
Trên thực tế, ông dường như còn muốn đào sâu thêm.
Chừng nào Putin còn tin rằng ông có lợi thế trước Ukraine nhờ sức tàn phá của tên lửa đạn đạo, trong khi Kyiv ngày càng dễ tổn thương vì thiếu tên lửa đánh chặn, ông nhiều khả năng sẽ tiếp tục tấn công, bất chấp thiệt hại mà chính nước Nga phải gánh chịu.
Putin xem những lời kêu gọi đàm phán hoặc ngừng bắn thiếu phối hợp từ Mỹ và châu Âu như một mưu đồ nhằm câu giờ cho Ukraine.
“Chúng tôi biết phương Tây vẫn tiếp tục theo đuổi mục tiêu đánh bại Nga về mặt chiến lược,” ông nói trong cuộc phỏng vấn ngày 28/06. “Vậy tại sao họ lại kêu gọi ngừng bắn và đàm phán hòa bình?… Nếu Ukraine, như họ tuyên bố, đang chiếm ngày càng nhiều lãnh thổ… thì các nhà lãnh đạo phương Tây đơn giản chỉ cần chờ. Thất bại chiến lược của Nga rồi sẽ tự động đến.”
Ukraine và các đồng minh vì thế cần chuẩn bị cho một chặng đường dài và gập ghềnh phía trước.
Kyiv có thể đang nắm giữ vị thế tốt nhất kể từ cuối năm 2022, nhưng Điện Kremlin tin rằng họ vẫn đủ sức nghiền nát ý chí của Ukraine và các đồng minh trong mùa đông này.
Nga có thể đang gặp khó khăn, nhưng Putin vẫn chưa cạn lựa chọn.
Và ông vẫn muốn chiến đấu lâu nhất có thể.
Alexander Gabuev là Giám đốc Trung tâm Carnegie Nga – Á-Âu tại Berlin.
Alexandra Prokopenko là Nghiên cứu viên Cấp cao tại Trung tâm Carnegie Nga – Á-Âu ở Berlin. Bà từng làm việc tại Ngân hàng Trung ương Nga cho đến đầu năm 2022.
Tatiana Stanovaya là Nghiên cứu viên Cấp cao tại Trung tâm Carnegie Nga – Á-Âu, đồng thời là Nhà sáng lập kiêm Giám đốc Điều hành của công ty phân tích chính trị R.Politik.
