
Nguồn: Diêm Học Thông, 阎学通:道义、政治领导和国际秩序——道义现实主义的自变量问题, Aisixiang, 31/03/2026.
Biên dịch: Lê Thị Thanh Loan
Tóm tắt: Nhằm khắc phục khuyết điểm của các mô hình lý thuyết theo chủ nghĩa cấu trúc trong việc giải thích những biến đổi quốc tế, chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa (moral realism) cung cấp một khung lý thuyết mạnh mẽ để giải thích vấn đề này. Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa là một lý thuyết song biến, trong đó vị thế sức mạnh của cường quốc được dùng để xác định lợi ích chiến lược khách quan, còn loại hình lãnh đạo được dùng để đánh giá sở thích chiến lược của họ (bao gồm sở thích về lợi ích và sở thích về sách lược thực hiện lợi ích). Do vị thế sức mạnh tương đối ổn định, biến độc lập cốt lõi của chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa là loại hình lãnh đạo của cường quốc. Đạo nghĩa là tiêu chuẩn phân loại giá trị của biến độc lập này. Loại hình lãnh đạo của cường quốc kết nối ba cấp độ phân tích: Cá nhân, quốc gia và hệ thống. Lý thuyết này tiếp tục khoa học hóa mô hình phân tích người ra quyết định; phạm vi giải thích của nó mang tính phổ quát, không chỉ giới hạn ở hành vi đối ngoại của Trung Quốc mà còn có thể áp dụng để giải thích sự biến đổi trật tự trong các hệ thống quốc tế khác nhau từ xưa đến nay. Các khuyến nghị chiến lược của lý thuyết này mang tính thực chứng hơn là chuẩn tắc, và do đó có thể áp dụng cho tất cả các cường quốc. Việc phân loại lãnh đạo chính trị quốc tế của chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa có tham chiếu các tư tưởng chính trị Trung Quốc cổ đại; trong đó loại hình “lãnh đạo hôn muội” có thể giải thích hiệu quả tại sao một số nhà hoạch định chính sách lại xây dựng những chính sách đối ngoại gây tổn hại đến lợi ích quốc gia khách quan của chính họ – một hiện tượng tự gây hại phổ biến mà các lý thuyết quan hệ quốc tế trước đây hiếm khi giải thích được.
Kể từ khi cuốn sách Tư tưởng cổ đại Trung Quốc, sức mạnh của Trung Quốc hiện đại được xuất bản năm 2011, quá trình xây dựng lý thuyết chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa luôn đi kèm với những phê bình học thuật. Những phê bình này đã đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển của lý thuyết. Sau khi cuốn sách Lãnh đạo và sự trỗi dậy của các cường quốc được xuất bản năm 2019, nội dung phê bình càng trở nên sâu rộng hơn. Trên cơ sở những phê bình hiện có, một số học giả đã nghiên cứu các vấn đề liên quan đến lý thuyết này và xuất bản cuốn Bản chất của quan hệ giữa các quốc gia: Cuộc tranh luận về chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa năm 2023. Cuốn sách này không đặt dấu chấm hết cho sự phát triển của lý thuyết chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa, mà mở ra một giai đoạn nghiên cứu sâu sắc hơn. Các phê bình đối với chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa liên quan đến nhiều lĩnh vực và nội dung phong phú, từ bản thể học đến trật tự quốc tế hiện hành, từ phương pháp luận đến cuộc cạnh tranh chiến lược Trung – Mỹ, và từ biến cốt lõi đến chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Xét thấy đa số các phê bình đều liên quan đến biến độc lập của lý thuyết, bài viết này sẽ tập trung thảo luận xoay quanh vấn đề biến độc lập.
1. Biến độc lập – lãnh đạo chính trị
Từ góc độ xây dựng lý thuyết quan hệ quốc tế, số lượng biến độc lập càng ít thì logic của lý thuyết càng chặt chẽ; ngược lại, số lượng biến càng nhiều thì năng lực giải thích càng mạnh. Tuy nhiên, giữa hai lựa chọn này tồn tại một mâu thuẫn có tổng bằng không: Việc tăng cường ưu thế của bên này luôn phải trả giá bằng việc làm suy yếu ưu thế của bên kia. Đối mặt với thế lưỡng nan này, chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa lựa chọn con đường song biến, nhằm tìm kiếm sự cân bằng giữa tính chặt chẽ và khả năng giải thích. Chính lựa chọn này đã khiến một số học giả đặt ra nghi vấn về biến độc lập của lý thuyết.
Từ bình diện triết học của chủ nghĩa duy vật khi xem xét vấn đề ý niệm chủ quan, Bồ Hiểu Vũ lập luận rằng, chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa chưa xác định rõ biến cốt lõi là vật chất hay ý niệm: “Nhìn vào quỹ đạo hưng suy của các cường quốc, vẫn chưa rõ yếu tố nào quan trọng hơn. Giữa sức mạnh vật chất và yếu tố ý niệm, chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa của Diêm Học Thông nhấn mạnh vai trò của lãnh đạo chính trị. Tuy nhiên, lý thuyết này cũng thừa nhận vai trò của vật chất… Trong nhiều trường hợp, việc nhấn mạnh vai trò của lãnh đạo chính trị là đúng. Thế nhưng sự hưng suy của các cường quốc chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như kinh tế, công nghệ và thể chế; do đó, lãnh đạo chính trị có lẽ không phải lúc nào cũng là yếu tố quan trọng nhất, và vai trò của sức mạnh kinh tế có lẽ không nên bị đánh giá thấp.”
Cuộc tranh luận trong lý thuyết quan hệ quốc tế về việc liệu cấu trúc hay tác nhân có tác động lớn hơn đến hành vi quốc gia đã kéo dài rất lâu. Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa không phủ nhận việc các yếu tố cấu trúc vật chất và cấu trúc xã hội có ảnh hưởng lớn đến chính trị quốc tế, nhưng cho rằng nội dung ảnh hưởng của chúng đối với hành vi quốc gia khác với ảnh hưởng của tác nhân. Từ sự kế thừa tư tưởng Trung Quốc cổ đại, chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa lấy lãnh đạo chính trị làm biến độc lập, nhưng điều này không có nghĩa nó là một lý thuyết đơn biến. Đồng thời, nó cũng tiếp thu một quan niệm quan trọng từ chủ nghĩa hiện thực cổ điển Âu – Mỹ: Đó là coi sức mạnh vật chất là một biến độc lập quan trọng. Trong chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa, sức mạnh vật chất được cụ thể hóa thành vị thế sức mạnh quốc tế của một quốc gia trong hệ thống quốc tế. Cả vị thế sức mạnh quốc tế và người ra quyết định chính trị đều là các biến độc lập dùng để giải thích hành vi chính sách đối ngoại của cường quốc. Tuy nhiên, biến thứ nhất chỉ xác định lợi ích chiến lược khách quan, trong khi biến thứ hai – dựa trên sở thích về lợi ích và sở thích về sách lược – xác định mục tiêu chiến lược cụ thể và lựa chọn chiến lược để thực hiện lợi ích đó. Do đó, chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa là một lý thuyết song biến, chứ không phải đơn biến.
Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa cho rằng, loại hình lãnh đạo quyết định sở thích chiến lược (sở thích chiến lược được cấu thành bởi sở thích về lợi ích và sở thích về sách lược). Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc sở thích chiến lược quyết định sự thành bại của chiến lược, bởi hai bên cạnh tranh có thể có loại hình lãnh đạo giống nhau, trong khi vị thế sức mạnh của họ có thể không ngang bằng. Do đó, chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa lập luận rằng, giữa loại hình lãnh đạo và sự thành bại chiến lược tồn tại mối quan hệ tương quan mang tính xác suất, chứ không phải quan hệ nhân quả mang tính quyết định. Nói cách khác, trong so sánh theo chiều dọc, sự thay đổi loại hình lãnh đạo của một cường quốc nhất định sẽ quyết định sự thay đổi về sở thích chiến lược của nó, đồng thời liên quan đến sự tăng lên hay giảm xuống của tỷ lệ thành công chiến lược. Ở cấp độ hệ thống quốc tế, loại hình lãnh đạo quốc tế ảnh hưởng đến cả ba phương diện gồm giá trị quan, chuẩn mực và sự phân bổ quyền lực của trật tự quốc tế. Khi lãnh đạo quốc tế đồng thời thay đổi cả ba phương diện này, trật tự quốc tế tất yếu sẽ thay đổi về loại hình; khi lãnh đạo quốc tế chỉ thay đổi giá trị quan và chuẩn mực, đặc trưng chuẩn tắc của trật tự (normative order) sẽ thay đổi, và loại hình trật tự cũng theo đó mà biến đổi; nhưng khi chỉ thay đổi sự phân bổ quyền lực mà không thay đổi giá trị quan và chuẩn mực, thì loại hình trật tự quốc tế khó có thể thay đổi, cái thay đổi chỉ là cục diện quốc tế.
Xét từ hai cấp độ phân tích là hệ thống và đơn vị, Athanasios Platias và Vasilis Trigkas cho rằng, việc chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa coi lãnh đạo chính trị là biến độc lập đã bỏ qua ảnh hưởng của cấu trúc hệ thống đối với quyết sách của các cường quốc. Vấn đề nằm ở chỗ, nếu thiếu đi các yếu tố nguồn lực ở cấp độ hệ thống, thì một lý thuyết chỉ tập trung vào các biến ở cấp độ đơn vị sẽ không thể giải thích được những thay đổi mang tính hệ thống như sự trỗi dậy của các cường quốc mới nổi. Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa coi lãnh đạo chính trị là biến độc lập. Nếu quả đúng như vậy, thì lý thuyết này không thuộc chủ nghĩa hiện thực cổ điển, và về mặt bản thể học sẽ đối lập với chủ nghĩa hiện thực cấu trúc.
Mặc dù khác với chủ nghĩa hiện thực cấu trúc vốn coi cấu trúc sức mạnh của hệ thống là biến độc lập duy nhất, chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa vẫn chú trọng đến vai trò biến độc lập của yếu tố hệ thống, đồng thời coi vị thế sức mạnh của các cường quốc trong hệ thống là một biến cấu trúc. Do những thay đổi về mức độ của biến cấu trúc trong một khoảng thời gian nhất định không dẫn đến sự biến đổi về chất, nên nó là biến độc lập dạng hằng số. Điều này chủ yếu là do hai nguyên nhân: Thứ nhất, chiến lược của các cường quốc bao gồm cả mục tiêu chiến lược và sách lược để đạt được mục tiêu đó; thứ hai, tốc độ thay đổi vị thế sức mạnh của các cường quốc thường chậm hơn nhiều so với tốc độ thay đổi lãnh đạo chính trị của họ. Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa cho rằng, lợi ích chiến lược của một cường quốc là khách quan và được xác định bởi vị thế sức mạnh của nó. Nhận thức chủ quan của người ra quyết định về lợi ích chiến lược chịu ảnh hưởng bởi sở thích về lợi ích của họ, do đó mục tiêu chiến lược được vạch ra có thể sai lệch so với thực tế khách quan. Tuy nhiên, sự sai lệch trong nhận thức của tuyệt đại đa số người ra quyết định chỉ là sự khác biệt về mức độ, chứ không phải về bản chất. Ví dụ, người ra quyết định ở một nước nhỏ sẽ không coi vị thế thống trị toàn cầu là lợi ích chiến lược quốc gia; trong khi chỉ có rất ít lãnh đạo của các cường quốc toàn cầu không coi vị thế thống trị hệ thống là lợi ích chiến lược quốc gia. Thông thường, sự thay đổi lãnh đạo ở các cường quốc diễn ra trong khi vị thế sức mạnh của quốc gia đó không thay đổi, và người ra quyết định cũng đưa ra lựa chọn chiến lược trong bối cảnh vị thế sức mạnh đã được xác định. Do đó, vị thế sức mạnh của một cường quốc có thể được coi là một biến độc lập dạng hằng số tương đối ổn định. Khi vị thế sức mạnh đóng vai trò là biến độc lập dạng hằng số, thì lãnh đạo chính trị trở thành biến độc lập cốt lõi nhất trong chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa.
Cũng dựa trên góc độ các cấp độ phân tích trong quan hệ quốc tế, Phương Viên Viên cho rằng, lý thuyết chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa chưa làm rõ liệu “lãnh đạo” là biến độc lập ở cấp độ cá nhân hay quốc gia. “Mặc dù chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa coi ‘lãnh đạo’ là biến độc lập để giải thích những thay đổi lớn lao về vị thế quốc gia, nhưng trong giới học thuật có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm ‘lãnh đạo’, chẳng hạn như một chủ thể lãnh đạo một nhóm người hay một tổ chức, một quốc gia kiểm soát một nhóm người, hoặc năng lực lãnh đạo…” Kể từ khi Kenneth N. Waltz đề xuất phương pháp phân tích ba cấp độ gồm hệ thống, quốc gia và cá nhân, các học giả quan hệ quốc tế đã rất chú trọng đến việc phân biệt các cấp độ phân tích của biến độc lập, nhưng lại ít quan tâm đến việc làm thế nào để thống nhất biến độc lập trên cả ba cấp độ phân tích đó.
Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa cho rằng, bất kỳ tập thể lãnh đạo chính trị nào cũng được cấu thành từ những cá nhân tham gia vào quá trình ra quyết sách, do đó lãnh đạo chính trị về bản chất là biến ở cấp độ cá nhân. Tuy nhiên, lãnh đạo chính trị không thể chỉ gồm một nhà lãnh đạo cao nhất, mà người đó chỉ là đại diện tổng thể của nhóm ra quyết sách. Thông thường, tập thể ra quyết sách đối ngoại bao gồm một số ít cá nhân, và thành phần cá nhân cụ thể tham gia vào việc ra quyết sách cũng có thể khác nhau tùy theo vấn đề. Lãnh đạo ra quyết sách đối ngoại đại diện cho hành vi quốc gia, do đó lãnh đạo chính trị cũng là biến độc lập ở cấp độ quốc gia. Việc lấy lãnh đạo chính trị làm biến độc lập không chỉ có thể thống nhất các biến độc lập ở cấp độ cá nhân và quốc gia, mà với tư cách là lãnh đạo quốc tế, còn có thể hợp nhất các biến ở cả ba cấp độ cá nhân, quốc gia và hệ thống. Ví dụ, Roosevelt, Stalin và Churchill lần lượt đại diện cho Mỹ, Liên Xô và Anh, đã cấu thành nên chủ thể hành vi lãnh đạo quốc tế tại Hội nghị Yalta. Chủ thể này được cấu thành từ những cá nhân ra quyết sách, với ba nhà lãnh đạo đại diện cho quốc gia của họ; có thể nói rằng sự lãnh đạo chính trị cụ thể này đã xuyên suốt các cấp độ cá nhân, quốc gia và hệ thống. Việc thống nhất biến độc lập trên ba cấp độ này tạo điều kiện cho tính giản lược mà chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa hướng đến.
Từ góc độ của chủ nghĩa thể chế, Hạ Khải cho rằng: “Mặc dù chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa nhấn mạnh vai trò của chuẩn mực và đạo nghĩa trong việc định hình cơ chế chính trị của các cường quốc, nhưng nó chưa chú trọng đầy đủ đến vai trò của các thể chế quốc tế… Trong chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa, đạo nghĩa và chuẩn mực quốc tế đều là những khía cạnh chính của các thể chế quốc tế. Nhưng nhìn chung, ngoài các thể chế chủ đạo còn có các thể chế thứ cấp; và các tổ chức quốc tế đa phương, đặc biệt là các tổ chức liên chính phủ, cũng là bộ phận cấu thành của trật tự quốc tế.”
Việc chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa coi lãnh đạo chính trị là biến độc lập cốt lõi đã tạo ra thách thức đối với các lý thuyết theo quyết định luận về thể chế. Tuy chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa không đề cập đến vai trò của các tổ chức quốc tế, nhưng điều đó không có nghĩa là nó phủ nhận vai trò của chúng trong việc định hình trật tự quốc tế. Theo chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa, lãnh đạo quốc tế nắm giữ quyền lực chính trị để thiết lập, định hình, vận hành, cải tổ hoặc thậm chí giải thể các tổ chức quốc tế. Tổ chức quốc tế là công cụ được các lãnh đạo quốc tế sử dụng. Nếu không có nhà lãnh đạo, các tổ chức và thể chế quốc tế sẽ không thể vận hành; vì vậy nên coi lãnh đạo quốc tế là biến độc lập, chứ không phải bản thân các tổ chức. Sau Chiến tranh Lạnh, chủ nghĩa thể chế tân tự do từng chiếm ưu thế tuyệt đối trong lý thuyết quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, kể từ khi chính quyền Trump lên nắm quyền tại Mỹ năm 2017, xu hướng phản toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, và chủ nghĩa thể chế không thể giải thích vì sao hệ thống thể chế quốc tế tự do do Mỹ xây dựng lại không thể ngăn chặn sự chuyển đổi từ trật tự toàn cầu hóa sang phản toàn cầu hóa. Trong khi đó, khung lý luận của chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa có thể giải thích xu hướng này từ góc độ sự thay đổi loại hình lãnh đạo quốc tế: Khi loại hình lãnh đạo chuyển từ chủ nghĩa tự do sang chủ nghĩa dân túy, thì toàn cầu hóa cũng chuyển sang phản toàn cầu hóa.
2. Đạo nghĩa – tiêu chuẩn xác định giá trị của biến
Cái tên “chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa” có thể gây ra một số nghi vấn, chẳng hạn như: Liệu lý thuyết chủ nghĩa hiện thực có thể chấp nhận khái niệm đạo nghĩa hay không? Giữa lãnh đạo chính trị và đạo nghĩa, cái nào là biến độc lập cốt lõi? Đạo nghĩa mang tính công cụ hay mang tính giá trị? Tần Á Thanh nhận thấy rằng, chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa coi đạo nghĩa là yếu tố quan trọng ngang với quyền lực. Ông chỉ ra rằng, trong khi kế thừa các giả định của lý thuyết chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa cũng “cho rằng đạo nghĩa đóng vai trò quan trọng trong cả việc cấu thành và thực thi quyền lực. Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa dường như mâu thuẫn về mặt tu từ… việc lồng ghép khái niệm đạo nghĩa vào diễn ngôn hiện thực chủ nghĩa đã mở rộng không gian cho chủ nghĩa hiện thực cổ điển và chủ nghĩa hiện thực cấu trúc.” Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa thực sự coi đạo nghĩa và quyền lực là những yếu tố quan trọng ngang nhau, nhưng cả hai đều không phải là biến độc lập trong lý thuyết này. Trong lý thuyết này, biến độc lập là lãnh đạo chính trị và đạo nghĩa là tiêu chuẩn để xác định giá trị của biến độc lập, tức là tiêu chí để phân loại các loại hình lãnh đạo. Phần này sẽ thảo luận sâu hơn về mối quan hệ giữa đạo nghĩa và loại hình lãnh đạo.
Trong số các nhà hiện thực chủ nghĩa cổ điển, có người xem nhẹ vai trò của đạo nghĩa, trong khi những người khác lại nhấn mạnh điều đó. Arnold Wolfers lập luận rằng, việc tuân thủ đạo nghĩa khiến các đồng minh của một quốc gia cảm thấy an toàn, và việc cạnh tranh dựa trên đạo đức chung có thể củng cố sự ủng hộ quốc tế của một quốc gia. Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa chủ yếu kế thừa quan niệm “đắc đạo đa trợ” (có đạo nghĩa thì được nhiều người giúp) của chủ nghĩa hiện thực cổ điển, và trên cơ sở này phân biệt giữa đạo đức cá nhân, đạo nghĩa chính phủ và đạo nghĩa toàn cầu, sau đó dựa trên tiêu chuẩn đạo nghĩa chính phủ để so sánh hành vi của lãnh đạo các cường quốc và phân loại họ. Về mặt phương pháp luận, đây chính là sử dụng đạo nghĩa chính phủ làm tiêu chuẩn để phân loại và đo lường biến độc lập “lãnh đạo chính trị”.
Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa chia đạo nghĩa thành ba cấp độ cá nhân, chính phủ và thế giới, cho rằng đạo nghĩa chính phủ thuộc phạm trù đạo nghĩa công cộng. Một số học giả chỉ ra rằng, chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa đã nhầm lẫn giữa đạo nghĩa chính phủ và đạo nghĩa công cộng. Ví dụ, Amitav Acharya cho rằng, đạo nghĩa công cộng khác với đạo nghĩa chính phủ. Theo ông, chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa “gặp vấn đề trong việc phân biệt đạo nghĩa cá nhân và đạo nghĩa công cộng. Đạo nghĩa công cộng khác với đạo nghĩa chính phủ ở chỗ nó bao gồm những đạo nghĩa được người dân chấp nhận nhưng khác biệt với chính phủ. Chẳng hạn, quan niệm đạo nghĩa của Trump có giống với quan niệm của công chúng không? Điều này cũng liên quan đến vấn đề chính phủ lạm dụng đạo nghĩa.”
Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa xác định đạo nghĩa chính phủ là đạo nghĩa công cộng, nhưng điều này không có nghĩa là đạo nghĩa chính phủ tương đương với toàn bộ đạo nghĩa công cộng. Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa định nghĩa đạo nghĩa chính phủ là trách nhiệm của chính phủ trong việc bảo vệ lợi ích của người dân nước mình, không bao gồm các chuẩn mực đạo đức xã hội về thuần phong mỹ tục. Tuy nhiên, đạo nghĩa chính phủ phải là đạo nghĩa được công chúng công nhận và không đối lập với đạo nghĩa công cộng. Vấn đề chính phủ viện cớ trách nhiệm chính phủ để đàn áp quyền cá nhân không phải là mâu thuẫn giữa đạo nghĩa chính phủ và đạo đức xã hội, bởi chính phủ cũng có thể lấy danh nghĩa đạo đức xã hội để đàn áp quyền cá nhân. Ví dụ, kể từ vòng xung đột Israel – Palestine mới năm 2023, cảnh sát Mỹ đã viện cớ “duy trì trật tự học đường” để cấm sinh viên biểu tình phản đối việc chính phủ Israel sát hại dân thường ở dải Gaza. Đa số người Mỹ cho rằng hành vi của chính quyền Trump không phù hợp với tiêu chuẩn đạo nghĩa chính phủ.
Một số học giả không đồng tình với cách chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa giải thích vai trò của đạo nghĩa trong chính trị quốc tế từ góc độ lý tính công cụ. Ví dụ, Trương Phong cho rằng, chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa chỉ chú trọng chức năng công cụ của đạo nghĩa mà bỏ qua ý nghĩa mục đích của nó. “Quan điểm đạo nghĩa mang tính công cụ của chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa chịu ảnh hưởng lớn từ chủ nghĩa hiện thực cổ điển, đặc biệt là các lý thuyết của Hans Morgenthau và Richard Ned Lebow. Trớ trêu thay, tuy cảm hứng khởi nguồn của chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa đến từ tư tưởng truyền thống Trung Quốc, đặc biệt là nhánh Tuân Tử của Nho học, nhưng trong tác phẩm Lãnh đạo và sự trỗi dậy của các cường quốc, lý thuyết này ở một mức độ nào đó đã thoát ly khỏi nguồn gốc Nho học và dần tiếp nhận truyền thống hiện thực chủ nghĩa phương Tây.” Mặt khác, Roderick Kefferpütz thì cho rằng, đối với chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa, “đạo nghĩa chỉ đơn thuần là một sách lược thế tục để giành lấy quyền lực. Nó là công cụ để đạt được mục đích, chứ không phải là mục đích tự thân.”
Việc chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa hiểu vai trò của đạo nghĩa trong chính trị quốc tế từ góc độ lý tính công cụ chủ yếu là do sự khác biệt về tính chất giữa hệ thống quốc tế và hệ thống trong nước. Hệ thống trước là hệ thống vô chính phủ tự bảo vệ, còn hệ thống sau là hệ thống thứ bậc nơi chính phủ độc quyền bạo lực quân sự. Do tính chất khác biệt này, các nguyên tắc đạo nghĩa trong hệ thống quốc tế cũng khác với hệ thống trong nước. Một ví dụ điển hình là hoạt động gián điệp, như lấy cắp thông tin tình báo từ các quốc gia khác, không bị coi là phi đạo đức trong hệ thống quốc tế, nhưng bất kỳ hành vi trộm cắp nào cũng đều bị coi là phi đạo đức trong hệ thống trong nước. Mặt khác, đạo nghĩa trong hệ thống quốc tế mang tính tương đối, nghĩa là nó so sánh hành vi của hai quốc gia để xem bên nào ít “dã man” hơn. Ví dụ, cả nhà Hán và Hung Nô đều từng chinh phạt Tây Vực, nhưng vì nhà Hán áp dụng chính sách thần phục trong khi Hung Nô áp dụng chính sách nô dịch, nên Tây Vực cho rằng nhà Hán có đạo nghĩa hơn, đồng thời có xu hướng chọn phía nhà Hán trong cục diện lưỡng cực Hán – Hung Nô. Ngược lại, trong hệ thống thứ bậc trong nước, đạo nghĩa là các chuẩn mực được chính phủ và xã hội ước định, tiêu chuẩn của chúng mang tính cố định, chứ không mang tính tương đối. Mặt khác, trong hệ thống quốc tế, đạo nghĩa được dùng để đánh giá các quốc gia dẫn dắt và nước mạnh, chứ không áp dụng cho các quốc gia theo sau và nước yếu. Do đó, chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa cho rằng, việc hiểu vai trò của đạo nghĩa trong hệ thống quốc tế thông qua cách tiếp cận lý tính công cụ là phù hợp hơn với thực tế khách quan.
Đạo nghĩa quốc tế luôn gắn chặt với các chuẩn mực quốc tế, và thường được cụ thể hóa thành chính các chuẩn mực đó. Deborah W. Larson cho rằng, mặc dù cả chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa đều coi trọng các chuẩn mực, nhưng cái trước chú trọng nhân quyền và dân chủ, còn cái sau hướng đến lợi ích quốc gia của chính mình. “Giống với chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa nhấn mạnh tầm quan trọng của các chuẩn mực. Việc thiết lập các chuẩn mực được chấp nhận rộng rãi cho phép các quốc gia dẫn dắt duy trì trật tự mà không cần dùng đến các biện pháp cưỡng chế. Tuy nhiên, khác với chủ nghĩa tự do vốn nhấn mạnh nhân quyền cá nhân và dân chủ, chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa cho rằng các cường quốc thiết lập các chuẩn mực vì lợi ích của chính họ.”
Động lực chính thúc đẩy các cường quốc thiết lập chuẩn mực quốc tế nằm ở chỗ: Họ có thể thu được lợi ích lớn hơn so với các quốc gia vừa và nhỏ từ việc duy trì trật tự quốc tế thông qua các chuẩn mực này. Ở điểm này, giữa chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa trong lý thuyết quan hệ quốc tế không có sự khác biệt. Phương Viên Viên nhận thấy rằng, trong những năm gần đây, nhận thức của chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa về đạo nghĩa quốc tế đang xích lại gần nhau. Theo bà, mặc dù Joseph S. Nye và Diêm Học Thông thảo luận về vấn đề chuyển giao quyền lực từ các bối cảnh lý thuyết và lập trường khác nhau, nhưng phân tích của họ đều tập trung vào vai trò lãnh đạo, đặc biệt là khía cạnh đạo đức của lãnh đạo. Chủ nghĩa tự do đề xuất các chuẩn mực để duy trì nhân quyền và dân chủ, với giá trị quan cốt lõi là “tự do, dân chủ, bình đẳng”; chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa thì đề xuất thúc đẩy giá trị quan “công bằng, chính nghĩa, văn minh” trên cơ sở giá trị quan cổ đại Trung Quốc “nhân, nghĩa, lễ” và thiết lập các chuẩn mực quốc tế tương ứng.
Một số học giả không đồng tình với cách chủ nghĩa hiện thực dựa vào mức độ đạo nghĩa để phân biệt giữa lãnh đạo “vương đạo” và lãnh đạo “bá quyền”. Ví dụ, Mario Telò, dựa trên nhận thức về bá quyền trong các tài liệu cổ điển châu Âu, đã phê bình chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa vì coi bá quyền là loại hình lãnh đạo không màng đạo nghĩa. Ông cho rằng việc dịch từ “hegemony” sang tiếng Trung là “bá quyền” (霸权) có thể gây hiểu lầm. Trong chính trị học phương Tây, “bá quyền” đề cập đến một cường quốc khôn ngoan – một khái niệm trái ngược với sự thống trị thuần túy, cưỡng chế thô bạo và sức mạnh trần trụi. Quan điểm của Telò phù hợp với nhận thức về bá quyền trong thời kỳ đầu cổ đại; trước khi Mạnh Tử đưa ra quan điểm “dĩ lực giả nhân giả bá” (dùng sức mạnh mà mượn tiếng làm điều nhân là bá), khái niệm “bá” (霸) trong tiếng Trung không mang nghĩa tiêu cực. Tuy nhiên, trong chính trị quốc tế hiện đại, đặc biệt là sau Thế chiến thứ hai, cả khái niệm “bá quyền” (霸权) trong tiếng Trung và “hegemony” trong tiếng Anh đều mang sắc thái tiêu cực. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Mỹ và Trung Quốc từng đưa ra tuyên bố chung phản đối việc bất kỳ quốc gia nào thiết lập bá quyền. Sau Chiến tranh Lạnh, một số học giả Mỹ gọi Mỹ là “bá quyền nhân từ” (benevolent hegemony), cho thấy chính họ cũng cho rằng từ “bá quyền” mang hàm ý tiêu cực.
Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa chia lãnh đạo quốc tế thành bốn loại: Vương đạo, bá quyền, cường quyền và hôn muội. Hai loại đầu chú trọng đạo nghĩa, hai loại sau thì không. Tuy nhiên, trong hai loại đầu, lãnh đạo kiểu vương đạo cố gắng tránh “tiêu chuẩn kép” khi thực thi các chuẩn mực quốc tế, còn lãnh đạo kiểu bá quyền lại kiên trì áp dụng tiêu chuẩn kép. Ví dụ, chính phủ Mỹ rõ ràng đã áp dụng tiêu chuẩn kép trong cuộc xung đột Gaza và cuộc khủng hoảng Ukraine. Mặt khác, lãnh đạo kiểu cường quyền và kiểu hôn muội thì không màng đến đạo nghĩa và cũng không bận tâm đến việc liệu chính sách của mình có vi phạm các chuẩn mực quốc tế hay không. Lãnh đạo kiểu cường quyền ưa dùng bạo lực để đạt được lợi ích quốc gia, trong khi lãnh đạo kiểu hôn muội thì tuy không nhất thiết có khuynh hướng sử dụng bạo lực, nhưng thường hy sinh lợi ích quốc gia để phục vụ lợi ích cá nhân của người ra quyết định. Việc phân biệt giữa lãnh đạo kiểu vương đạo và kiểu bá quyền theo tiêu chuẩn đạo nghĩa đã làm thay đổi quan niệm cho rằng bá quyền là hình mẫu lãnh đạo quốc tế lý tưởng nhất.
Mặc dù chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa phân biệt giữa lãnh đạo kiểu vương đạo và kiểu bá quyền, đồng thời ủng hộ loại hình thứ nhất, một số học giả vẫn cho rằng quan điểm đạo nghĩa của lý thuyết này mang tính bá quyền. Như Toni Erskine và Liane Hartnett lập luận rằng, chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa “thiên vị Trung Quốc và khao khát vị thế lãnh đạo cho Trung Quốc, điều này được phản ánh trong các khuyến nghị chính trị mà nó đưa ra. Có thể thấy, xuất phát điểm đạo đức của chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa là Trung Quốc, và lập trường bình đẳng đạo nghĩa mà lý thuyết này ủng hộ có thể chỉ áp dụng cho Trung Quốc.”
“Vương đạo” là một khái niệm trong tiếng Trung, có nhiều cách dịch sang tiếng Anh, nhưng dù dịch thế nào thì nó vẫn mang đậm sắc thái Trung Quốc. Việc chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa sử dụng khái niệm này khó tránh khỏi bị coi là nâng tiêu chuẩn đạo nghĩa của Trung Quốc thành chuẩn mực phổ quát để phân loại lãnh đạo quốc tế. Nhiều học giả Trung Quốc đang tìm cách xây dựng “trường phái Trung Quốc” trong lý thuyết quan hệ quốc tế, còn bản thân tác giả thì nhấn mạnh hơn đến tính phổ quát trong lý thuyết quan hệ quốc tế. Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa là lý thuyết về sự cạnh tranh giữa các cường quốc, nên đạo nghĩa mà nó quan tâm cũng chỉ giới hạn trong đạo nghĩa của các cường quốc. Ngay cả khi được xem là chủ nghĩa dân tộc và tư duy cường quốc, đó cũng không nhất định là chủ nghĩa bá quyền. Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa phân biệt giữa vương đạo và bá quyền, do đó làm giảm vị thế chính trị của bá quyền trong chính trị quốc tế.
3. Mô hình phân tích lãnh đạo – tìm kiếm tính phổ quát
Mô hình phân tích lấy lãnh đạo chính trị làm biến độc lập đã tồn tại từ lâu trong lịch sử, và không phải là đặc trưng riêng của văn hóa Trung Quốc. Nó được thể hiện trong trước tác của các triết gia thời Tiên Tần ở Trung Quốc, trong các văn kiện cổ điển Hy Lạp cũng như trong các tác phẩm chính trị Ấn Độ cổ đại. Nhiều tác phẩm quan hệ quốc tế hiện đại, đặc biệt là các nghiên cứu về tâm lý học chính trị quốc tế, cũng áp dụng mô hình phân tích lãnh đạo chính trị. Một trong những khác biệt quan trọng giữa mô hình phân tích lãnh đạo hiện đại và cổ đại là sự khoa học hóa phương pháp phân loại. Việc chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa áp dụng mô hình phân tích lãnh đạo không hẳn là một sự đổi mới, mà chỉ là nỗ lực nhằm khiến nó trở nên khoa học hơn. Mô hình phân tích này không chỉ phù hợp để nhận thức về chính trị giữa các quốc gia thời cổ đại, mà còn có thể dùng để giải thích nhiều hiện tượng chính trị quốc tế hiện nay, thể hiện tính phổ quát mạnh mẽ.
Từ quan điểm của chủ nghĩa thể chế, Shivshankar Menon cho rằng, việc chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa lấy lãnh đạo chính trị làm biến độc lập chỉ phù hợp để giải thích các quốc gia có thể chế chính trị truyền thống: “(Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa) coi lãnh đạo quốc gia là yếu tố then chốt, quan điểm này có sức hấp dẫn đối với các nhà lãnh đạo, nhưng lại thiếu sức hút đối với giới học thuật, công chúng và các thực thể hành vi luôn liên tục thay đổi. Quan điểm này có thể phản ánh thực tiễn của Trung Quốc, nhưng không nhất thiết phù hợp với tình hình của các quốc gia khác; chẳng hạn, đối với một quốc gia có cấu trúc tổ chức như Mỹ, sự trỗi dậy của nó không phản ánh rõ vai trò của một nhà lãnh đạo xuất sắc.” Phê bình của Menon phản ánh sự khác biệt lớn giữa quyết định luận thể chế và quyết định luận lãnh đạo, tức là giữa thể chế và lãnh đạo, cái nào đóng vai trò căn bản hơn trong chính trị?
Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa cho rằng, trong cả hệ thống xã hội trong nước và quốc tế, vai trò của lãnh đạo chính trị đều lớn hơn vai trò của thể chế chính trị, vì lãnh đạo là chủ thể hành vi, còn thể chế chỉ là công cụ, phương tiện. Ngược lại, chủ nghĩa thể chế cho rằng, thể chế có thể ràng buộc hành vi của người cầm quyền, do đó đã đánh giá thấp khả năng của họ trong việc dựa vào quyền lực trong tay để phá hoại và bãi bỏ thể chế. Các nhà thể chế chủ nghĩa thường quy sự thành công của nước Mỹ cho hệ thống chính trị của nước này, nhưng lại không giải thích được vì sao Mỹ lại có những quỹ đạo hưng suy khác nhau qua các thời kỳ lịch sử. Nhìn vào lịch sử nước Mỹ sau Chiến tranh Lạnh, tốc độ gia tăng vị thế quốc tế của nước này dưới thời Clinton rõ ràng cao hơn so với các chính quyền kế nhiệm. Thế nhưng trong thời Trump nắm quyền, vị thế lãnh đạo quốc tế của Mỹ thậm chí còn suy giảm. Sự hưng suy của nước Mỹ không chỉ chịu ảnh hưởng bởi lãnh đạo chính trị của chính nước này, mà còn chịu tác động từ năng lực lãnh đạo chính trị của các cường quốc khác, tức là ưu thế tương đối về năng lực lãnh đạo giữa các bên cạnh tranh. So với mô hình phân tích thể chế, mô hình phân tích lãnh đạo có ưu thế hơn trong việc giải thích những thay đổi trong quan hệ quốc tế. Về mặt triết học, sự thay đổi trong quan hệ quốc tế là tuyệt đối và vĩnh cửu, trong khi sự bất biến là tương đối và tạm thời. Do đó, về mặt phương pháp luận, mô hình phân tích lãnh đạo có phạm vi giải thích rộng hơn so với mô hình phân tích thể chế.
Một số học giả cho rằng, mô hình phân tích lãnh đạo được chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa áp dụng chỉ nhằm phục vụ hệ thống chính trị và lợi ích quốc gia của Trung Quốc. Erskine và Hartnett nhận định rằng: “Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa không chỉ đơn thuần giải thích vì sao một số quốc gia thành công trong việc đạt được vị thế bá quyền, mà còn có thể được hiểu như một hệ chuẩn đạo đức nhằm thúc đẩy lợi ích của một quốc gia cụ thể (tức Trung Quốc) một cách không che giấu.”
Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa quả thực đã đưa ra nhiều khuyến nghị chiến lược cho sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc, nhưng điều đó không có nghĩa các nguyên lý lý thuyết và khuyến nghị chiến lược của nó chỉ dành riêng cho Trung Quốc. Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa là lý thuyết về sự cạnh tranh giữa các cường quốc và phạm vi áp dụng của nó giới hạn ở các cường quốc; do đó, những khuyến nghị chính sách của nó có thể được áp dụng để phân tích tất cả các cường quốc. Khuyến nghị chiến lược của chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa dựa trên các nguyên tắc lý thuyết và kinh nghiệm lịch sử, trong đó nhiều khuyến nghị đã được kiểm chứng qua lịch sử của cả Trung Quốc và thế giới.
Từ góc độ của chủ nghĩa văn hóa, Linsay Cunningham-Cross đặt nghi vấn về tính phổ quát của chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa: “Dựa trên quan niệm về ‘chủ nghĩa ngoại lệ Trung Quốc’, Diêm Học Thông cho rằng các học giả Trung Quốc chắc chắn phải hiểu rõ hơn về tư tưởng Trung Quốc cổ đại… Điều này vừa mâu thuẫn với tuyên bố của ông về tính phổ quát của tri thức khoa học, vừa mâu thuẫn với quan điểm của ông cho rằng những nhận thức về chính trị quốc tế được đúc rút từ tư tưởng Tiên Tần có thể (thậm chí là tất yếu) áp dụng cho toàn thế giới.” Các học giả theo chủ nghĩa văn hóa thường nhấn mạnh ảnh hưởng của sự khác biệt văn hóa đối với những quan niệm tư tưởng khác nhau của con người, nhưng họ thường bỏ qua việc những người thuộc các nền văn hóa khác nhau cũng có thể hình thành những ý niệm và logic chung trong lĩnh vực chuyên môn của họ. Điều này không chỉ đúng trong khoa học tự nhiên mà còn cả trong khoa học xã hội. Đó cũng là lý do giải thích tại sao trong giới học thuật Trung Quốc và Mỹ đều tồn tại các trường phái tư tưởng như chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa kiến tạo, và tại sao sự khác biệt quan điểm giữa các học giả thuộc cùng một trường phái ở cả hai nước lại nhỏ hơn sự khác biệt giữa các học giả thuộc các trường phái khác nhau ở mỗi nước.
Việc các học giả Trung Quốc hiểu sâu về tư tưởng Trung Quốc cổ đại hơn so với các học giả nước ngoài không biết tiếng Trung chỉ mang lại cho họ lợi thế nghiên cứu trong việc tham chiếu những tư tưởng này, chứ không đồng nghĩa với việc kết luận nghiên cứu của họ là hoàn hảo. Việc lý thuyết quan hệ quốc tế theo chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa – mà vốn được phát triển dựa trên tư tưởng Trung Quốc thời Tiên Tần – có tính phổ quát hay không, không phụ thuộc vào nguồn gốc văn hóa của nó, mà phụ thuộc vào việc các nguyên lý lý thuyết của nó có được lịch sử kiểm chứng hay không, đặc biệt là có thể chịu được sự kiểm nghiệm của lịch sử trong tương lai hay không. Điều đáng chú ý là, xu hướng phản toàn cầu hóa hiện nay đang phần nào chứng thực giả định của chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa rằng đặc tính của trật tự quốc tế có liên quan đến loại hình lãnh đạo của các cường quốc.
4. Phương pháp luận – chủ nghĩa thực chứng
Do trong giới học thuật thiếu sự đồng thuận về định nghĩa đạo nghĩa quốc tế, những nhận thức liên quan đến đạo nghĩa thường được coi là mang tính chuẩn tắc hơn là mang tính thực chứng khoa học. Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa khuyến nghị các cường quốc tuân thủ các chuẩn mực quốc tế và sử dụng sách lược dựa trên uy tín để giành được sự ủng hộ rộng rãi nhất từ cộng đồng quốc tế. Một số học giả cho rằng, chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa không tuân thủ các nguyên tắc thực chứng và do đó là một lý thuyết chuẩn tắc. Tuy nhiên, ngay từ khi bắt đầu nghiên cứu các văn bản thời Tiên Tần, tác giả đã tuân thủ nguyên tắc đổi mới lý thuyết của chủ nghĩa thực chứng, tức là các nguyên lý lý thuyết phải được nâng đỡ bởi các hiện tượng chính trị khách quan trong thực tế. Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa nhấn mạnh vai trò của uy tín chiến lược, một phần vì cách thức kiểm chứng việc một cường quốc có giữ chữ tín hay không là đơn giản và đáng tin cậy, đó là bằng cách so sánh sự nhất quán giữa lời nói và hành động, hoặc quan sát xem họ có thực hiện cam kết hay không. Phần này nhằm mục đích thảo luận xem chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa có tuân thủ các nguyên tắc thực chứng hay không.
Suy xét từ góc độ khác biệt giữa lý thuyết thực chứng khoa học và lý thuyết kiến tạo chuẩn tắc, Erskine và Hartnett cho rằng, chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa không phải là một lý thuyết thực chứng thuần túy, mà còn chứa đựng các yếu tố của lý thuyết chuẩn tắc. Theo họ, chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa không chỉ tìm cách giải thích “cái gì” và “tại sao”, mà còn đưa ra những khuyến nghị về việc “nên là gì” và “nên làm gì”. Những khuyến nghị chính sách này liên quan trực tiếp đến vấn đề tiêu chuẩn đánh giá thế nào là đúng đắn và đạo nghĩa. Điều này khiến chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa vượt xa khỏi mục đích giải thích đơn thuần.
Như đã trình bày ở trên, các khuyến nghị chiến lược của chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa được đưa ra dựa trên các nguyên lý lý thuyết và kinh nghiệm lịch sử về cạnh tranh chiến lược thành công, chứ không phải dựa trên các tiêu chuẩn giá trị chuẩn tắc. Ví dụ, lý thuyết này giải thích cơ chế nhân quả giữa uy tín chiến lược và việc nâng cao vị thế sức mạnh quốc tế, rồi từ đó khuyến nghị các quốc gia đang trỗi dậy áp dụng các sách lược giúp nâng cao uy tín chiến lược. Những khuyến nghị này mang tính mô tả nhân quả, chứ không dựa trên phán đoán giá trị đạo đức. Về mặt phương pháp luận, kiểu khuyến nghị “nếu… thì…” này của chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa mang tính thực chứng, khác với kiểu “vì… là đúng đắn, nên phải làm…” của chủ nghĩa chuẩn tắc.
Một số học giả nghiên cứu “trường phái Trung Quốc” trong lý thuyết quan hệ quốc tế cho rằng, chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa không tạo ra khái niệm mới, mà vẫn bị ràng buộc trong các quan niệm vật lý học truyền thống. Ví dụ, Lỗ Bằng cho rằng, chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa “thiếu sự đổi mới về mặt khái niệm và chưa thể vượt qua vũ trụ học Newton của phương Tây”. Sáng tạo khái niệm mới là một phương pháp để xây dựng lý thuyết, và khi có đủ điều kiện, nó thực sự có thể mang lại những đóng góp lý thuyết thực chất. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các khái niệm mới được tạo ra không mang lại giá trị lý thuyết đáng kể, mà các khái niệm về “cạm bẫy” xuất hiện tràn lan trong những năm gần đây là một ví dụ điển hình. Dưới ảnh hưởng của một số học giả Mỹ, giới nghiên cứu quan hệ quốc tế đã xuất hiện một xu hướng thiếu nghiêm túc, khi nhiều thuật ngữ mới lạ được tạo ra mà không có bất kỳ phát hiện thực chất nào. Tác giả không đồng tình với xu hướng này và đã từng đưa ra lời phê bình. Theo quan điểm của tác giả, trong những trường hợp không đặc biệt cần thiết, việc sử dụng những thuật ngữ quen thuộc sẽ có lợi hơn cho việc hiểu và truyền bá tri thức.
Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa quả thực không tạo ra hệ thuật ngữ hoàn toàn mới, mà chỉ đưa các khái niệm về loại hình lãnh đạo chính trị trong tư tưởng Trung Quốc cổ đại vào lý thuyết quan hệ quốc tế hiện đại. Lý thuyết quan hệ quốc tế hiện đại thường sử dụng hai khái niệm “bá quyền” và “cường quyền”, nhưng hiếm khi xuất hiện hai khái niệm “vương đạo” và “hôn muội”. Hơn nữa, các lý thuyết quan hệ quốc tế hiện có chưa từng đề cập đến loại hình lãnh đạo hôn muội (anemocracy leadership) – những nhà lãnh đạo sẵn sàng hy sinh lợi ích quốc gia trong chính sách đối ngoại vì lợi ích cá nhân. Nếu khái niệm lãnh đạo lôi cuốn (charismatic leadership) của Max Weber được coi là một loại hình lãnh đạo mang tính phổ quát, thì lãnh đạo hôn muội có thể được xem là loại hình phổ quát theo hướng ngược lại.
Một số học giả cho rằng, cách chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa phân loại biến độc lập “lãnh đạo chính trị” chưa đủ tính khoa học, do đó lý thuyết này khó có chức năng dự báo. Rajesh Rajagopalan nhận định rằng, việc chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa phân loại lãnh đạo dựa trên hành vi của họ sẽ khiến lý thuyết mất đi tính dự báo khoa học. “Nếu chúng ta dựa vào hành vi của nhà lãnh đạo để định nghĩa họ là ‘lãnh đạo vương đạo’, vậy thì làm thế nào để có thể dùng loại hình này để dự báo hành vi tương lai của họ?” Tác giả cho rằng, trong thế giới phi sinh vật không có hành vi, nên các ngành khoa học nghiên cứu vật vô tri không sử dụng phương pháp phân loại dựa trên hành vi. Tuy nhiên, sinh vật thì có hành vi, nên phân loại loại hình bằng hành vi là một phương pháp khoa học phổ biến khi nghiên cứu hành vi sinh vật. Ví dụ, việc phân biệt động vật có vú và không có vú chính là dựa trên cách thức sinh sản: Loài trước đẻ con, còn loài sau thì chủ yếu đẻ trứng.
Các quốc gia, tổ chức quốc tế và lãnh đạo quốc tế đều do con người cấu thành, do đó đối tượng nghiên cứu của quan hệ quốc tế chính là hành vi con người. Việc phân loại lãnh đạo dựa trên hành vi của họ không mâu thuẫn với phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại. Nghiên cứu quan hệ quốc tế có nhiều điểm tương đồng với y học: Cả hai đều lấy con người làm đối tượng nghiên cứu, đều thuộc về khoa học thực nghiệm, và ở mức độ lớn, đều đưa ra dự báo về con người dựa trên hành vi trong quá khứ và hiện tại của họ. Bác sĩ dựa trên biểu hiện đau đớn của bệnh nhân để chẩn đoán tính chất bệnh lý, rồi dựa vào đó để dự báo bệnh tình sẽ phát triển ra sao nếu không được điều trị. Tương tự, học giả quan hệ quốc tế dựa vào hành vi ra quyết định trong quá khứ và hiện tại của lãnh đạo để xác định loại hình, từ đó dự đoán sở thích chiến lược trong tương lai của họ khi đối mặt với một vấn đề nhất định. Trước cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2024, các đồng minh truyền thống của Mỹ lo ngại rằng nếu Donald Trump tái đắc cử, Mỹ sẽ xa rời các đồng minh. Mối lo ngại này được xây dựng dựa trên suy đoán về sở thích chính sách của Trump khi tái đắc cử thông qua những hành vi chính sách của ông đối với đồng minh trong nhiệm kỳ đầu tiên. Hiện nay, phương pháp dự báo này đã được kiểm chứng là có độ chính xác ở một mức độ nhất định.
Từ góc độ “môi trường định hình tư tưởng”, Vasilis Trigkas cho rằng cách hiểu của chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa về sự thay đổi loại hình lãnh đạo mang tính chất của chủ nghĩa kiến tạo hơn là chủ nghĩa hiện thực. Do chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa lấy loại hình lãnh đạo làm biến độc lập, nên lý thuyết này chú trọng giải thích việc thay đổi loại hình lãnh đạo sẽ tạo ra ảnh hưởng gì đối với các biến phụ thuộc như quan hệ giữa các cường quốc, cục diện quốc tế, chuẩn mực quốc tế và trật tự quốc tế, chứ không phải giải thích nguyên lý và cơ chế của sự chuyển đổi loại hình lãnh đạo. Việc nghiên cứu nguyên lý và cơ chế chuyển đổi loại hình lãnh đạo thuộc về hướng tiếp cận coi loại hình lãnh đạo là biến phụ thuộc, và hiện tại chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa chưa mở rộng đến lĩnh vực này. Nghiên cứu sự hình thành và chuyển đổi loại hình lãnh đạo, và nghiên cứu tác động của sự khác biệt giữa các loại hình lãnh đạo là hai vấn đề hoàn toàn khác biệt. Nếu cái trước nghiên cứu các loại trứng khác nhau được hình thành như thế nào, thì cái sau nghiên cứu các loại trứng khác nhau sẽ nở thành các loài khác nhau ra sao. Sự vật khác nhau, nguyên lý khác nhau, cơ chế cũng khác nhau.
5. Kết luận
Quá trình xây dựng lý thuyết chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa đã thu hút sự quan tâm của giới học thuật quốc tế, và sự quan tâm liên tục này đã tạo động lực mới cho việc phát triển và hoàn thiện lý thuyết. Cách tiếp cận lấy lãnh đạo chính trị làm biến độc lập đã nhận được sự khẳng định đáng kể, điều này càng củng cố định hướng lớn của chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa là tập trung vào nghiên cứu năng lực lãnh đạo. Tuy nhiên, các nghiên cứu về chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa cần chú trọng hơn đến những phê bình từ giới học thuật, thông qua việc thảo luận những phê bình này để khắc phục hạn chế và làm sâu sắc thêm lý thuyết.
Chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa đã khoa học hóa việc nghiên cứu năng lực lãnh đạo, từ đó đặt trọng tâm nghiên cứu vào người ra quyết định. Xét cho cùng, quan hệ quốc tế là quan hệ giữa con người với con người, và yếu tố tác động trực tiếp và quan trọng nhất đến quan hệ quốc tế chính là người ra quyết định. Từ góc độ nghiên cứu đạo nghĩa quốc tế, chỉ con người mới có vấn đề về đạo nghĩa, do đó nghiên cứu quan hệ quốc tế không thể bỏ qua yếu tố con người. Bản thân nghiên cứu quan hệ quốc tế là một lĩnh vực liên ngành, nên việc tham khảo phương pháp và nguyên lý từ các ngành khác là rất cần thiết. So sánh một cách tương đối, kiến thức và phương pháp của y học và khoa học sinh học có giá trị tham khảo cao hơn các ngành khoa học tự nhiên nghiên cứu phi sinh vật, bởi con người và các sinh vật khác đều có tính sinh học và tính quần thể. Việc Alexander Wendt vận dụng tri thức cơ học lượng tử để phát triển chủ nghĩa kiến tạo nhưng không đạt được kết quả đáng kể, có thể liên quan đến việc vật lý học là khoa học về thế giới phi sinh vật. Các lý thuyết quan hệ quốc tế theo mô hình chủ nghĩa cấu trúc thường bỏ qua vai trò cá nhân của người ra quyết định, thay vào đó lựa chọn các biến phi sinh vật như địa lý, địa chính trị, sức mạnh, thể chế, chuẩn mực và văn hóa. Mặt khác, chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa cho rằng, cấu trúc quyết định môi trường hành vi, còn con người là yếu tố cỗi lõi quyết định cách thức của hành vi; cấu trúc phù hợp để giải thích sự tiếp diễn, còn người ra quyết định phù hợp để giải thích sự thay đổi; do đó, lý thuyết này đề xướng mô hình phân tích người ra quyết định. Vì cấu trúc là yếu tố không đổi trong ngắn hạn và chỉ thay đổi trong dài hạn, nên lý thuyết này đề xướng mô hình lý thuyết lấy yếu tố cấu trúc làm biến dạng hằng số và lấy người ra quyết định làm biến độc lập.
Lý thuyết chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa có thể phát triển theo nhiều hướng khác nhau. Với tư cách là một động từ, “lãnh đạo” là một quá trình hành vi, là sự tương tác giữa người lãnh đạo và người theo sau. Lấy lãnh đạo chính trị làm biến độc lập có thể nghiên cứu vai trò của người lãnh đạo; lấy lãnh đạo chính trị làm biến phụ thuộc có thể nghiên cứu sự hình thành năng lực lãnh đạo hoặc vị thế lãnh đạo. Hiện nay, lý thuyết chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa chủ yếu nghiên cứu lãnh đạo chính trị với tư cách là biến độc lập, trong khi vẫn còn thiếu vắng những nghiên cứu coi lãnh đạo chính trị là biến phụ thuộc. Việc nghiên cứu lãnh đạo chính trị như một biến phụ thuộc sẽ làm sâu sắc thêm hay làm yếu đi các nguyên lý cốt lõi của chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa vẫn chưa rõ ràng. Hiện tại, các nghiên cứu về chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa chủ yếu mang tính định tính; trong tương lai, có thể áp dụng các phương pháp định lượng để đo lường năng lực lãnh đạo và thúc đẩy sự phát triển của lý thuyết. Ngoài ra, các nghiên cứu hiện nay chủ yếu tập trung vào lãnh đạo của các cường quốc toàn cầu, trong khi còn ít quan tâm đến lãnh đạo trong các tổ chức quốc tế và lãnh đạo khu vực. Trong bối cảnh một số trường đại học đang xây dựng các ngành học cấp một về nghiên cứu khu vực và quốc gia học, cũng như các chương trình thạc sĩ chuyên nghiệp về tổ chức quốc tế, nếu các học giả trong hai lĩnh vực này có thể tham gia nghiên cứu về lãnh đạo quốc tế, điều đó sẽ làm phong phú thêm đáng kể lĩnh vực nghiên cứu này. Việc tăng cường đối thoại giữa các trường phái lý thuyết khác nhau sẽ giúp ích rất nhiều cho sự phát triển lý thuyết. Hy vọng rằng chủ nghĩa hiện thực đạo nghĩa có thể tăng cường giao lưu lý thuyết với các trường phái nghiên cứu quan hệ quốc tế khác, cùng nhau thúc đẩy một cục diện học thuật trăm hoa đua nở.
(Phần chú thích đã được lược bỏ)
Bài viết này được công bố trên Tạp chí Kinh tế và Chính trị Thế giới, số 1, năm 2026.
