Thông điệp Maroc muốn gửi tới Tây Ban Nha tại Ceuta là gì?

Nguồn:  Albert Guasch Rafael, “What Morocco Was Saying to Spain in Ceuta”, Foreign Policy, 11/08/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Thủ tướng Tây Ban Nha Pedro Sánchez đã xây dựng hình ảnh là một trong số ít nguyên thủ phương Tây sẵn sàng công khai chỉ trích Mỹ và Israel. Ông công nhận Nhà nước Palestine trong bối cảnh chiến sự Gaza và từ chối cho quân đội Mỹ sử dụng các căn cứ Rota và Morón để tiến hành chiến dịch chống Iran. Tuy nhiên, dù luôn tỏ ra cứng rắn với những chính phủ có quan điểm trái với thế giới quan của mình, khi đối diện với Maroc – quốc gia có quan hệ vừa nhạy cảm vừa nhiều bất đồng với Tây Ban Nha – ông Sánchez lại tỏ ra mềm mỏng hơn nhiều so với hình ảnh mà ông gây dựng.

Không nơi nào điều đó thể hiện rõ hơn cách ông xử lý cuộc khủng hoảng mới đây tại Ceuta.

Ngày 30/7, khoảng 70.000 người di cư từ Maroc tràn sang Ceuta – vùng lãnh thổ hải ngoại nhỏ bé của Tây Ban Nha ở Bắc Phi với dân số chỉ hơn 80.000 người. Làn sóng người đổ vào quá đột ngột khiến lực lượng an ninh hoàn toàn bị động, trong khi các cơ sở lưu trú và hệ thống dịch vụ xã hội nhanh chóng quá tải. Do thiếu lương thực, chỗ ở và không có con đường pháp lý rõ ràng để tiếp tục ở lại Tây Ban Nha, phần lớn người di cư đã quay trở về Maroc chỉ sau một ngày. Sự thất vọng của họ tương phản hoàn toàn với niềm hân hoan cùng những tiếng hô “Viva España!” (Tây Ban Nha muôn năm) khi vừa đặt chân tới Ceuta. Ít nhất 88 người đã thiệt mạng, và nhiều thi thể khác có thể vẫn sẽ tiếp tục được tìm thấy dưới biển.

Ông Sánchez lập tức điều quân đội tới Ceuta và đích thân đến thị sát. Tại đây, ông gọi các vụ vượt biên là “một sự vi phạm và tấn công vào toàn vẹn lãnh thổ của Tây Ban Nha”. Tuy nhiên, ông tuyệt nhiên không nhắc đến bên nào đã thực hiện cuộc “tấn công” đó.

Trong nhiều thập kỷ, Maroc luôn đơn phương tuyên bố chủ quyền đối với Ceuta và Melilla – hai vùng lãnh thổ hải ngoại của Tây Ban Nha tại Bắc Phi. Đây cũng là bất đồng lớn nhất trong quan hệ giữa Madrid và Rabat. Dù vậy, trong cuộc khủng hoảng lần này, ông Sánchez chủ yếu nhấn mạnh sự phối hợp với chính quyền Maroc nhằm đưa người di cư trở về.

Điều khiến nhiều người đặt câu hỏi là vì sao ông Sánchez dường như vẫn né tránh việc quy trách nhiệm cho Rabat.

Những bằng chứng do The New York Times và nhiều cơ quan truyền thông khác thu thập cho thấy ngay trước ngày 30/7, lực lượng biên phòng Maroc đã ngừng kiểm soát đám đông vốn tập trung nhiều tuần tại thị trấn biên giới Fnideq. Cùng lúc đó, thông tin về một phán quyết mới của Tòa án Tối cao Tây Ban Nha – theo đó những người di cư đến bằng đường biển không thể bị trục xuất ngay lập tức – đã lan truyền mạnh mẽ, thúc đẩy hàng chục nghìn người, chủ yếu là thanh niên, kéo tới biên giới rồi vượt sang Ceuta. Trên mạng xã hội cũng xuất hiện hàng loạt bài viết và video khẳng định biên giới đã “mở” và có thể dễ dàng vượt qua.

Việc Maroc sử dụng người di cư như một công cụ gây sức ép không phải điều mới mẻ. Chiến thuật này tương tự cách Thổ Nhĩ Kỳ và Belarus từng áp dụng trong chiến tranh hỗn hợp nhằm vào châu Âu. Và ông Sánchez hẳn phải rất quen thuộc với kịch bản ấy.

Chính ông là Thủ tướng Tây Ban Nha khi Maroc để khoảng 8.000 người di cư tràn vào Ceuta năm 2021, gây ra một cuộc khủng hoảng có nhiều điểm tương đồng với sự kiện lần này.

Khi đó, Rabat sử dụng vấn đề di cư để trả đũa việc Madrid cho phép lãnh đạo Mặt trận Polisario – lực lượng đấu tranh đòi độc lập cho Tây Sahara – sang Tây Ban Nha điều trị COVID-19. Quan hệ song phương rơi xuống mức thấp nhất trong nhiều năm và chỉ được hàn gắn sau khi ông Sánchez có bước nhượng bộ mang tính lịch sử.

Năm 2022, ông từ bỏ lập trường kéo dài hàng chục năm của Tây Ban Nha là ủng hộ quyền tự quyết của người dân Tây Sahara để chuyển sang ủng hộ kế hoạch tự trị do Maroc đề xuất. Điều đáng chú ý là người dân Tây Ban Nha chỉ biết về sự thay đổi này sau khi một bức thư của ông gửi Quốc vương Mohammed VI bị báo chí Maroc làm rò rỉ.

Tây Sahara từng là thuộc địa của Tây Ban Nha trước khi Maroc kiểm soát vùng lãnh thổ này năm 1975. Tòa án Công lý Quốc tế cùng phần lớn cộng đồng quốc tế trong nhiều năm không công nhận chủ quyền của Rabat đối với Tây Sahara. Vì vậy, Madrid từ lâu vẫn ủng hộ một cuộc trưng cầu dân ý về quyền tự quyết của người Sahrawi.

Quyết định xoay trục của ông Sánchez cũng khiến quan hệ với Algeria – đối thủ chiến lược của Maroc và là bên hậu thuẫn Mặt trận Polisario – rơi vào khủng hoảng. Đáp trả, Algeria cắt nguồn cung khí đốt sang Tây Ban Nha đúng vào thời điểm châu Âu cần năng lượng nhất.

Ông Sánchez tin rằng việc cải thiện quan hệ với Rabat sẽ giúp khép lại những căng thẳng như cuộc khủng hoảng Ceuta năm 2021 và mở ra giai đoạn hợp tác mới, đặc biệt trong kiểm soát di cư. Nhưng diễn biến vừa qua cho thấy điều đó có thể chỉ là một kỳ vọng quá lạc quan.

Đây cũng không phải lần đầu tiên ông Sánchez tránh đối đầu với Maroc.

Năm 2022, chính phủ Tây Ban Nha xác nhận điện thoại của ông Sánchez và Bộ trưởng Quốc phòng Margarita Robles bị cài phần mềm gián điệp Pegasus do Israel phát triển. Dù nhiều cuộc điều tra của Nghị viện châu Âu và các báo cáo báo chí đều hướng nghi ngờ về phía Maroc, không một quan chức cấp cao nào của Tây Ban Nha, kể cả ông Sánchez hay bà Robles, công khai đề cập khả năng Rabat đứng sau vụ việc.

Điều này càng gây chú ý khi chỉ một năm trước đó, Bộ trưởng Nội vụ Tây Ban Nha đã trao huân chương cho Abdellatif Hammouchi, người đứng đầu cơ quan tình báo Maroc, nhân vật bị nhiều nguồn tin liên hệ với việc sử dụng phần mềm Pegasus.

Cho đến nay, vẫn chưa ai biết chắc vì sao Maroc lại để cuộc vượt biên quy mô lớn xảy ra đúng thời điểm này.

Một giả thuyết cho rằng Rabat đơn giản chỉ muốn nhắc Madrid rằng họ luôn có khả năng gây bất ổn tại Ceuta. Quan điểm này cũng phù hợp với cách truyền thông Maroc mô tả sự kiện. Báo Le 360 gọi cuộc khủng hoảng là minh chứng cho “tình trạng không thể chấp nhận được của các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng Sebta và Melilla”, đồng thời coi hai vùng đất này là “những nghịch lý về địa lý, chính trị và an ninh”.

Trên thực tế, chủ quyền của Tây Ban Nha đối với Ceuta và Melilla – vốn đã tồn tại nhiều thế kỷ – không bị luật pháp quốc tế hay bất kỳ quốc gia nào ngoài Maroc thách thức. Tuy nhiên, gần đây đã xuất hiện một số tín hiệu khiến Madrid phải lo ngại.

Chỉ vài tuần trước, Hạ viện Mỹ thông qua dự luật viện trợ an ninh trị giá 40 triệu USD cho Maroc. Báo cáo kèm theo do Hạ nghị sĩ Cộng hòa Mario Díaz-Balart soạn thảo mô tả Ceuta và Melilla là “nằm trên lãnh thổ Maroc” và đề nghị Ngoại trưởng Marco Rubio đóng vai trò trung gian giải quyết tương lai của hai vùng lãnh thổ này.

Washington trước đó cũng đã công nhận chủ quyền của Maroc đối với Tây Sahara vào năm 2020 để đổi lấy việc Rabat bình thường hóa quan hệ với Israel theo Hiệp định Abraham. Kể từ đó, Maroc trở thành một trong những đối tác thân cận nhất của Israel trong thế giới Hồi giáo.

Một số dấu hiệu cũng cho thấy giới chức Israel có quan điểm không hoàn toàn ủng hộ Tây Ban Nha. Sau cuộc khủng hoảng, Đại sứ Israel tại Liên Hợp Quốc Danny Danon tuyên bố đã đến lúc Tây Ban Nha phải “giải thích với thế giới vì sao họ vẫn duy trì các vùng lãnh thổ mang tính thuộc địa tại châu Phi”. Tuy nhiên, Đại sứ Israel tại Madrid sau đó khẳng định đây không phải lập trường chính thức của chính phủ Israel.

Một giả thuyết khác cho rằng Rabat muốn phản ứng trước việc Tây Ban Nha bắt đầu cải thiện quan hệ với Algeria.

Ngày 20/7, ông Sánchez có chuyến thăm Algeria đầu tiên sau bốn năm để gặp Tổng thống Abdelmadjid Tebboune và thảo luận về hợp tác năng lượng, đầu tư cũng như di cư.

Một số nhà phân tích lại chú ý tới dự luật đang được Quốc hội Tây Ban Nha xem xét, theo đó trao quyền công dân Tây Ban Nha cho những người Sahrawi sinh dưới thời thuộc địa cùng con cháu trực hệ của họ. Dự luật này có khả năng sớm được thông qua.

Có lẽ sẽ không bao giờ biết được chính xác thông điệp mà Maroc muốn gửi qua cuộc khủng hoảng Ceuta. Nhưng hậu quả của sự kiện này cho thấy vị thế địa chính trị của Tây Ban Nha đang trở nên mong manh hơn.

Việc ông Sánchez xích lại gần Rabat không ngăn được một cuộc khủng hoảng còn nghiêm trọng hơn năm 2021. Trong khi đó, các nước châu Âu cũng không còn chắc chắn có thể dựa vào Mỹ như trước. Trớ trêu hơn, đúng lúc Tây Ban Nha cấm xuất khẩu vũ khí sang Israel vì chiến sự Gaza, Maroc lại tiếp tục ký nhiều hợp đồng quốc phòng lớn với Tel Aviv.

Thay vì xem cuộc vượt biên là một vấn đề an ninh do Maroc tạo ra, Bộ Ngoại giao Mỹ lại đăng trên mạng xã hội X rằng làn sóng di cư là “hậu quả trực tiếp của những nỗ lực có chủ đích của Chính phủ Tây Ban Nha nhằm tạo điều kiện cho tình trạng nhập cư bất hợp pháp ồ ạt vào châu Âu”.

Cuộc khủng hoảng cũng bộc lộ những rạn nứt trong nội bộ châu Âu. Chính phủ Ý của Thủ tướng Giorgia Meloni tạm thời đình chỉ việc thực hiện Hiệp ước Schengen, trong khi Phần Lan và Đan Mạch công khai ủng hộ quyết định này.

Liệu “liên minh ba bên” giữa Maroc, Israel và Mỹ có thực sự đe dọa quyền kiểm soát của Tây Ban Nha đối với Ceuta và Melilla hay không vẫn còn phải chờ thời gian trả lời.

Dẫu vậy, Pedro Sánchez vốn nổi tiếng là một chính trị gia luôn để dành những “lá bài tẩy”. Theo đề nghị của Madrid, Maroc đã cùng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha giành quyền đăng cai World Cup 2034. Rabat đón nhận cơ hội này với sự phấn khích lớn và đang đầu tư hơn 20 tỷ USD cho công tác chuẩn bị.

Có lẽ, bằng bóng đá, ông Sánchez đã tự tạo thêm cho mình một khoảng thời gian quý giá để duy trì quan hệ với Maroc. Một lần nữa, môn thể thao vua lại mang đến cho Tây Ban Nha một chút lợi thế ngoài sân cỏ.