
Nguồn: Khang Vũ, “The Myth of Vietnam’s Tilt Toward China”, The Diplomat, 04/05/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Chuyến thăm Trung Quốc gần đây của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh dấu chuyến công du nước ngoài đầu tiên của ông kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và việc hợp nhất hai vị trí lãnh đạo cao nhất của Việt Nam vào tay một cá nhân duy nhất. Chuyến thăm mang ý nghĩa chính trị to lớn khi xác nhận rằng bất chấp những cuộc tái cấu trúc chính trị nội bộ, Việt Nam vẫn duy trì chính sách ngoại giao không liên kết và muốn duy trì mối quan hệ song phương hữu nghị trong bối cảnh Mỹ có những động thái sử dụng vũ lực đơn phương ở những nơi khác.
Các nhà phân tích đã nhanh chóng lập luận rằng chuyến thăm của ông Tô Lâm báo hiệu một sự thay đổi trong chính sách đối ngoại cân bằng của Việt Nam giữa Washington và Bắc Kinh, khi Việt Nam ký kết các thỏa thuận quan trọng về cơ sở hạ tầng, công nghệ và chuỗi cung ứng với Trung Quốc. Hà Nội cũng khẳng định sự ủng hộ đối với Sáng kiến Phát triển Toàn cầu, Sáng kiến An ninh Toàn cầu, Sáng kiến Văn minh Toàn cầu và Sáng kiến Quản trị Toàn cầu của Trung Quốc, cũng như “Cộng đồng chung vận mệnh” mà nước này đã tham gia vào năm 2023. Cơ chế đối thoại chiến lược “3+3” vừa được thiết lập giữa các Bộ Ngoại giao, Quốc phòng và Công an của hai nước dường như càng củng cố thêm quan điểm rằng Việt Nam đang xích lại gần Trung Quốc hơn.
Tuy nhiên, kết luận này là quá vội vàng. Những nhà phân tích này đã phạm sai lầm mang tính phiến diện khi tìm hiểu chính sách đối ngoại của Việt Nam. Mối quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc hiếm khi chỉ xoay quanh hai quốc gia, bởi mạng lưới đối tác dày đặc của Hà Nội đòi hỏi sự hiệu chỉnh và điều chỉnh liên tục để đảm bảo rằng quan hệ với các cường quốc khác không bị cản trở. Nói tóm lại, Việt Nam sẽ cân bằng các bước đi với cường quốc này bằng cường quốc khác để trung hòa ý nghĩa chính trị của chúng và duy trì sự trung lập tổng thể của Hà Nội. Để hiểu đầy đủ về ngoại giao Việt Nam, không nên tập trung vào quan hệ song phương của Việt Nam với một quốc gia cụ thể, mà nên xem cách Việt Nam, với tư cách là một trục, điều phối các nan hoa xung quanh mình. Phân tích ngoại giao Việt Nam chỉ từ góc độ một nan hoa duy nhất sẽ rơi vào cảnh chỉ thấy một cái cây mà không thấy cả khu rừng.
Có rất nhiều ví dụ về những cách diễn giải mâu thuẫn như vậy đối với nỗ lực cải thiện quan hệ của Hà Nội với một cường quốc, vốn thường đặt những cải thiện đó vào bối cảnh song phương thay vì một bối cảnh đa phương rộng lớn hơn. Chẳng hạn, khi Việt Nam nâng cấp vượt bậc quan hệ với Mỹ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện (CSP) vào tháng 9/2023, một số nhà phân tích kết luận rằng Hà Nội đang “ngả về phía” Mỹ. Chỉ ba tháng sau, Việt Nam gia nhập “Cộng đồng chung vận mệnh” của Trung Quốc trong chuyến thăm Hà Nội của Chủ tịch Tập Cận Bình. Lần này, một số quan sát viên lại coi động thái này là sự ủng hộ của Hà Nội đối với tầm nhìn của Bắc Kinh trong cuộc cạnh tranh siêu cường.
Cả hai cách nhìn trên đều mang tính phiến diện. Khi xem xét các bước đi của Hà Nội với cả Mỹ và Trung Quốc, rõ ràng Việt Nam muốn trung hòa tầm quan trọng chính trị của việc nâng cấp quan hệ với Washington bằng cách tham gia vào sáng kiến của Trung Quốc. Ý định quản lý các “nan hoa” của Hà Nội là rất rõ ràng, khi Việt Nam nhanh chóng nâng cấp quan hệ với Nhật Bản, Úc, Malaysia, New Zealand, Indonesia, Singapore, Thái Lan và Anh lên mức CSP sau tháng 9/2023. Trước năm 2023, Hà Nội mới chỉ có bốn đối tác CSP là Trung Quốc, Nga, Ấn Độ và Hàn Quốc.
Một ví dụ khác là chuyến thăm của ông Tô Lâm tới Mỹ để tham dự Hội nghị Hội đồng Hòa bình của Tổng thống Donald Trump vào tháng Hai, ngay sau khi ông được phê chuẩn chức danh Tổng Bí thư nhiệm kỳ 2026-2031. Thời điểm của chuyến thăm, chuyến công du nước ngoài đầu tiên sau Đại hội Đảng vào tháng Giêng, một lần nữa dấy lên câu hỏi về việc chọn phe của Việt Nam, vì ngoại trừ Lào và Campuchia, các lãnh đạo hàng đầu của Việt Nam thường chọn Trung Quốc làm điểm đến cho chuyến thăm cường quốc đầu tiên sau khi nhậm chức. Tuy nhiên, tầm quan trọng chính trị của chuyến thăm Mỹ của ông Tô Lâm đã sớm được đối trọng bằng chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 8/2024, sau khi kế nhiệm cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Và bằng cách thăm Trung Quốc vào tháng trước, ngay sau khi nắm giữ hai vị trí cao nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam, ông Tô Lâm đã nâng tầm ý nghĩa biểu tượng của truyền thống này.
Một chỉ dấu khác về sự hiệu chỉnh các “nan hoa” của Việt Nam có thể thấy trong các tuyên bố công khai với các đối tác. Việt Nam luôn nhấn mạnh rằng việc cải thiện quan hệ với một quốc gia không đồng nghĩa với ý định thù địch chống lại quốc gia khác. Về việc nâng cấp quan hệ Việt-Mỹ năm 2023, ông Trọng từng nhấn mạnh: “Việt Nam mong muốn thúc đẩy quan hệ với Mỹ và các đối tác quốc tế khác theo đúng tinh thần mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra sau khi Việt Nam giành được độc lập: Đó là, Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước.” Cuối năm đó, ông Trọng đã bác bỏ quan điểm cho rằng Việt Nam đang chọn phe Trung Quốc khi khẳng định với ông Tập rằng chính sách đối ngoại của Việt Nam là “độc lập, tự chủ, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại.”
Ông Tô Lâm vẫn giữ vững nguyên tắc tương tự. Khi thăm Mỹ vào tháng 9/2024, ông Tô Lâm đã nhất trí rằng “Việt Nam và Mỹ có cùng tầm nhìn về việc xây dựng một tương lai chung tốt đẹp hơn cho toàn nhân loại.” Tại Hội nghị Hội đồng Hòa bình, Việt Nam quốc tế hóa ý nghĩa chính trị của việc tham gia bằng cách khẳng định lời kêu gọi giải quyết hòa bình mọi tranh chấp phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế. Việt Nam không muốn bị nhìn nhận là chỉ đang ủng hộ tầm nhìn của riêng Tổng thống Donald Trump.
Tuyên bố chung giữa ông Tô Lâm và ông Tập Cận Bình gần đây nhất một lần nữa khẳng định chính sách ngoại giao không liên kết của Việt Nam. Sự nhấn mạnh tương tự về tính không liên kết gắn liền với chủ nghĩa đa phương cũng thể hiện rõ trong các tuyên bố với các đối tác CSP sau năm 2023 như Nhật Bản, Úc, Malaysia, New Zealand, Indonesia, Singapore, Thái Lan và Anh. Điều này phản ánh nỗ lực có tính toán của Hà Nội nhằm ràng buộc các đối tác vào nguyên tắc ngoại giao “Bốn không” (không liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ, và không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế). Bằng cách kiên trì với chủ nghĩa đa phương, Hà Nội không đứng về phía ai.
Việc kiên định với chính sách không liên kết là cách phòng vệ tốt nhất của Việt Nam trước các động thái sử dụng vũ lực đơn phương gần đây của Mỹ, vì nó cho phép Hà Nội quản lý quan hệ với Mỹ như một đối tác chứ không phải kẻ thù. Bên cạnh việc đảm bảo với Trung Quốc rằng Việt Nam không chọn phe Mỹ để chống lại họ, Việt Nam cũng phải thuyết phục Mỹ rằng họ không có ý định gia nhập một liên minh do Bắc Kinh dẫn đầu để chống lại Washington.
Việc ngả về phía Trung Quốc vào thời điểm Washington muốn các đồng minh và đối tác của mình tách rời khỏi Trung Quốc sẽ khiến Việt Nam gặp rủi ro bị cuốn vào cuộc cạnh tranh nước lớn. Thứ nhất, Washington có thể áp thêm thuế quan lên hàng xuất khẩu của Việt Nam, vốn đạt giá trị 178 tỷ USD vào năm 2025 và vẫn đang tăng trưởng bất chấp các chính sách bảo hộ của Mỹ. Thứ hai, Washington có thể hạn chế quyền tiếp cận của Việt Nam đối với các công nghệ nhạy cảm tiên tiến. Thứ ba, Mỹ có thể rút lại sự tôn trọng đối với tính chính danh chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thứ tư, việc ngả về phía Trung Quốc sẽ làm suy yếu chiến dịch bồi đắp đảo đang diễn ra của Việt Nam tại Biển Đông. Lý do giúp Hà Nội có thể xây dựng các đảo mới mà không bị cả Trung Quốc lẫn Mỹ lên án chính là nhờ vị thế trung lập của mình. Nếu Mỹ tin rằng Việt Nam đã chọn phe Trung Quốc, họ có thể thách thức các hoạt động của Việt Nam tương tự như cách họ đã làm với Trung Quốc. Cuối cùng, việc nghiêng về phía Trung Quốc sẽ làm tổn hại đến quan hệ đối ngoại của Hà Nội với các đối tác khác vốn là đồng minh của Mỹ — những bên mà Hà Nội cũng có các thỏa thuận lớn về cơ sở hạ tầng, công nghệ và chuỗi cung ứng.
Thật dễ để kết luận rằng Việt Nam đang ngả về phía Trung Quốc nhằm phòng bị nước đôi trước việc Mỹ từ bỏ vai trò lãnh đạo toàn cầu, nhưng khi xem xét kỹ hơn, Việt Nam trông giống như đang khuyến khích Trung Quốc tôn trọng chính sách “Bốn không” và Trung Quốc sẵn lòng làm điều đó để giữ cho Việt Nam trung lập. Việt Nam đã tận dụng thực tế chia sẻ chung hệ thống chính trị cộng sản như một phương tiện để ràng buộc Trung Quốc vào tầm nhìn Bốn Không, vì vậy những phát triển gần đây như đối thoại “3+3” nên được nhìn nhận là sự mở rộng của chiến lược đó, chứ không phải dấu hiệu của việc Việt Nam gia nhập phe Trung Quốc. Từ góc độ chiến lược trục và nan hoa, việc Việt Nam cải thiện quan hệ với một đối tác sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thắt chặt quan hệ với đối tác khác. Một cách nhìn phiến diện sẽ hiểu sai việc Hà Nội quản lý mạng lưới của mình thành những bước đi trong một trò chơi có tổng bằng không.
Khang Vũ là học giả thỉnh giảng tại Khoa Khoa học Chính trị thuộc Đại học Boston College.
