Trật tự mới cho khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Brahma Chellaney, “A New Order for the Indo-Pacific”, Project Syndicate, 09/03/2018.

Biên dịch: Trần Thanh Bình

Động lực an ninh đang thay đổi nhanh chóng ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Khu vực này không những bao gồm các nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới mà còn là nơi chứng kiến sự gia tăng nhanh nhất các khoản chi tiêu quân sự và năng lực hải quân, sự cạnh tranh quyết liệt nhất đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cũng như các điểm nóng chiến lược nguy hiểm nhất. Người ta thậm chí có thể nói rằng khu vực này giữ chìa khóa đối với an ninh toàn cầu.

Việc sử dụng thuật ngữ “Ấn Độ Dương -Thái Bình Dương” ngày càng nhiều – khái niệm để chỉ tất cả các nước nằm dọc Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương – chứ không phải là “Châu Á – Thái Bình Dương”, nhấn mạnh khía cạnh trên biển của các căng thẳng hiện nay. Các đại dương ở châu Á ngày càng trở thành một đấu trường cạnh tranh về nguồn lực và ảnh hưởng. Giờ đây có vẻ như các cuộc khủng hoảng khu vực trong tương lai sẽ được kích hoạt và/hoặc giải quyết trên biển.

Động lực chính của sự thay đổi này là Trung Quốc, nước trong 5 năm qua đã tìm cách đẩy biên giới của mình ra ngoài khơi vùng biển quốc tế bằng cách xây dựng các hòn đảo nhân tạo ở Biển Đông. Sau khi quân sự hoá những tiền đồn này – được xem như là một sự đã rồi đối với thế giới – giờ đây Trung Quốc đang chuyển hướng trọng tâm của mình sang Ấn Độ Dương.

Trung Quốc đã thành lập căn cứ quân sự nước ngoài đầu tiên ở Djibouti, nước gần đây đã tước quyền điều hành một hải cảng chính khỏi tay một công ty có trụ sở tại Dubai, có thể để trao cho Trung Quốc. Hơn nữa, Trung Quốc đang có kế hoạch mở một căn cứ hải quân mới nằm cạnh cảng Gwadar do Trung Quốc kiểm soát tại Pakistan. Nước này đã thuê một số hòn đảo ở Maldives đang trong vòng xoáy khủng hoảng, nơi Bắc Kinh chuẩn bị xây dựng một đài quan sát biển nhằm cung cấp dữ liệu ngầm hỗ trỡ triển khai các tàu ngầm tấn công hạt nhân (SSNs) và tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo (SSBN) tại Ấn Độ Dương.

Tóm lại, Trung Quốc đã làm biến đổi cảnh quan chiến lược của khu vực chỉ trong vòng 5 năm. Nếu các cường quốc khác không can thiệp vào những thách thức tiếp theo đối với nguyên trạng lãnh thổ và hàng hải, thời gian 5 năm tới có thể giúp củng cố những lợi thế chiến lược của Trung Quốc. Kết quả có thể là sự trỗi dậy của một trật tự khu vực bá quyền phi tự do do Trung Quốc lãnh đạo, làm tổn hại trật tự tự do dựa trên luật lệ mà hầu hết các nước trong khu vực đều ủng hộ. Nếu xét tầm quan trọng về kinh tế của khu vực, điều này sẽ tạo ra những rủi ro đáng kể cho thị trường toàn cầu và an ninh quốc tế.

Để giảm nhẹ mối đe dọa này, các nước Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương phải đối mặt với ba thách thức chính, đầu  tiên là khoảng cách ngày càng mở rộng giữa chính trị và kinh tế. Mặc dù thiếu hội nhập chính trị và một khuôn khổ an ninh chung ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, các hiệp định thương mại tự do đang ngày càng nở rộ, mới nhất là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương Toàn diện và Tiến bộ (CPTPP). Trung Quốc nổi lên như là đối tác thương mại hàng đầu của hầu hết các nền kinh tế khu vực.

Tuy nhiên, một mình sự bùng nổ thương mại không thể giảm được các rủi ro chính trị. Điều đó đòi hỏi một khuôn khổ các quy tắc và chuẩn mực chung có thể thi hành được. Đặc biệt, tất cả các nước phải đồng ý tuyên bố hoặc làm rõ các yêu sách lãnh thổ hoặc hàng hải của mình trên cơ sở luật pháp quốc tế và giải quyết bất kỳ tranh chấp nào bằng các biện pháp hòa bình – không bao giờ bằng vũ lực hoặc ép buộc.

Thiết lập một khuôn khổ khu vực giúp thực thi nền pháp quyền sẽ đòi hỏi đạt được các tiến bộ nhằm vượt qua thách thức thứ hai: “vấn đề lịch sử của khu vực”. Các tranh chấp về lãnh thổ, tài nguyên thiên nhiên, các đài  tưởng niệm chiến tranh, khu vực phòng không, và sách giáo khoa đều có mối liên hệ, theo cách này hay cách khác, với những diễn ngôn lịch sử mâu thuẫn nhau. Kết quả là những tư tưởng dân tộc chủ nghĩa cạnh tranh và củng cố lẫn nhau khiến tương lai khu vực rơi vào nguy hiểm.

Quá khứ tiếp tục phủ bóng đen lên quan hệ giữa Hàn Quốc và Nhật Bản – những đồng minh thân cận nhất của Mỹ ở Đông Á. Về phần mình, Trung Quốc sử dụng lịch sử để biện minh cho các nỗ lực của mình nhằm lật đổ hiện trạng lãnh thổ và hàng hải, đồng chời bắt chước các nỗ lực bành trướng kiểu thực dân trước năm 1945 của đối thủ Nhật Bản. Tất cả các tranh chấp biên giới với 11 nước láng giềng của Trung Quốc đều dựa trên các tuyên bố lịch sử, chứ không phải luật quốc tế.

Điều này mang lại cho chúng ta thách thức lớn thứ ba đối với khu vực Ấn Độ Dương -Thái Bình Dương: thay đổi động lực trên biển. Trong bối cảnh thương mại hàng hải gia tăng, các cường quốc khu vực đang cạnh tranh nhau để giành quyền tiếp cận, ảnh hưởng và lợi thế tương đối.

Ở đây, mối đe dọa lớn nhất nằm ở những nỗ lực đơn phương của Trung Quốc nhằm thay đổi nguyên trạng khu vực. Những gì mà Trung Quốc đạt được ở Biển Đông có tác động chiến lược sâu rộng hơn và dài hạn hơn so với việc Nga sáp nhập Crimea chẳng hạn, vì nó đưa ra thông điệp rằng chủ nghĩa đơn phương hiếu chiến không nhất thiết phải bị quốc tế trừng phạt.

Bên cạnh đó còn có những thách thức mới, từ biến đổi khí hậu, đánh bắt hải sản quá mức và suy thoái các hệ sinh thái biển, đến sự xuất hiện của các chủ thể phi nhà nước trên biển, như cướp biển, khủng bố và các tổ chức tội phạm – và môi trường an ninh khu vực ngày càng trở nên căng thẳng và bất định. Tất cả những điều này làm tăng nguy cơ chiến tranh, dù là tình cờ hay cố ý.

Như Chiến lược An ninh Quốc gia Hoa Kỳ gần đây nhận định, “Một cuộc cạnh tranh địa chính trị giữa các quan điểm tự do và đàn áp về trật tự thế giới đang diễn ra ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương”. Tuy nhiên, trong khi các nước lớn trong khu vực đều đồng ý rằng một trật tự tự do mở và dựa trên luật lệ là rất phù hợp với bá quyền của Trung Quốc, cho đến nay họ vẫn làm quá ít để thúc đẩy hợp tác.

Không còn nhiều thời gian để lãng phí. Các cường quốc Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương phải có hành động mạnh mẽ hơn để tăng cường ổn định khu vực, nhắc lại cam kết của họ về các chuẩn mực chung, không chỉ luật quốc tế, và tạo ra các thể chế vững chắc.

Trước tiên, Australia, Ấn Độ, Nhật Bản và Hoa Kỳ phải đạt được tiến bộ trong việc thể chế hoá Đối thoại Bốn bên về An ninh, qua đó có thể phối hợp tốt hơn các chính sách và theo đuổi hợp tác rộng hơn với các đối tác quan trọng khác như Việt Nam, Indonesia và Hàn Quốc, cũng như với các quốc gia nhỏ hơn.

Về mặt kinh tế và chiến lược, trung tâm trọng lực toàn cầu đang chuyển sang khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Nếu các quốc gia trong khu vực không hành động ngay bây giờ để củng cố một trật tự mở, dựa trên luật lệ, tình hình an ninh sẽ tiếp tục xấu đi – với những hậu quả có thể làm chấn động toàn thế giới.

Brahma Chellaney, Giáo sư Nghiên cứu Chiến lược tại Trung tâm Nghiên cứu Chính sách (đặt tại New Delhi) và Nghiên cứu viên tại Học viện Robert Bosch tại Berlin, là tác giả của 9 cuốn sách, trong đó có Asian Juggernaut, Water: Asia’s New Battleground, and Water, Peace, và War: Confronting the Global Water Crisis. 

Copyright: Project Syndicate 2018 – A New Order for the Indo-Pacific

This entry was posted in An ninh CA-TBD, Bình luận and tagged , . Bookmark the permalink.