BT hay không BT: Thế lưỡng nan trong phát triển hạ tầng của Việt Nam

Tác giả: Lê Hồng Hiệp

Ngày 29/4/2026, Thành phố Hồ Chí Minh khởi công trung tâm hành chính mới tại khu đô thị Thủ Thiêm, do Sun Group xây dựng theo hợp đồng Xây dựng-Chuyển giao (BT). Dự án có tổng mức đầu tư khoảng 29.600 tỷ đồng (1,2 tỷ USD), với tòa nhà trung tâm 26 tầng được thiết kế để cung cấp chỗ làm việc cho khoảng 8.000 cán bộ, công chức sau khi hoàn thành vào năm 2028. Đây là một trong bốn dự án BT và Đối tác Công-Tư (PPP) lớn được khởi động đồng loạt tại thành phố trong ngày hôm đó, với tổng giá trị 142.000 tỷ đồng (5,5 tỷ USD). Sự kiện này khiến người ta không khỏi thắc mắc: tại sao một mô hình đã bị chính thức cấm chưa đầy năm năm trước, vì những rủi ro tham nhũng của nó, nay lại được triển khai trở lại ở quy mô quốc gia?

Cơ chế vận hành của mô hình BT thoạt nhìn khá đơn giản. Nhà đầu tư tư nhân bỏ vốn xây dựng công trình hạ tầng công cộng, và Nhà nước hoàn trả bằng đất. Trong dự án khu phức hợp hành chính nêu trên, Sun Group đề xuất được bồi thường bằng 10,5 héc-ta đất vàng tại Thủ Thiêm, cộng thêm 773 tỷ đồng (29,4 triệu USD) tiền mặt. Để chuẩn bị cho làn sóng dự án BT mới, chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh dành riêng 33 lô đất vàng để thanh toán cho các nhà đầu tư BT.

Vấn đề nằm ở chính sự trao đổi này. Chi phí xây dựng có thể bị thổi lên, qua đó tối đa hóa giá trị đất mà nhà đầu tư nhận lại. Hơn nữa, đất dùng để chi trả có thể bị định giá thấp hơn thực tế, giúp chuyển giao các lô đất vàng ở giá thấp cho những bên có quan hệ thân hữu. Kết quả là một cơ hội tham nhũng hai đầu, cơ chế từng tạo điều kiện cho tham nhũng quy mô lớn. Các cơ quan kiểm toán và chuyên gia quản lý đất đai từ lâu cảnh báo rằng các dự án BT rất dễ bị lợi dụng. Riêng tại Hà Nội, Thanh tra Chính phủ phát hiện tham nhũng nghiêm trọng tại nhiều dự án BT triển khai trong giai đoạn 2015-2020, gây thiệt hại lên đến hàng nghìn tỷ đồng.

Mô hình này từng có thời hoàng kim vào những năm 2010, khi hợp đồng BT nở rộ và thường được trao cho các nhà đầu tư có quan hệ thân thiết với quan chức. Khi chiến dịch chống tham nhũng của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bước vào giai đoạn cao điểm cuối những năm 2010, các dự án này trở thành biểu tượng của nạn thân hữu mà chính phủ cam kết bài trừ. Luật Đối tác Công-Tư năm 2020 vì vậy loại bỏ hoàn toàn BT khỏi khuôn khổ PPP, với lý do là những hệ quả tiêu cực của mô hình này và sự thiếu vắng mang tính hệ thống của cơ chế giám sát chuyển nhượng đất đai. Lệnh cấm được trình bày như một sự phán xét nghiêm minh, chứ không đơn thuần là một điều chỉnh kỹ thuật.

Nhưng giờ đây BT đã trở lại, và ở quy mô đáng kể. Từ tháng 7/2025, mô hình này được chính thức phục hồi, mở đường cho hàng loạt dự án lớn. Tháng 12/2025, Việt Nam đồng loạt khởi động 234 dự án với tổng vốn đầu tư 3,4 triệu tỷ đồng (129 tỷ USD), trong đó nhiều dự án sử dụng mô hình BT. Tháng 4/2026, chính phủ ban hành nghị quyết đơn giản hóa thủ tục BT, tạo khung pháp lý cho hàng chục dự án đang chờ triển khai. Quy mô và tốc độ của những cam kết này cho thấy đây không phải một thí điểm thận trọng mà là một sự thay đổi có chủ đích mang tính chiến lược.

Có nhiều yếu tố giải thích sự đảo chiều này. Quan trọng nhất là vấn đề ngân sách. Phát triển hạ tầng được xác định là một trụ cột cốt lõi trong tầm nhìn của Tổng Bí thư Tô Lâm về tăng trưởng GDP hàng năm hai con số để đưa Việt Nam thành nước thu nhập cao vào năm 2045. Song điều này đòi hỏi nguồn lực khổng lồ. Riêng giai đoạn 2026-2030, kế hoạch đầu tư công trung hạn của chính phủ đã lên tới 8,22 triệu tỷ đồng (316,5 tỷ USD). Điều này khiến nguồn vốn tư nhân không chỉ trở nên đáng mong muốn mà là điều thiết yếu nếu Việt Nam muốn đạt được các mục tiêu phát triển mà không làm suy yếu vị thế tài khóa của mình.

Tốc độ triển khai là lý do thứ hai, quan trọng không kém. Trung tâm Hội chợ Triển lãm Quốc gia mới là minh chứng tiêu biểu nhất. Được Vingroup hoàn thành trong chưa đầy 10 tháng và hiện nằm trong top 10 cơ sở triển lãm lớn nhất thế giới, dự án này cho thấy một tập đoàn tư nhân kỷ luật có thể triển khai các dự án nhanh như thế nào khi được giải phóng khỏi sức ì hành chính và những nút thắt đầu tư công thường xuyên cản trở các công trình do nhà nước quản lý. Đây là điểm đặc biệt quan trọng ở Việt Nam, nơi các dự án đầu tư công nổi tiếng thường chậm tiến độ và bị đội vốn.

Một logic thứ ba, ít được bàn đến nhưng không kém phần quan trọng, nằm ở khát vọng của Việt Nam trong việc phát triển những tập đoàn tư nhân đẳng cấp thế giới. Việc trao những hợp đồng hạ tầng lớn cho Vingroup, Sun Group và các doanh nghiệp cùng tầm không chỉ đơn giản là để đẩy nhanh xây dựng các công trình. Đó còn có thể coi là một dạng chính sách công nghiệp, nhằm xây dựng quy mô doanh nghiệp, năng lực quản lý dự án và chiều sâu tài chính cho những công ty mà Tổng Bí thư Tô Lâm kỳ vọng sẽ trở thành những công ty có năng lực cạnh tranh toàn cầu trong tương lai. Các hợp đồng BT vì thế không chỉ nhằm xây dựng các công trình hạ tầng mà còn nhằm xây dựng các doanh nghiệp quy mô lớn.

Chắc chắn là Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức rõ những rủi ro tiềm ẩn trong mô hình BT. Quyết định tiếp tục sử dụng mô hình này phản ánh một thứ bậc ưu tiên rõ ràng: phát triển kinh tế được ưu tiên hơn mục tiêu chống tham nhũng. Cách tiếp cận của ông Tô Lâm đối với vấn đề chống tham nhũng luôn mang tính thực dụng. Ngay sau khi trở thành Tổng Bí thư vào tháng 8/2024, ông nói thẳng với các cán bộ rằng “không được để công cuộc chống tham nhũng cản trở phát triển kinh tế.” Điểm quy chiếu ngầm ở đây là giai đoạn dưới thời cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, khi các quan chức và doanh nghiệp gần như “tê liệt” trước rủi ro bị truy tố, dẫn tới tình trạng trì trệ trong việc ra các quyết định kinh tế. Ông Tô Lâm đã rút ra bài học rằng chống tham nhũng và tăng trưởng có thể xung đột, và khi điều đó xảy ra, tăng trưởng cần được ưu tiên hơn.

Trong bối cảnh hiện tại, việc khôi phục mô hình BT là một lựa chọn có thể biện hộ được, dù không thoải mái. Câu hỏi đặt ra cho Việt Nam không phải là có nên dùng BT hay không mà là làm thế nào để quản trị nó một cách hiệu quả. Điều này đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ, độc lập đối với việc thẩm định chi phí xây dựng và định giá đất bồi thường — hai cơ chế mà qua đó tham nhũng hình thành trong mô hình BT. Nó cũng đặt ra yêu cầu phân bổ các hợp đồng BT cho một nhóm rộng hơn các nhà đầu tư có năng lực, thay vì tập trung vào một số ít tập đoàn, vừa để lan tỏa lợi ích kinh tế, vừa giảm thiểu rủi ro hệ thống gắn với bất kỳ chủ thể đơn lẻ nào.

Việt Nam đã từng từ bỏ BT một lần vì mô hình này quá dễ bị lợi dụng. Liệu giờ đây Việt Nam có thể quản lý mô hình này một cách chặt chẽ hơn để ngăn lịch sử lặp lại hay không sẽ là một phép thử quản trị quan trọng dưới thời Tổng Bí thư Tô Lâm. Nếu muốn BT phục vụ tham vọng của Việt Nam thay vì hủy hoại nó, cần chứng minh rằng Nhà nước không chỉ xây dựng được các công trình hạ tầng tốt hơn mà còn cả các thể chế mạnh hơn.

Một phiên bản tiếng Anh của bài viết đã được xuất bản trên chuyên trang Fulcrum, ngày 7/5/2026.