Tại sao Putin sẽ không ngừng cuộc chiến tại Ukraine?

Nguồn: Michael Kimmage và Maria Lipman, “Putin Will Not Yield”, Foreign Affairs, 14/09/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Cuộc chiến tại Ukraine đang gây ra những tổn thất không thể phủ nhận trên khắp nước Nga. Các cuộc tập kích tầm xa của Ukraine sâu vào lãnh thổ Nga đã làm gia tăng thương vong dân sự, gây gián đoạn thương mại điện tử — một lĩnh vực đặc biệt quan trọng đối với một đất nước rộng lớn như Nga — và dẫn tới tình trạng thiếu hụt xăng dầu. Bị đè nặng bởi một cuộc chiến quy mô lớn, nền kinh tế Nga đang tăng trưởng chậm trong khi lạm phát vẫn ở mức cao. Tháng 5, chuyên gia tài chính nổi tiếng người Nga Andrey Klepach đã đưa ra một đánh giá thẳng thắn trong một bài phát biểu đăng trực tuyến: Nga đang “tụt hậu. Chúng ta đang thua trong cuộc cạnh tranh công nghệ và kinh tế [toàn cầu].” Ở một số phương diện, ông nói thêm, “chúng ta đang thua cả Ukraine”. Đến tháng 8, ngân hàng phát triển do nhà nước kiểm soát nơi Klepach làm việc đã sa thải ông vì biểu hiện bất trung này. Trong khi đó, dòng vốn âm thầm chảy ra nước ngoài và tiền gửi cũng lặng lẽ rời khỏi các tài khoản ngân hàng.

Không điều nào trong số đó là tin tốt đối với Tổng thống Vladimir Putin. Sau hơn bốn năm rưỡi chiến tranh, Nga vẫn chưa thể chuyển hóa những tổn thất quân sự khổng lồ thành những thành quả có ý nghĩa tương xứng trên chiến trường. Nhưng dù không có một chiến thắng rõ ràng nào để phô bày trước người dân Nga, Putin cũng không phải đối mặt với bất kỳ mối đe dọa chính trị thực sự nào. Một cách lý giải cho chuyến thăm Moscow gần đây của Giám đốc CIA John Ratcliffe là ông tới đó, ít nhất một phần, để thuyết phục Putin rằng tiếp tục chiến tranh là vô ích. Nếu Ratcliffe thực sự tin rằng có thể khiến Putin từ bỏ, đó là một ảo tưởng. Thay vì tiến gần tới hồi kết, cuộc chiến lại đang leo thang. Nó chưa đẩy Putin vào thế bí cả về chính trị lẫn quân sự, và kỳ vọng Nga sẽ sớm nhượng bộ hay chấp nhận một giải pháp thương lượng trong ngắn và trung hạn là điều thiếu thực tế.

Cuộc chiến mà Putin phát động với kỳ vọng giành chiến thắng nhanh chóng và toàn diện không phải một quyết định bột phát. Cuộc xâm lược bắt nguồn từ chính trật tự chính trị mà ông đã xây dựng, một hệ thống được chiến tranh tôi luyện nhiều hơn là bị chiến tranh làm biến đổi. Cuộc bầu cử quốc hội sắp tới, bắt đầu ngày 18/9, gần như chắc chắn sẽ tạo ra một bức tranh bề ngoài về sự ủng hộ áp đảo dành cho Putin. Thực tế đương nhiên phức tạp hơn. Nhưng với các nhà quan sát bên ngoài, chìa khóa để hiểu “Chủ nghĩa Putin” nằm ở tính nhất quán nội tại của nó, chứ không phải ở khoảng cách giữa màn trình diễn chính trị và tâm trạng thực sự trong xã hội. Những biến động hằng ngày trên chiến trường Ukraine hay những tiếng nói bất mãn trong nước không nằm trong số những mối bận tâm lớn nhất của Putin. Bất chấp những cái giá phải trả, chiến tranh đã củng cố Chủ nghĩa Putin và ngày càng được đan cài chặt chẽ vào cấu trúc của nhà nước Nga.

QUYỀN LỰC KHÔNG BỊ LUNG LAY

Các nhà phân tích về Nga có lý do chính đáng để theo dõi những biến động có thể làm thay đổi quỹ đạo nội bộ của đất nước này, chẳng hạn một làn sóng phản kháng, một cuộc bầu cử hay một cuộc tập kích đặc biệt mang tính hủy diệt của Ukraine. Kể từ khi chiến tranh bắt đầu, Mỹ và châu Âu đã nhiều lần hy vọng những chi phí chồng chất sẽ gây sức ép, thậm chí đe dọa quyền lực của Putin. Nhưng trong phần lớn thời gian chiến tranh, bên trong nước Nga vẫn tương đối yên ổn. Sau vài tuần hoảng loạn ngay khi cuộc xâm lược bắt đầu, xã hội Nga dần trở lại trạng thái chấp nhận chiến tranh như một thực tế. Cuộc nổi loạn của Yevgeny Prigozhin, lãnh đạo tập đoàn quân sự tư nhân Wagner, năm 2023 không dẫn tới một cuộc cách mạng mà kết thúc bằng cái chết đột ngột của chính ông. Trong giới hạn mà các cuộc thăm dò tại Nga còn có thể được tin cậy, Putin vẫn có mức độ ủng hộ cao hơn đáng kể so với Thủ tướng Đức Friedrich Merz, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron hay Tổng thống Donald Trump tại nước họ.

Trước thềm bầu cử quốc hội, Điện Kremlin đã cấm đảng Yabloko có lập trường phản chiến tham gia tranh cử đúng lúc đảng này bắt đầu nhận được nhiều sự ủng hộ hơn, đồng thời kết án Lev Shlosberg, một chính trị gia phản chiến, 11 năm tù. Những biện pháp đàn áp như vậy đã trở thành chuyện thường nhật dưới thời Putin, là phương thức vận hành mặc định của một hệ thống từ lâu đã vô hiệu hóa cạnh tranh giữa các tầm nhìn chính trị cũng như đối đầu thực chất giữa các đảng. Không chỉ chính trị đảng phái hầu như biến mất mà không vấp phải phản ứng công khai đáng kể, mà một phong trào phản chiến có tổ chức cũng không tồn tại. Nhiều người Nga có thể không tin rằng chế độ Putin thực sự quan tâm đến lợi ích chung, điều phần nào giúp lý giải dòng vốn tháo chạy khỏi đất nước, nhưng họ đồng thời chấp nhận chế độ như một thực tế hiển nhiên: một quyền lực xa xôi và gần như bất khả xâm phạm trước sức ép từ bên ngoài.

Trước chiến tranh, Putin đã dành nhiều thập kỷ để loại bỏ phe đối lập chính trị và những hoạt động chính trị nằm ngoài sự kiểm soát của nhà nước. Hai xu hướng song hành định hình một phần tư thế kỷ cầm quyền của ông: quyền lực ngày càng được tập trung chặt chẽ hơn, trong khi nước Nga ngày càng được quân sự hóa. Khi trở thành tổng thống năm 2000, Putin từng có thể được nhìn nhận theo nhiều cách cùng lúc: một nhà hiện đại hóa, một nhà cải cách và một nhà lãnh đạo cứng rắn. Nhưng dù lựa chọn hình ảnh nào, bản năng quyền lực của ông luôn rất rõ ràng, và trong cách hiểu của Putin, quyền lực trước hết đồng nghĩa với kiểm soát. Ngay từ những năm đầu, ông từng bước mở rộng quyền kiểm soát đối với nhà nước, truyền thông và giới kinh doanh. Đến năm 2012, khi trở lại Điện Kremlin với nhiệm kỳ tổng thống thứ ba, ông đã nắm quyền chi phối cả ba lĩnh vực này.

Trong suốt cuộc chiến tại Ukraine, trạng thái yên ổn đó phần lớn vẫn được duy trì ở bên trong nước Nga.

Putin gắn quá trình thăng tiến của mình với việc loại bỏ mọi nguồn kháng cự. Con đường đi tới vị thế thống trị gần như tuyệt đối diễn ra dần dần nhưng nhất quán: ông kiểm soát các mạng lưới truyền hình quốc gia, tước bớt quyền tự chủ của những địa phương có khả năng xung đột với Moscow, buộc các tài phiệt từ bỏ tham vọng chính trị và biến các đảng chính trị thành những cấu trúc ngày càng rỗng về thực chất. Khi mất quyền lực chính trị, các tài phiệt từ những người có khả năng thách thức Điện Kremlin trở thành những thần dân giàu có của Putin. Cuộc đối đầu kéo dài với Alexei Navalny, tiếng nói chỉ trích chính quyền nổi bật nhất, cuối cùng khép lại khi Navalny qua đời trong trại giam năm 2024. Sau năm 2022, phần lớn các cơ quan truyền thông độc lập còn lại cùng hàng trăm nghìn người phản đối chiến tranh rời khỏi Nga; những người chỉ trích còn ở lại luôn phải đối mặt với nguy cơ bị truy tố. Sự vắng bóng của phản kháng có ý nghĩa giờ đây đơn giản đã trở thành trạng thái bình thường mới.

Putin đồng thời sử dụng quyền lực để quân sự hóa cả nhà nước lẫn xã hội, và quá trình đó lại củng cố khả năng kiểm soát của ông. Ông đầu tư mạnh cho quốc phòng, biến ký ức về chiến thắng trong Thế chiến II thành một nền tảng của bản sắc dân tộc và khuyến khích sự quân sự hóa trong Giáo hội Chính thống giáo Nga. Đến khi ông xâm lược Ukraine năm 2022, chiến dịch này đã nhận được sự ủng hộ công khai của Thượng phụ Kirill và phần lớn giới giáo sĩ. Trước đó, Putin đã phát động hàng loạt cuộc chiến và chiến dịch quân sự ở Chechnya, Georgia, Ukraine từ tám năm trước và Syria. Ông tránh đặt toàn bộ nước Nga vào trạng thái thời chiến, nhưng lại khiến chiến tranh dần trở thành điều quen thuộc. Vì vậy, đối với phần lớn người Nga, chiến tranh trở thành một hiện tượng thường trực nhưng không nhất thiết làm đảo lộn đời sống hằng ngày. Ngay từ đầu nhiệm kỳ tổng thống, Putin đã mô tả nước Nga bằng một thứ ngôn ngữ đầy tính sử thi, tự định vị mình là nhà lãnh đạo đã khôi phục vị thế xứng đáng của đất nước như một cường quốc được tôn trọng. Sau năm 2022, hình ảnh đó mang sắc thái quân sự hóa ngày càng rõ rệt.

Việc liên tục tiến hành những cuộc chiến có thể được mô tả là ít nhất cũng đạt được một phần mục tiêu, trong khi không làm suy giảm đáng kể mức sống hay cảm giác an toàn của phần lớn người dân Nga, đã góp phần tạo nên khả năng chấp nhận một cuộc chiến ở Ukraine kéo dài hơn rất nhiều so với dự kiến ban đầu. Trong bốn năm qua, nhiệm vụ của Điện Kremlin là thuyết phục người Nga rằng chiến tranh không phải một tình trạng khẩn cấp bất thường. Nó được trình bày như một điều tất yếu trước vô số kẻ thù của nước Nga, đồng thời là việc đúng đắn xét theo sứ mệnh lịch sử và sức mạnh của đất nước.

SỨC MẠNH RỖNG TUẾCH

Hệ thống chính trị Nga không phải một pháo đài không có vết nứt. Sự bất mãn với chiến tranh đang âm thầm tích tụ. Theo các cuộc khảo sát do Trung tâm Levada thực hiện ngày 9/8, nhiều người Nga muốn tiến hành đàm phán hòa bình hơn là tiếp tục một cuộc chiến kéo dài. Một bộ phận chủ doanh nghiệp và người lao động, đặc biệt trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đang bất mãn trước những đợt tăng thuế đột ngột. Nếu kinh tế tiếp tục xấu đi và chiến tranh tác động trực tiếp hơn đến đời sống thường nhật, tâm lý bất mãn có thể sâu sắc hơn. Tuy nhiên, cho đến nay những vết nứt này vẫn tương đối nhỏ. Sự chỉ trích của Klepach chỉ là một hành động phản kháng công khai khiêm tốn trước một cấu trúc quyền lực vẫn cực kỳ vững chắc. Putin có đủ công cụ thể chế và thực tế để làm những gì ông muốn. Và điều ông muốn hơn hết là tiếp tục chiến tranh.

Trung tâm trong dự án cầm quyền của Putin là khuất phục Ukraine và buộc phương Tây phải chấp nhận kết quả đó. “Sớm hay muộn, Ukraine cũng sẽ mất các lãnh thổ phía tây [của mình],” Putin dự đoán trong bài phát biểu trước lực lượng hải quân hồi tháng 7. Đây không phải một nhận xét ngẫu hứng. Hàm ý của ông là Nga có định mệnh kiểm soát miền đông Ukraine, trong khi Ba Lan, Hungary và Romania sẽ hấp thụ các phần phía tây, và theo thời gian Ukraine sẽ không còn tồn tại như một quốc gia. Ý tưởng về việc Ukraine không có tư cách tồn tại độc lập cũng là luận điểm trung tâm trong bài viết mà Putin công bố bảy tháng trước cuộc xâm lược. Trong bốn năm qua, quan điểm của ông không hề dịu đi. Nếu có gì thay đổi, Chủ nghĩa Putin còn trở nên cực đoan hơn khi hệ thống ngày càng vững chắc; một cách nghịch lý, chính chiến tranh lại trở thành nguồn tạo nên sự tự tin của chế độ.

Không thể hình dung về thất bại, Putin cũng cảm thấy ít áp lực phải nhượng bộ. Ông chưa cạn kiệt các phương án quân sự và hoàn toàn có thể tin rằng mình cuối cùng sẽ chiến thắng. Quân đội Nga đủ lớn để duy trì một cuộc chiến tiêu hao, trong khi nền công nghiệp quốc phòng vẫn có khả năng sản xuất lượng lớn tên lửa và máy bay không người lái. Nga đã tồn tại qua nhiều năm bị tách khỏi châu Âu và Mỹ bởi trừng phạt và các hạn chế qua biên giới. Nền kinh tế Nga đang phải trả giá cho mối quan hệ ngày càng méo mó với thế giới bên ngoài, đặc biệt là sự đổ vỡ với châu Âu, đối tác thương mại tự nhiên của Nga, nhưng người dân không có những công cụ chính trị hữu hiệu để chuyển sự bất mãn thành hành động. Họ chủ yếu chỉ là khán giả của một quá trình ra quyết định không chịu sự giám sát công khai. Bên trong Điện Kremlin, nguồn lực tài chính đáng kể của Nga là một tài sản mà Putin có thể sử dụng với rất ít ràng buộc, cho phép ông ban thưởng cho những người trung thành, tuyên truyền và định hướng giới trẻ, cũng như tiếp tục tài trợ cho một cuộc chiến không có hồi kết rõ ràng.

Trên thực tế, Putin có thể còn thích một cuộc chiến kéo dài vô thời hạn, dù viễn cảnh đó tồi tệ đến đâu, hơn là phải chấp nhận những nhượng bộ trong một thỏa thuận không đồng nghĩa với sự đầu hàng của Ukraine. Trong cuộc gặp với các quân nhân hải quân hồi tháng 7, ông phát biểu như thể đã không còn hình dung được một nước Nga nằm ngoài khuôn khổ chiến tranh: “Chúng ta nên cùng nhau suy nghĩ về cách gìn giữ [tinh thần chiến đấu thời chiến] này cho tương lai.” Việc Nga phát động một cuộc chiến tranh thông thường toàn diện với các nước châu Âu sẽ là hành động cực kỳ liều lĩnh, nhưng Moscow hiện đang đẩy mạnh một cuộc chiến phi quy ước không tuyên bố thông qua các hoạt động phá hoại tại châu Âu. Việc chiến tranh lan sâu hơn vào lãnh thổ Nga thậm chí có thể củng cố sự ủng hộ dành cho Putin bằng cách kích thích tinh thần yêu nước mang tính phòng vệ, đặc biệt trong số những người Nga vốn đã có thái độ thù địch với “phương Tây”. Suốt nhiều năm, Putin đã truyền bá quan điểm rằng “tập thể phương Tây” quyết tâm làm tổn hại nước Nga. Giờ đây, ông có thể tuyên bố rằng những diễn biến hiện tại chứng minh mình đã đúng.

Điện Kremlin có thể phô diễn sức mạnh quân sự, ngay cả khi không giành được chiến thắng, như một bằng chứng về sự độc lập của Nga trong quan hệ quốc tế — hay “chủ quyền”, theo cách Putin thường gọi. Châu Âu và Mỹ không thể ra lệnh cho Nga phải làm gì. Họ không thể buộc quân đội Nga rời Ukraine hay thay đổi tính toán của Điện Kremlin chỉ bằng sức ép kinh tế. Nước Nga dưới thời Boris Yeltsin từng chật vật tìm cách ngăn NATO mở rộng. Putin, người coi Yeltsin và trước đó là Mikhail Gorbachev là những nhà lãnh đạo yếu đuối, đã thúc đẩy quân sự hóa như một phương tiện để khẳng định khả năng nói “không” với châu Âu và Mỹ. Việc đề cao quyền tự chủ chiến lược của Nga không phải một ý tưởng nhất thời; nó là một trong những nền tảng cho tính chính danh của Putin trong nước.

Dù đứng đầu một tổ hợp quân sự – công nghiệp được tài trợ dồi dào, Putin không phải một nhà chiến lược đặc biệt xuất sắc. Chính sách đối ngoại của ông có một sự rỗng tuếch đáng chú ý: Moscow gặp khó khăn trong việc kết hợp cưỡng ép với thuyết phục và đặc biệt yếu trong việc xây dựng những mối quan hệ có tính chính danh và bền vững. Sự sụp đổ của Nicolás Maduro khiến Nga gần như không còn nhiều ảnh hưởng tại Venezuela. Việc Bashar al-Assad bị lật đổ khiến Damascus thu hẹp sự hiện diện quân sự của Nga tại phía đông Địa Trung Hải. Ảnh hưởng của Moscow cũng suy giảm tại Trung Á, Moldova, Azerbaijan và gần đây là Armenia, dù không phải ở Georgia. Nga giành được mức độ độc lập lớn hơn khỏi châu Âu và Mỹ nhưng phải trả giá bằng sự phụ thuộc ngày càng sâu vào Trung Quốc, một sự đánh đổi đầy rủi ro.

Không nơi nào sự rỗng tuếch của chính sách đối ngoại Nga thể hiện rõ hơn ở Ukraine. Moscow hiện vẫn còn rất xa so với chiến thắng mà Putin hình dung vào tháng 2/2022, tức kiểm soát toàn bộ lãnh thổ và dân số Ukraine. Putin có thể tiếp tục gây hỗn loạn, và có thể đạt được một lệnh ngừng bắn theo những điều kiện mà ông chấp nhận, nhưng ông không thể dễ dàng chinh phục toàn bộ Ukraine. Một Ukraine không bị khuất phục, bằng việc tiếp tục chiến đấu hoặc đơn giản bằng việc ghi nhớ những tổn thất và tội ác gắn với cuộc xâm lược của Nga, sẽ là một thách thức chiến lược lâu dài đối với Moscow. Putin có thể tin rằng châu Âu rồi sẽ mệt mỏi với việc hỗ trợ Ukraine, nhưng trong bốn năm rưỡi qua xu hướng lại diễn ra theo chiều ngược lại. Nga càng gây nhiều tổn thất cho dân thường Ukraine, châu Âu càng đầu tư nhiều hơn vào khả năng phòng thủ của Ukraine cũng như của chính mình.

Nhưng không thách thức nào trong số đó hiện vượt quá khả năng kiểm soát chính trị của Putin. Việc Nga mắc sai lầm chiến lược hay chính sách của nhà nước có phục vụ lợi ích đời thường của người dân hay không đều chỉ là những vấn đề thứ yếu so với dự án củng cố quyền lực nhà nước mà ông theo đuổi. Nghịch lý cốt lõi của Chủ nghĩa Putin là sự tầm thường về chiến lược vẫn có thể góp phần nâng cao độ bền của chế độ — nếu không vĩnh viễn thì ít nhất cũng trong một thời gian dài. Nước Nga càng được mô tả như đang sống giữa một thế giới thù địch, xã hội càng có xu hướng bám chặt hơn vào một nhà lãnh đạo sùng chuộng sức mạnh.

CUỘC CHIẾN KHÔNG HỒI KẾT

Khi suy ngẫm về độ bền của chế độ Putin, giới phân tích đôi khi nuôi hy vọng về một người kế nhiệm ôn hòa hoặc dễ thỏa hiệp hơn. Điện Kremlin chắc chắn có những kế hoạch kế vị, nhưng không ai có thể bảo đảm chúng sẽ được thực hiện đúng như dự kiến nếu Putin qua đời hoặc rời quyền lực. Dẫu vậy, Chủ nghĩa Putin hiện ở vị thế tương đối thuận lợi để tồn tại lâu hơn người sáng lập ra nó. Các phong trào đối lập và cách mạng đều cần tổ chức. Tổ chức chính là một trong những kỹ năng nổi bật nhất của Vladimir Lenin, giúp ông lãnh đạo cuộc cách mạng thành công duy nhất từ dưới lên trong lịch sử Nga. Trong khi đó, mọi bất mãn tự phát ngày nay phải đối mặt với một bộ máy an ninh khổng lồ mà Putin và những người thân cận đã xây dựng. Một người kế nhiệm nếu duy trì được các công cụ đó sẽ rất khó bị lật đổ, ngay cả khi không thể kế thừa hào quang cá nhân của Putin.

Giới hoạch định chính sách tại Mỹ và châu Âu vì vậy phải chấp nhận khả năng Putin sẽ kiên trì với cuộc chiến. Một nền kinh tế trì trệ hay sự hoài nghi trong công chúng chỉ là những yếu tố thứ yếu so với thực tế căn bản rằng những điều kiện duy trì một cuộc xung đột kéo dài giờ đây đã trở thành một phần hữu cơ của quan hệ giữa Nga và châu Âu, một cấu trúc mang tính định hình và cực kỳ khó tháo gỡ. Putin đã sống sót qua hàng loạt khủng hoảng: các cuộc chiến Chechnya vào cuối những năm 1990 và đầu thế kỷ XXI; vụ chìm tàu ngầm Kursk năm 2000, khi ông bị chỉ trích là bất tài và thụ động; nhiều vụ tấn công khủng bố lớn; cuộc khủng hoảng tài chính 2007–2008; và cuộc nổi loạn của Prigozhin. Trong phần lớn thời gian Putin cầm quyền, giới tinh hoa Nga không phục tùng Điện Kremlin vì lòng trung thành sâu sắc hay sự đồng điệu ý thức hệ. Họ làm vậy vì cơ hội, và ngày càng nhiều hơn vì sợ hãi.

Putin sẵn sàng tiếp tục cuộc chiến thêm nhiều năm, không chỉ vì các cố vấn có thể vẫn nói với ông rằng chiến thắng đang ở trong tầm tay. Cuộc chiến đã ăn sâu vào Chủ nghĩa Putin cũng như Chủ nghĩa Putin đã ăn sâu vào cuộc chiến. Hệ thống chính trị mà ông xây dựng trao cho ông quyền tự do rất lớn để tiếp tục con đường mình lựa chọn, trong khi di sản cá nhân của ông giờ đã gắn chặt với cuộc chiến tới mức khó có thể tách rời. Cả Putin lẫn nước Nga dưới sự lãnh đạo của ông đều đang chuẩn bị cho một cuộc đối đầu dài hạn.

Michael Kimmage là Giám đốc Viện Kennan và là tác giả cuốn Collisions: The Origins of the War in Ukraine and the New Global Instability.

Maria Lipman là Học giả Nghiên cứu Thỉnh giảng tại Viện Nghiên cứu Các vấn đề Toàn cầu Roberta Buffett thuộc Đại học Northwestern.