
Nguồn: David Petraeus và Clara Kaluderovic, “The Ukraine Lesson Taiwan Keeps Missing,” Foreign Affairs, 08/07/2026
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Vấn đề không phải là drone – mà là mọi thứ xung quanh chúng.
Cuộc xung đột ở Ukraine, nay bước sang năm thứ năm, mang lại những bài học phi thường về tương lai chiến tranh. Tác động của các hệ thống không người lái giá rẻ, điều khiển từ xa – trên bộ, trên không và trên biển – vô cùng lớn. Nhưng nguy cơ tiềm ẩn là các nhà chiến lược quân sự nhìn vào chiến trường Ukraine và chỉ thấy một danh mục vũ khí cần mua sắm.
Bài học về từng loại vũ khí cụ thể vẫn đáng chú ý, nhưng quan trọng hơn là hệ sinh thái giúp những công cụ mới này phát huy hiệu quả. Chẳng hạn, Ukraine phát triển Sky Fortress, mạng lưới gồm 14.000 cảm biến âm thanh giúp định vị drone Nga bằng âm thanh ngay cả ở độ cao mà radar không vươn tới, từ đó dựng nên bức tranh chân thực về các mối đe dọa đang bay tới.
Nước này còn sở hữu hệ thống phần mềm quản lý chiến đấu riêng để chỉ đạo trinh sát không người lái, cùng Lực lượng Không người lái – quân chủng hoàn toàn mới, sát cánh cùng lục quân, hải quân và không quân, chuyên trách chiến tranh drone với học thuyết, công tác đào tạo lãnh đạo, quy trình mua sắm, thậm chí cả tuyển dụng và huấn luyện cơ bản riêng biệt. Quan trọng nhất, có lẽ hệ sinh thái Ukraine còn bao gồm các nhà sản xuất đủ sức chế tạo số lượng khổng lồ hệ thống không người lái, đồng thời không ngừng tinh chỉnh phần mềm và phần cứng để ứng phó diễn biến chiến trường.
Nguy cơ bỏ lỡ bài học lớn hơn này đặc biệt nghiêm trọng với Đài Loan, nơi cũng đối mặt mối đe dọa xâm lược từ một kẻ thù hùng mạnh. Các nhà lãnh đạo và đối tác của Đài Loan thường nói hòn đảo này đang tập trung cao độ tìm hiểu bản chất chiến tranh hiện đại, đặc biệt những gì đang xảy ra ở Ukraine, để chuẩn bị và răn đe sự hung hăng của Trung Quốc. Nhưng thành tựu của Ukraine dù được ngưỡng mộ ở Đài Loan, sự ngưỡng mộ ấy vẫn chưa tạo ra những thay đổi cơ bản làm nên thành công đó.
Quả thật, vẫn chưa rõ các nhà lãnh đạo Đài Loan đã hiểu trọn vẹn bài học từ Ukraine hay chưa. Bất chấp tham vọng chính quyền đương nhiệm tuyên bố – triển khai hàng chục nghìn drone trên không và hơn một nghìn phương tiện không người lái trên mặt nước – đầu năm nay cơ quan lập pháp Đài Loan gạch bỏ hạng mục sản xuất drone trong nước khỏi ngân sách quốc phòng đặc biệt. Các đảng đối lập kiểm soát cơ quan này viện dẫn kỷ luật tài khóa và quan ngại tham nhũng trong mua sắm nội địa, nhưng hệ quả tổng thể là mua sắm hệ thống không người lái trong nước giảm mạnh, đồng thời nguồn quỹ hợp tác với Mỹ để phát triển các hệ thống này cũng bị cắt giảm.
Ngay cả khi chính trị gia Đài Loan một ngày nào đó huy động đủ kinh phí sản xuất drone quy mô lớn, hòn đảo này vẫn còn cách rất xa việc triển khai những thay đổi thể chế cần thiết để sử dụng drone hiệu quả. Nói cách khác, khoảng cách giữa ngưỡng mộ thành công của Ukraine và nhân rộng thành công đó chính là khoảng cách Đài Loan vẫn chưa lấp đầy.
UKRAINE VIẾT LẠI LUẬT CHƠI NHƯ THẾ NÀO?
Khi Nga xâm lược Ukraine vào tháng 2/2022, Ukraine tự đánh chìm soái hạm của mình để tránh bị Nga chiếm giữ, và trên thực tế không còn hải quân. Nhưng chỉ trong hai năm, Ukraine đẩy Hạm đội Biển Đen của Nga khỏi Sevastopol, đánh chìm hơn một phần ba số tàu Nga trên Biển Đen, buộc phần còn lại phải neo đậu tại bến cảng xa Ukraine nhất có thể. Ukraine làm được điều này không phải bằng cách mua tàu chiến truyền thống, mà bằng cách nghĩ ra phương thức giành quyền kiểm soát trên biển mà không cần đến chúng: dùng drone trên không tìm kiếm tàu Nga và drone trên biển đánh chìm chúng.
Trải nghiệm đó, cùng những trải nghiệm tương tự với drone trên không và trên bộ thuộc nhiều chủng loại, tầm hoạt động và năng lực khác nhau, minh họa cho bài học sâu sắc nhất của cuộc chiến: một kiến trúc tổng thể kết nối cảm biến với nhà phân tích, nhà lãnh đạo và đơn vị hỏa lực, cho phép hệ thống vũ khí và trinh sát điều khiển từ xa hoạt động trên quy mô lớn. Để xây dựng kiến trúc này, Ukraine biến chỉ huy và kiểm soát thành một bài toán phần mềm. Các kỹ sư phần mềm và chuyên gia công nghệ nước này, cùng tình nguyện viên nước ngoài hỗ trợ, đã tạo ra Delta – hệ thống quản lý chiến đấu của riêng họ – thay vì mua từ nơi khác. Delta hiện do Bộ Quốc phòng Ukraine điều hành, thu thập dữ liệu từ cảm biến trên bộ, trên biển và trên không, rồi phân phối bức tranh chân thực đó cho các đơn vị quân đội. Đây chính là mô liên kết cho phép điều khiển số lượng lớn hệ thống giá rẻ chống lại một đội hình vũ khí truyền thống ít hơn nhưng đắt đỏ hơn nhiều.
Ukraine cũng vượt qua bất lợi to lớn về nhân lực và kinh tế bằng cách thích ứng hệ thống phòng thủ. Khi Nga bắt đầu dùng drone Shahed tương đối rẻ để tấn công, Ukraine hiểu không thể tự vệ bằng tên lửa đánh chặn đắt đỏ: tên lửa Patriot do Mỹ sản xuất có giá vài triệu USD, trong khi Shahed chỉ chưa tới 50.000 USD. Ukraine đảo ngược tình thế bằng cách phát triển drone đánh chặn giá chỉ vài nghìn USD mỗi chiếc, khiến Shahed từ chỗ tương đối rẻ trở nên tương đối đắt.
Tuy nhiên, con số cụ thể ít quan trọng hơn nguyên lý mà chúng minh họa: chi phí tương đối của mỗi cuộc giao tranh tự nó là một biến số chiến lược, có thể chuyển thành lợi thế cho bên phòng thủ thông qua phát minh và sản xuất, chứ không phải mua sắm. Một trong những lợi thế lớn nhất của Ukraine trước Nga là tốc độ thích ứng, đạt được nhờ kết nối trực tiếp kỹ sư với các đơn vị mà họ hỗ trợ và trang bị. Đồng thời, nhà sản xuất Ukraine thể hiện sự linh hoạt phi thường, thường xuyên chỉnh sửa phần mềm hệ thống chỉ sau một, hai tuần và thay đổi phần cứng sau ba, bốn tuần. (Năm nay, Ukraine dự kiến sản xuất con số khổng lồ bảy triệu tên lửa và drone.) Nhờ đó, các thiết kế cải tiến được đưa ra chiến trường rất lâu trước khi đối phương kịp điều chỉnh. Nói ngắn gọn, Ukraine đã thu gọn một chu kỳ thường mất nhiều năm trong quy trình mua sắm truyền thống xuống còn vài tuần.
PHẢN XẠ MUA SẮM
Ngược lại, Đài Loan xem nền quốc phòng của mình là thứ được cung cấp, chứ không phải thứ tự xây dựng. Suốt hơn ba thập kỷ qua – ít nhất từ khi mua tiêm kích F-16 năm 1992 – họ đầu tư vào khí tài có người lái truyền thống, vốn được dẫn dắt bởi học thuyết quân sự của nước khác. Bản năng này khá tự nhiên: các hệ thống như vậy là nền tảng của mọi lực lượng hiện đại, và Mỹ – bên bảo lãnh, cung cấp vũ khí cho Đài Loan suốt hàng thập kỷ – cũng xây dựng lực lượng của mình xoay quanh chúng. Nhưng quyết định này để lại cho Đài Bắc một bộ máy chỉ thạo mua sắm và học thuyết Mỹ, chứ không biết cách phát triển hệ thống hay diễn đạt rõ ràng quan điểm riêng về chiến lược.
Hậu quả thể hiện rõ trong mọi quân chủng của Đài Loan, vốn vẫn ưu tiên mua sắm khí tài có người lái đắt đỏ. Chính ngân sách cắt giảm vốn sản xuất drone trong nước lại giữ hàng tỷ USD cho mua sắm vũ khí Mỹ. Quân đội Đài Loan cũng chưa trình bày được học thuyết mới về phòng thủ và răn đe để ghi nhận đóng góp của hệ thống không người lái. Điều này sẽ để lại hệ lụy lớn về sau: cấu trúc tổ chức quân đội (như một lực lượng không người lái chuyên trách), công tác huấn luyện, đào tạo lãnh đạo, mua sắm, chính sách nhân sự và cơ sở vật chất sẽ không được cập nhật để triển khai hiệu quả hệ thống không người lái, hay huấn luyện lực lượng sử dụng chúng.
Các kỹ sư Đài Loan, thuộc hàng giỏi nhất thế giới, dường như cũng đứng ngoài cuộc. Một lực lượng hiện đại phải tranh giành toàn bộ phổ điện từ – từ sóng vô tuyến đến ánh sáng hồng ngoại – bằng cách xây dựng năng lực tác chiến điện tử như gây nhiễu và phòng thủ chống drone, đồng thời bảo vệ liên kết dữ liệu của mình. Nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy kỹ sư Đài Loan được huy động cho thách thức này. Ở Ukraine, cả Sky Fortress và Delta đều bắt nguồn từ các dự án kỹ thuật tình nguyện, sau đó mới được quân đội tiếp nhận. Đài Loan chưa tạo ra đối trọng nào tương tự – không có kênh nào để kỹ sư thương mại đẳng cấp thế giới của họ đóng góp cho giải pháp quốc phòng – và các nhà sản xuất drone công khai phàn nàn rằng họ không thấy cầu rõ ràng từ chính phủ. Nếu Đài Bắc phát tín hiệu cho thấy họ hiểu rõ yêu cầu của chiến tranh đương đại, điều đó sẽ xúc tác những thay đổi mang tính bước ngoặt cho cơ sở công nghiệp đáng gờm của họ. Thay vào đó, đúng lúc Trung Quốc sản xuất hàng triệu drone, cơ quan lập pháp Đài Loan lại rút nguồn ngân sách vốn là nền tảng cho bất kỳ nỗ lực mở rộng quy mô nghiêm túc nào. Nhà sản xuất không thể sản xuất hàng loạt cho một khách hàng chưa cam kết mua, và đối tác nước ngoài chỉ tìm cơ hội hợp tác ở những thị trường chứng minh được nhu cầu thực tế.
Yếu tố địa lý khiến những khiếm khuyết này càng đáng lo ngại. Là một hòn đảo, Đài Loan phụ thuộc nặng nề vào hàng nhập khẩu qua đường biển, vốn có thể bị gián đoạn hoặc phong tỏa ngay khi giao tranh nổ ra. Bất cứ thứ gì Đài Loan cần trong khủng hoảng, họ đều phải có sẵn từ trước khi khủng hoảng bắt đầu. Hòn đảo nhập khẩu năng lượng và, có lúc, chỉ dự trữ đủ dùng vài tuần. Nơi đây cũng từng chứng kiến những “sự cố” trên biển làm đứt cáp Internet kết nối với thế giới. Nói cách khác, Đài Loan không có đặc quyền lựa chọn cuộc chiến mình muốn chuẩn bị. Sự sẵn sàng của hòn đảo phụ thuộc vào khả năng tổ chức và năng lực, không đơn thuần là mua sắm.
CHUYỂN HÓA, KHÔNG PHẢI BẮT CHƯỚC
Tất nhiên, bài học của Ukraine không thể sao chép máy móc sang Đài Loan. Ukraine bảo vệ lãnh thổ dọc một mặt trận liên tục dài gần 1.000 dặm, có chiều sâu đáng kể để rút lui khi cần. Ngược lại, Đài Loan sẽ phải chiến đấu ở một eo biển, hứng chịu chiến dịch không kích và tên lửa nhắm vào lãnh thổ mà không có chỗ lùi. Vì vậy, nhiệm vụ trước mắt của Đài Bắc không phải là bắt chước mà là chuyển hóa: đúc rút những đổi mới của Ukraine để áp dụng cho một chiến trường trên biển, dễ phơi bày trước không kích hơn.
Trong các bài học từ Ukraine, việc vô hiệu hóa hải quân kẻ xâm lược vừa dễ áp dụng nhất, vừa cần điều chỉnh nhiều nhất cho Đài Loan. Đây chính là cơ hội lớn nhất của họ: một lực lượng khổng lồ hệ thống hải quân không người lái, phân tán, có thể tiêu hao, cả trên và dưới mặt nước, được dẫn bắn bởi drone trên không, đủ sức tước quyền tự do hoạt động của hạm đội xâm lược. Chắc chắn, vùng nước Eo biển Đài Loan không giống Biển Đen. Ứng dụng của Đài Loan đòi hỏi thiết kế phù hợp vùng biển khắc nghiệt hơn, đường bờ biển đầy thách thức, cùng khả năng giám sát liên tục để chỉ huy một lực lượng như vậy, và sản xuất ở quy mô và mức giá cho phép chịu đựng mức hao hụt đáng kể.
Đài Loan cũng cần một hệ thống tương đương Delta của Ukraine, do chính người Đài Loan thai nghén và duy trì thay vì mua bản quyền từ nước ngoài, được đào tạo bằng dữ liệu từ hoàn cảnh của chính Đài Loan chứ không phải Ukraine. Thứ cần tái tạo không phải một hệ thống cụ thể, mà là cách tạo ra nó: sự hợp tác chặt chẽ, liên tục giữa đội ngũ vận hành, kỹ sư và nhà phân tích, cùng việc trao quyền cho những người gần vấn đề nhất để không ngừng tinh chỉnh giải pháp.
Đối thủ tiềm tàng của Đài Loan sở hữu lực lượng drone và tên lửa thông thường lớn nhất hiện nay, cùng năng lực sản xuất lớn nhất thế giới. Vì vậy, Đài Bắc không thể chỉ dựa vào kho dự trữ khiêm tốn gồm tên lửa đánh chặn khan hiếm, đắt đỏ – dù vẫn cần một lượng đáng kể loại vũ khí này để đối phó mối đe dọa tên lửa. Họ phải triển khai thêm hệ thống phòng thủ giá cả phải chăng hơn, đa lớp, bền bỉ và dồi dào số lượng, sản xuất và tích lũy từ rất lâu trước khi khủng hoảng xảy ra. Các hệ thống này sẽ trông giống của Ukraine: mạng lưới cảm biến thụ động dày đặc để phát hiện, theo dõi mục tiêu bay tới; tác chiến điện tử để gây nhiễu, làm mất phương hướng chúng; drone đánh chặn sản xuất trong nước số lượng lớn để tiêu diệt; cùng quy trình huấn luyện và học thuyết liên tục cập nhật để đan kết các lớp phòng thủ.
LỰA CHỌN CỦA ĐÀI LOAN
Nhịp độ thích ứng của Ukraine là kết quả của việc liên tục va chạm với một kẻ thù sống động, không ngừng tiến hóa. Đài Loan, do chính đáng tập trung vào răn đe, không có được người thầy như vậy và cũng không thể tự tạo ra. Điều họ có thể làm là mô phỏng gần đúng những điều kiện đó – qua các cuộc diễn tập khắt khe, không kịch bản trước, đủ để bộc lộ vấn đề thực tế; qua việc bố trí kỹ sư làm việc cùng nhân viên vận hành thay vì tách rời họ; và qua nghiên cứu có kỷ luật kinh nghiệm của Ukraine.
Đài Loan vẫn còn thời gian xây dựng một hệ thống phòng thủ đủ sức răn đe hành động gây hấn từ Trung Quốc. Nhưng nhiều khả năng họ không còn đủ thời gian mua sắm vũ khí để tự bảo đảm an toàn, nhất là khi tốc độ bàn giao từ các nhà cung cấp chính vẫn rất chậm. (Mãi đến tháng 4 vừa qua, Đài Bắc mới nhận chiếc cuối cùng trong 108 xe tăng M1 của Mỹ đặt hàng từ năm 2019.) Vì vậy, lựa chọn đặt ra trước Đài Bắc – và ở mức độ đáng kể, trước các quốc gia có lợi ích gắn với khả năng tự vệ của Đài Loan – là nên kiên trì mua sắm số lượng khiêm tốn khí tài có người lái đắt đỏ nhưng ngày càng dễ tổn thương, hay bắt tay vào việc khó khăn hơn: xây dựng ngay trong nước một lực lượng khổng lồ có thể tiêu hao cùng kiến trúc để vận hành nó. Các quốc gia khác có thể hỗ trợ Đài Loan trong quá trình này, nhưng không thể làm thay. Suy cho cùng, tư thế răn đe của Đài Loan phải do chính họ duy trì. Bài học chính từ cuộc chiến Ukraine là: một quốc gia quyết tâm tồn tại phải sẵn sàng học cách tự bảo vệ mình.
David Petraeus từng là Giám đốc CIA, Tư lệnh Lực lượng Liên minh tại Iraq và Afghanistan, và Tư lệnh Bộ Chỉ huy Trung tâm Mỹ. Ông hiện là Chủ tịch Viện Toàn cầu KKR, Đối tác tại KKR, và Nghiên cứu viên tại Trường Jackson, Đại học Yale.
Clara Kaluderovic là Đồng sáng lập kiêm Tổng Giám đốc Mental Help Global (MHG), tổ chức phi lợi nhuận về AI hoạt động tại Ukraine, và Đồng sáng lập ex2, tổ chức phi lợi nhuận phát triển ứng dụng AI cho hoạt động quốc phòng và nhân đạo. Bà là Nghiên cứu viên Cấp cao Không thường trú tại Trung tâm Á-Âu, Hội đồng Đại Tây Dương.
