Cuộc chiến tại Iran có đang đẩy Đông Nam Á về phía Trung Quốc?

Nguồn:  Alejandro Reyes, “Is the Iran War Pushing Southeast Asia into China’s Arms?”, Foreign Policy, 06/05/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Khi Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. ban bố tình trạng khẩn cấp về năng lượng quốc gia vào cuối tháng Ba, ông đã phơi bày một vấn đề mà Washington thà làm ngơ: chiếc ô an ninh của Mỹ không tự động bảo vệ Đông Nam Á khỏi những hệ lụy kinh tế từ việc leo thang xung đột tại Vịnh Ba Tư. Một quốc gia cách eo biển Hormuz hàng nghìn dặm bỗng chốc phải chật vật tìm nguồn cung nhiên liệu, xoa dịu áp lực trong nước và bảo vệ nền kinh tế khỏi một cuộc xung đột mà họ không hề khơi mào cũng chẳng thể can thiệp. Giới chức Philippines lúc đó cho biết quốc gia này chỉ còn lượng nhiên liệu dự trữ cho khoảng 45 ngày và đang tìm mua thêm 1 triệu thùng để xây dựng kho dự trữ. Đó hiện là tình cảnh chung của phần lớn Đông Nam Á.

Cuộc chiến tại Iran thường được mô tả như một cú sốc năng lượng, và thực tế đúng là vậy. Nhưng câu hỏi thực sự là: quốc gia nào vẫn giữ đủ quyền chủ động trước những tác động đó để hấp thụ cú sốc, tái cân bằng sự lệ thuộc và tránh bị đẩy sâu hơn vào quỹ đạo của cường quốc này hay cường quốc kia? Sự đứt gãy không chỉ dừng lại ở dầu thô. Naphtha, khí dầu mỏ hóa lỏng và các sản phẩm tinh chế đi qua Hormuz cung cấp trực tiếp cho chuỗi cung ứng hóa dầu và nông nghiệp của Đông Nam Á, làm thu hẹp các công cụ chính sách có sẵn cho các chính phủ đang nỗ lực thích nghi với thực tại mới. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã cảnh báo rằng châu Á dễ bị tổn thương trước một cú sốc năng lượng kéo dài do chiến tranh hơn các khu vực khác vì sự phụ thuộc nặng nề vào nhiên liệu Trung Đông. Tác động thì lan tràn. Quyền tự chủ thì không.

Đó là lý do vì sao tầm quan trọng của Đông Nam Á không chỉ dừng lại ở một câu chuyện kinh tế khu vực. Đây là một trong những vũ đài rõ rệt nhất thế giới về sự hạn chế quyền tự chủ: một khu vực gồm các đồng minh hiệp ước, các trung tâm sản xuất, các tiền tuyến hàng hải, các nước nhập khẩu năng lượng và các quốc gia phụ thuộc vào thương mại với những mức độ chống chịu rất khác nhau. Về an ninh, họ nghiêng về Washington. Về trọng lực kinh tế, họ ngả về Bắc Kinh. Cuộc khảo sát Tình trạng Đông Nam Á năm 2026 của Viện ISEAS-Yusof Ishak tại Singapore đã nắm bắt gọn ghẽ sự bất an đó: nếu buộc phải lựa chọn, 52% số người được hỏi nói rằng họ sẽ đứng về phía Trung Quốc thay vì Mỹ. Đó không phải là một phiếu bầu cho vị thế đứng đầu của Trung Quốc. Đó là bằng chứng về một khu vực vẫn đang cố gắng duy trì không gian chính sách giữa hai cường quốc mà họ không thể né tránh.

Nguy cơ sâu xa hơn không chỉ là sự khan hiếm. Đó là tiền lệ. Nếu việc mặc cả cưỡng ép tại Hormuz trở nên bình thường hóa, logic đó sẽ không dừng lại ở vùng Vịnh. Nó sẽ lan sang phía đông — đến eo biển Malacca, nơi chiếm gần 22% thương mại toàn cầu; đến các lộ trình thay thế qua Sunda và Lombok; và đến cấu trúc hàng hải rộng lớn hơn mà sự thịnh vượng của châu Á đang dựa vào. Năm 2025, hơn 102.500 con tàu đi qua Malacca, vận chuyển 29% lượng dầu đường biển chỉ riêng trong nửa đầu năm. Việc Singapore khăng khăng rằng lưu thông qua eo biển Hormuz là một quyền không thể thương lượng, vì thế, không phải là chuyện chấp nhất pháp lý suông. Đó là một bước đi đón đầu mang tính chiến lược. Điều đang bị thử thách không chỉ là khả năng phục hồi nguồn cung mà là việc liệu bản thân các điểm nghẽn có trở thành công cụ đòn bẩy được chấp nhận trong một thời đại mà sự kiềm chế đang suy yếu hay không.

Philippines nằm ở một trong những điểm eo hẹp nhất của phổ tác động này. Vừa chịu ảnh hưởng nặng nề từ các hệ lụy xã hội và kinh tế của cú sốc Hormuz, vừa gắn kết chặt chẽ với Washington về mặt an ninh, lại vừa chịu áp lực hàng hải liên tục từ Trung Quốc, Manila phải xoay xở với chi phí nội địa tăng cao từ một cuộc chiến xa xôi ngay cả khi các lựa chọn chiến lược vẫn bị thu hẹp bởi địa lý, các cam kết liên minh và thực tế ở Biển Đông. Sự trớ trêu còn sâu sắc hơn vẻ ngoài của nó. Việc hội nhập sâu hơn vào kế hoạch quân sự của Mỹ cho khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương — những thỏa thuận mở rộng quyền tiếp cận và hợp tác tác chiến vốn biến Philippines thành trung tâm chiến lược của Mỹ — không giúp Manila miễn nhiễm với những cú sốc kinh tế mà chiến lược đó không thể giảm thiểu. Điều đó thực tế có thể làm hẹp đi các lựa chọn phòng bị nước đôi vốn dĩ có khả năng giảm nhẹ những cú sốc này. Mỹ có thể giúp Philippines bảo vệ các rạn san hô, nhưng rạn san hô không thể vận hành nhà máy, không thể vận hành xe jeepney hay ổn định giá lương thực. Ngay sau thông báo hồi tháng Ba, Tổng thống Marcos kích hoạt một quỹ khẩn cấp trị giá 333 triệu USD để tăng cường an ninh nhiên liệu và thúc giục các thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) thử nghiệm các thỏa thuận chia sẻ nhiên liệu đang ngủ yên của khối. Quyền tự chủ hạn hẹp vẫn có thể tạo ra sự ứng biến — nhưng nó vẫn còn hạn hẹp.

Việt Nam đại diện cho một hình thái hạn chế quyền tự chủ khác, và theo một số cách, còn bộc lộ nhiều điều hơn. Dù ít bị ràng buộc chặt chẽ với Washington như Philippines và cũng ít chịu sức ép lộ liễu từ chính trị liên minh, Hà Nội vẫn phải đối mặt với cú sốc này dưới vị thế một quốc gia sản xuất xuất khẩu đặc biệt nhạy cảm trước những đứt gãy về nhiên liệu, hậu cần và các yếu tố đầu vào công nghiệp. Điều khiến Việt Nam trở nên quan trọng dưới góc độ phân tích chính là cách mà chiến lược phòng bị nước đôi có thể chuyển hóa thành một sự đón nhận có chọn lọc mà không biến thành sự quy phục. Trong chuyến thăm Trung Quốc vào tháng Tư của ông Tô Lâm, Bắc Kinh đề nghị các khoản vay, công nghệ và đầu tư kết nối. Hai bên ký kết 32 thỏa thuận và nâng tầm ngôn từ về các mối liên kết chiến lược. Điều này không đồng nghĩa với việc từ bỏ quyền tự chủ. Nó gợi lên một điều tinh vi hơn. Trong một thế giới với những tín hiệu bất nhất từ Mỹ, Hà Nội đang làm dày thêm các mối liên kết chọn lọc với Trung Quốc như một loại bảo hiểm, đồng thời vẫn ngăn cản cả Bắc Kinh lẫn Washington đóng sập các lựa chọn của mình. Điều khiến Việt Nam trở nên hữu ích về mặt chiến lược đối với Washington cũng chính là điều giới hạn đòn bẩy của Washington: sự khước từ liên minh chính thức của Hà Nội. Quyền tự chủ của Việt Nam không nằm ở việc trốn tránh câu hỏi về Trung Quốc — điều mà họ không thể làm — mà ở việc hiệu chỉnh sự gần gũi mà không đánh mất quyền tự quyết chiến lược.

Indonesia bước vào cùng một cuộc khủng hoảng với quy mô lớn hơn, vị thế ngoại giao vững hơn và biên độ điều chỉnh tương đối rộng hơn. Jakarta có thể cần tới 5,9 tỷ USD trợ cấp năng lượng bổ sung trong năm nay vì chiến tranh, tuy nhiên tầm quan trọng của nước này nằm ở điều khác chứ không chỉ là sự tổn thương. Đây là một trong số ít các quốc gia trong khu vực có đủ quy mô, năng lực tài khóa và thói quen chiến lược để biến sự tác động thành chính sách thay vì chỉ là nỗi đau đơn thuần. Quan hệ Đối tác Hợp tác Quốc phòng Toàn diện Mỹ-Indonesia mới được công bố vào tháng Tư — bao gồm các lĩnh vực hàng hải, dưới mặt nước và hệ thống tự hành — củng cố thêm các cơ chế phối hợp và hậu cần vốn sẽ có ý nghĩa nếu quyền tiếp cận qua các điểm nghẽn hàng hải của Đông Nam Á bị gây áp lực. Nhưng Indonesia không trở thành vùng bảo hộ của Washington hay đồng minh hiệp ước phòng thủ chung. Họ đang mở rộng các lựa chọn chiến lược của mình mà không để những lựa chọn đó trở thành một liên minh chính thức.

Tổng hợp lại, những trường hợp này cho thấy sự chia rẽ đáng kể ở Đông Nam Á không phải là giữa các quốc gia bị tác động và các quốc gia an toàn — hầu như không có quốc gia nào thuộc vế sau — hay giữa các quốc gia nghiêng về Washington và các quốc gia nghiêng về Bắc Kinh. Sự phân biệt quan trọng hơn là giữa các quốc gia mà quyền tự chủ vẫn còn ý nghĩa về mặt chính trị và các quốc gia mà quyền tự chủ đang bị bóp nghẹt từ cả hai phía cùng lúc. Philippines cho thấy một quyền tự chủ bị nén chặt dưới sự phụ thuộc liên minh và áp lực từ Trung Quốc. Việt Nam cho thấy một sự gần gũi có tính toán, bảo vệ quyền tự chủ thông qua việc làm sâu sắc thêm các mối quan hệ một cách có chọn lọc. Indonesia cho thấy cách mà quy mô và vị thế có thể mở rộng biên độ chính sách khả dụng mà không loại bỏ được sự tổn thương.

Đối với Washington, đó là lời cảnh báo thực sự. Những phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth — nói với các đồng minh rằng hãy ngừng nói suông và “lên thuyền đi” cùng sự khẳng định rằng “thời kỳ đi nhờ xe miễn phí đã kết thúc” — không đơn thuần là những lời lẽ về việc chia sẻ gánh nặng. Chúng chỉ ra một góc nhìn cứng rắn hơn của Mỹ hiện đang dần lộ diện: các đồng minh được kỳ vọng sẽ thể hiện sự quyết tâm hơn, gánh chịu nhiều rủi ro hơn và đóng góp nhiều hơn, ngay cả khi cú sốc họ đang phải đón lấy không phải do họ gây ra. Logic này nghe có vẻ chặt chẽ trên lý thuyết. Điều mà cú sốc Hormuz phơi bày chính là điểm mù của nó. Bài kiểm tra áp lực mà khung chiến lược của Washington dự liệu đến từ áp lực của Trung Quốc, chứ không phải từ những tác động kinh tế lan tỏa do sự leo thang khủng hoảng của Mỹ. Khi nguồn cơn của sự bất ổn bắt nguồn từ chính hành động của Mỹ chứ không phải do sự hung hăng của Trung Quốc, khuôn khổ đó không đem lại cho các đồng minh bất kỳ sự che chở nào — mà chỉ là một đòi hỏi thêm thắt.

Cuộc chiến Iran sẽ không đẩy Đông Nam Á vào vòng tay Trung Quốc. Nhưng nó sẽ làm sâu sắc thêm một bản năng âm thầm của khu vực: duy trì hợp tác với Mỹ trong khi giảm bớt ảnh hưởng từ những tác động lan tỏa từ cách quản lý khủng hoảng của nước này. Phòng bị nước đôi nhiều hơn, đa dạng hóa nhiều hơn, phản kháng nhiều hơn trước sự cam kết chiến lược quá mức. Đây không phải là bài Mỹ. Đây là logic của sự sinh tồn.

Một chiếc ô an ninh mà không giúp bảo vệ được quyền tự chủ sẽ dần trở nên mỏng manh về mặt chính trị theo thời gian. Câu hỏi không còn là ai có khả năng răn đe mạnh mẽ hơn. Mà là ai giúp duy trì khả năng xoay xở khi những cú sốc ập đến, khi các điểm nghẽn bị chính trị hóa, và khi cả hai cực đều không có đủ sự tin tưởng để giữ cho những lựa chọn luôn rộng mở.

Alejandro Reyes là giáo sư thỉnh giảng và nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc và Thế giới đương đại thuộc Đại học Hồng Kông. Ông đồng thời là học giả lưu trú tại Trung tâm Asia Society Hồng Kông.