09/05/1915: Phe Hiệp ước mở cuộc tiến công kép trên Mặt trận phía Tây

Nguồn: Allies launch dual offensive on Western Front, History.com

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Vào ngày này năm 1915, các lực lượng Anh-Pháp chiến đấu trong Thế chiến I tiến hành nỗ lực phối hợp đầu tiên nhằm chọc thủng các chiến hào kiên cố của quân Đức trên Mặt trận phía Tây ở Pháp.

Tại Cao điểm Vimy, một dải đất có tầm chiến lược quan trọng trên sông Aisne ở tây bắc nước Pháp, quân đội Pháp mở một cuộc tấn công vào các cứ điểm của Đức sau khi nã đạn pháo mảnh suốt năm giờ đồng hồ vào sáng ngày 9/5/1915. Ngay sau đợt pháo kích, lính Pháp rời khỏi chiến hào để tiến qua Vùng đất Vô chủ, chỉ để rồi phát hiện ra rằng cuộc oanh tạc đã thất bại trong việc phá vỡ hàng rào dây thép gai đầu tiên của Đức.

Khi họ chật vật tự cắt đứt dây thép gai, lính súng máy Đức bắt đầu phản công. Cuối cùng, quân Pháp cũng đạt được mục tiêu của mình khi quân Đức rút lui về các phòng tuyến vững chắc hơn, nhưng phải chịu thương vong nặng nề: một trung đoàn thuộc Quân đoàn Lê dương Pháp mất gần 2.000 trong số 3.000 binh sĩ, bao gồm cả sĩ quan chỉ huy — người bị một tay súng bắn tỉa bắn trúng ngực — và toàn bộ ba vị tiểu đoàn trưởng.

Cùng ngày hôm đó, quân Anh dưới sự chỉ huy của Ngài Douglas Haig, Tổng Tư lệnh Quân đoàn 1, tấn công các phòng tuyến của quân Đức ở khu vực xa hơn về phía bắc vùng Artois nhằm chiếm lấy Cao điểm Aubers, nơi họ từng thất bại trong Trận Neuve Chapelle hai tháng trước đó. Ở đây, pháo binh Anh cũng tỏ ra kém hiệu quả; nhiều quả đạn bị lỗi và nhiều quả khác quá nhẹ để gây ra sức công phá nghiêm trọng. Kết quả là khi những người lính bắt đầu tiến công, họ hoàn toàn không thể chọc thủng được hệ thống phòng thủ của quân Đức. Một ghi chép trong nhật ký trung đoàn của Đức về cuộc hành quân xấu số đó viết rằng: “Từ xưa đến nay, trong chiến tranh chưa từng có một mục tiêu nào hoàn hảo hơn bức tường vững chắc toàn những người lính mặc áo khaki này, lính Anh và lính Ấn Độ sát cánh bên nhau. Chỉ có một mệnh lệnh duy nhất có thể được đưa ra — Bắn cho đến khi súng vỡ nòng.”

Sau khi đợt tấn công đầu tiên của Anh thất bại trong việc chọc thủng phòng tuyến Đức, những người lính xoay sở vượt qua được Vùng đất Vô chủ và bị thương do hỏa lực địch, cuối cùng lại bị giết bởi đợt pháo kích tiếp theo của chính quân Anh kéo dài 40 phút. Những binh sĩ Anh tháo chạy về phòng tuyến của mình phải hứng chịu hỏa lực của quân Đức trên đường chạy trốn, và vì họ dẫn theo một số tù binh Đức, những người lính trong chiến hào của Anh lầm tưởng mình đang phải đối mặt với một cuộc phản công, nên cũng nổ súng vào chính những đồng đội đang rút lui của mình.

Bất chấp thất bại ban đầu, Haig vẫn ra lệnh thực hiện cuộc tấn công thứ hai, phớt lờ các báo cáo từ lực lượng trinh sát trên không về làn sóng viện binh Đức không ngừng tiến lên. Hai trong số ba vị chỉ huy cấp dưới phản đối, bao gồm Tướng James Willcocks, chỉ huy Quân đoàn Ấn Độ, và Tướng Hubert Gough, chỉ huy Sư đoàn 7, người báo cáo với Haig rằng ông tin chắc bất kỳ nỗ lực tấn công tiếp theo nào vào ban ngày cũng sẽ chuốc lấy thất bại. Chỉ duy nhất Tướng Richard Haking của Sư đoàn 1 cảm thấy tự tin vào sự thành công của một cuộc tấn công tiếp theo, và Haig đã chấp nhận nhận định của ông.

Vậy nên, các lực lượng Anh — dẫn đầu bởi một trung đoàn thổi kèn túi mặc váy kilt từ Tiểu đoàn 1 Black Watch — tấn công một lần nữa vào cuối ngày 9/5, chỉ để bị tàn sát bởi những tay súng máy người Đức. Vào lúc chạng vạng, Haig ra lệnh cho đoàn lính tấn công tiến lên bằng lưỡi lê; nhưng trước sự phản đối kịch liệt từ ba vị chỉ huy, ông rút lại lệnh này nhưng yêu cầu phải tiếp tục trận chiến vào ngày hôm sau. Tuy nhiên, vào sáng ngày 10/5, cả Willcocks, Gough và Haking đều báo cáo với Haig rằng họ không còn đủ đạn dược để bắt đầu cuộc tấn công ngày thứ hai, và cuộc tấn công bị hủy bỏ. Ngày đầu tiên và cũng là ngày duy nhất của Trận Cao điểm Aubers dẫn đến thương vong cho 458 sĩ quan và 11.161 binh sĩ. Đúng như người cộng sự thân thiết của Haig, Tướng Richard Charteris, viết trong nhật ký vào ngày 11/5: “Cuộc tấn công của chúng ta đã thất bại, một thất bại thảm hại, và với thương vong nặng nề. Đó là một sự thật trần trụi và khó chấp nhận nhất.”