
Nguồn: Nguyễn Khắc Giang, “Why Vietnam Is Swinging in China’s Direction”, Carnegie China, 24/04/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Dù có đủ mọi lý do để gắn kết Hà Nội và Bắc Kinh lại với nhau — từ sự tương đồng về hệ tư tưởng, nỗi lo về sự tồn vong của chế độ, sự phụ thuộc vào xuất khẩu cho đến sức nặng của địa lý — cả hai nước vẫn chưa thực sự thiết lập một liên minh đúng nghĩa. Thực tế lại hoàn toàn ngược lại. Hai quốc gia cộng sản này từ lâu đã giữ khoảng cách nhất định với nhau, điều khiến Washington luôn xem Việt Nam là một trong những “quốc gia bản lề” then chốt tại Đông Nam Á. Quan điểm này được thể hiện rõ nét dưới thời chính quyền Biden.
Tuy nhiên, thay vì ngả về phía Mỹ, Việt Nam gần đây dường như lại đang dịch chuyển theo hướng ngược lại. Sẽ là sai lầm nếu coi sự chuyển dịch này là minh chứng cho việc Hà Nội đột ngột thân thiết hơn với Bắc Kinh. Điều thực sự thay đổi chính là mong muốn chung nhằm phòng bị nước đôi trước một thế giới đang mất phương hướng. Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa thực dụng lên ngôi. Dưới bộ máy lãnh đạo mới, Hà Nội giờ đây có vẻ cởi mở không kém Bắc Kinh trong việc đón nhận cơ hội thắt chặt quan hệ. Thật vậy, Việt Nam cần một chính sách bảo đảm để đối phó với một thế giới ngày càng hoài nghi vào những cam kết của người Mỹ. Về phía Trung Quốc, họ có mọi lý do để trói chặt một đối tác quan trọng tại Đông Nam Á trong một khu vực mà chính quyền Trump đã gây chấn động bằng những đòn thuế quan thất thường và sự vắng bóng tại các hội nghị thượng đỉnh.
Trong chuyến thăm cấp nhà nước tới Bắc Kinh của Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Tô Lâm, sự nâng tầm quan hệ song phương được cụ thể hóa trong tuyên bố chung về việc xây dựng “Cộng đồng vận mệnh chung có ý nghĩa chiến lược ở tầm mức cao hơn trong kỷ nguyên mới”. Dù nghe có vẻ rườm rà, cụm từ này phản ánh một mối quan hệ đang chuyển dịch theo hướng thực chất hơn, dựa trên kinh doanh và thương mại nhiều hơn là sự tương đồng về chính trị.
Mọi chuyện không phải lúc nào cũng vậy. Dưới thời cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Việt Nam dựa nhiều vào ý thức hệ, kỷ luật đảng và tình hữu nghị xã hội chủ nghĩa. Nhưng sự đồng điệu về tư tưởng chưa bao giờ đủ để khỏa lấp ký ức về cuộc chiến biên giới 1979, những tranh chấp trên biển, hay bản năng tự nhiên của Việt Nam là luôn giữ người láng giềng khổng lồ ở một khoảng cách an toàn. Điều đã thay đổi dưới thời ông Tô Lâm chính là diện mạo của những đề nghị, và cả chân dung của người đón nhận chúng. Sau sự nghiệp điều hành Bộ Công an, ông Tô Lâm là một lãnh đạo thực dụng xuất thân từ ngành an ninh, người đã tập trung cả quyền lực Đảng và Nhà nước vào tay một lãnh đạo duy nhất, một kỳ tích hiếm thấy trong nền chính trị vốn coi trọng sự đồng thuận của Việt Nam.
Một chính trị gia thực dụng nắm trong tay nguồn vốn chính trị khổng lồ là điều mà Bắc Kinh rất muốn nghe, bởi họ luôn ưu tiên làm việc qua một đầu mối ra quyết định duy nhất. Hơn nữa, ông Tô Lâm đã thực hiện những cải cách triệt để nhằm tái cấu trúc nền kinh tế “ngôi sao” của Đông Nam Á dưới ngọn cờ “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Ông có thể nói tiếng Việt, nhưng ông đang sử dụng cùng một ngôn ngữ về phát triển kinh tế mà Bắc Kinh vô cùng am tường.
Khi ông Tô Lâm đến Bắc Kinh đúng một năm sau chuyến thăm Hà Nội gần nhất của ông Tập, phía Trung Quốc đã mài giũa những đề nghị của mình một cách hiệu quả. Ông Tập đã thuyết phục ông Tô Lâm bằng cơ sở hạ tầng, chuỗi cung ứng và một vị trí kín đáo tại các diễn đàn đa phương của Bắc Kinh.
Gói kinh tế mà Trung Quốc đưa ra cũng tương tự như những gì họ làm ở nhiều thị trường đang phát triển khác: “chúng tôi có thể giúp các bạn xây dựng mọi thứ nhanh và rẻ, và nhân tiện, chúng tôi rất giỏi về đường sắt.” Đề nghị xây dựng và tài trợ ba tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn xuyên biên giới kết nối vành đai phía Bắc Việt Nam với các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây, bắt đầu bằng tuyến trị giá 7,2 tỷ USD từ Lào Cai về cảng Hải Phòng qua Hà Nội, không phải là điều quá bất ngờ. Đường sắt cao tốc cũng đã được đưa vào danh mục hợp tác công nghệ, một nỗ lực kín đáo của Trung Quốc nhằm giành lấy một phần trong siêu dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam trị giá 67 tỷ USD của Việt Nam, dự kiến khởi công vào cuối năm nay. Như để nhấn mạnh sự chuyển dịch này, ông Tô Lâm đã hai lần trải nghiệm tàu cao tốc của Trung Quốc trong chuyến đi và không tiếc lời khen ngợi công khai.
Xoay quanh các tuyến đường sắt là một cấu trúc hội tụ kinh tế rộng lớn hơn. Hai bên đã ký kết 32 văn kiện hợp tác trong chuyến thăm, trong khi tuyên bố chung vạch ra kế hoạch về chuỗi cung ứng, hải quan, khoa học công nghệ, hợp tác địa phương và phát triển xuyên biên giới. Tuyên bố cũng ưu tiên kết nối vận tải và logistics, phù hợp với bước ngoặt lớn hơn trong quan hệ: rời xa những khẩu hiệu hào nhoáng để hướng tới cơ chế vận hành của sự lưu thông, sản xuất và khả năng phục hồi. Đối với Hà Nội, điều này là hợp lý. Trung Quốc vốn đã là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, và nếu mối quan hệ này muốn duy trì được tính bền vững về chính trị, nó phải tạo ra nhiều giá trị hơn là chỉ một khoản thâm hụt thương mại ngày càng phình to.
Bắc Kinh luôn cổ súy cho chủ nghĩa đa phương nhưng rõ ràng thích các quốc gia tham gia vào những câu lạc bộ dành riêng cho thành viên của mình hơn là của siêu cường khác. Trên mặt trận đó, những tín hiệu từ ông Tô Lâm rất quan trọng. Tuyên bố chung đã nhắc đến Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) với thái độ nồng nhiệt và cho biết Hà Nội sẵn sàng duy trì trao đổi về khả năng trở thành đối tác của tổ chức này. Việt Nam cũng tái khẳng định sự ủng hộ đối với bốn sáng kiến toàn cầu của Trung Quốc. Đối với một quốc gia từ lâu luôn ưu tiên sự mập mờ chiến lược và ngôn từ cẩn trọng, đây là một bước đi đáng chú ý. Hà Nội có thể chưa gia nhập khối của Trung Quốc, nhưng họ đang trở nên cởi mở hơn, ít nhất là về mặt ngôn ngữ, với những lựa chọn thay thế từ Bắc Kinh khi thế giới ngày càng trở nên khó đoán định.
Tất cả những điều này không đồng nghĩa với việc Việt Nam từ bỏ quyền tự chủ chiến lược. Ngược lại, nó cho thấy Hà Nội đang nỗ lực thực hiện chiến lược nước đôi mạnh mẽ hơn trong một thế giới đầy biến động. Một quốc gia nhỏ sống cạnh một gã khổng lồ không nhất thiết phải yêu quý gã khổng lồ đó mới thắt chặt quan hệ. Họ chỉ đơn giản đi đến kết luận rằng môi trường bên ngoài đang trở nên tồi tệ hơn và những đối trọng cũ không còn đáng tin cậy như trước.
Ba bài học được rút ra ở đây. Thứ nhất, Trung Quốc ngày càng trở nên lão luyện trong việc đo ni đóng giày các gói ưu đãi để làm hài lòng các nhóm lợi ích khác nhau. Với phía Việt Nam, đó là ý thức hệ cho những người giáo điều, hạ tầng cho những người thực dụng, và phối hợp an ninh cho cả hai. Thứ hai, logic trong chiến lược phòng bị nước đôi của Việt Nam đang thay đổi. Giờ đây, nó ít được thể hiện qua khoảng cách mà thông qua sự chọn lọc trong gắn kết: ngôn từ nồng ấm hơn, các liên kết thể chế dày đặc hơn, nhưng vẫn không ngừng nỗ lực duy trì dư địa để xoay xở. Thứ ba, trong một khu vực đang bị rúng động bởi sự bất ổn, tầm ảnh hưởng không thuộc về cường quốc rao giảng đạo đức hùng hồn mà thuộc về bên nào có thể tài trợ cho đường sắt, ổn định chuỗi cung ứng và hứa hẹn sự bảo đảm về chính trị mà không đòi hỏi sự phục tùng tuyệt đối. Đối với Hà Nội, Bắc Kinh đã đưa ra một đề nghị mà họ không thể chối từ.
