
Nguồn: Elizabeth Threlkeld, “Why the Next India-Pakistan War Will Escalate”, Foreign Affairs, 04/05/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Trong thông điệp liên bang năm 2026, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã lặp lại một điệp khúc quen thuộc ca ngợi vai trò của ông trong việc chấm dứt cuộc xung đột tháng 5/2025 giữa Ấn Độ và Pakistan — thỏa thuận mà ông tuyên bố là niềm tự hào lớn nhất của mình. Ông khẳng định rằng nếu không có những nỗ lực của Mỹ nhằm kéo cả hai bên khỏi miệng hố chiến tranh, cuộc xung đột “hẳn đã trở thành một cuộc chiến tranh hạt nhân”.
Những tuyên bố của Trump đã làm phật lòng New Delhi, bên vốn từ lâu khăng khăng rằng các tranh chấp với Pakistan hoàn toàn là chuyện song phương và không cần sự hòa giải hay can thiệp của các cường quốc bên ngoài. Nhưng vị tổng thống có cái lý của ông. Cuộc khủng hoảng tháng 5/2025, chứng kiến hai nước láng giềng đấu pháo dữ dội qua biên giới suốt bốn ngày, là cuộc giao tranh nghiêm trọng nhất giữa hai cường quốc hạt nhân trong nhiều thập kỷ. Nó đánh dấu một sự mở rộng đáng kể của xung đột thông thường dưới ngưỡng hạt nhân, với drone, tên lửa và pháo binh tấn công vào số lượng mục tiêu nhạy cảm chưa từng có, bao gồm cả các căn cứ quân sự và trung tâm đô thị.
Thay vì chùn bước trước quy mô của cuộc giao tranh, các nhà hoạch định quân sự ở Ấn Độ và Pakistan lại dành một năm qua để rút ra những bài học về cách gây sát thương lớn hơn cho đối thủ trong các cuộc xung đột tương lai. Cả hai bên đều kết luận rằng trận đối đầu lớn tiếp theo sẽ xoay quanh khả năng tấn công nhanh hơn, xa hơn và với cường độ lớn hơn so với trước đây. Họ đang đưa những bài học đó vào thực tiễn bằng cách trang bị các khí tài mới, mở rộng các chương trình phát triển nội địa và thực hiện những cải cách cơ cấu sâu rộng nhằm cải thiện tốc độ và sự phối hợp của các lực lượng.
Cả hai bên cũng có vẻ ngày càng tin tưởng rằng nếu xung đột bùng phát trở lại, những cuộc giao tranh thông thường khốc liệt hơn cũng sẽ không gây ra nguy cơ leo thang hạt nhân. Ngay sau cuộc khủng hoảng tháng 5, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi công bố một học thuyết mới, trong đó Ấn Độ sẽ “tấn công chính xác và quyết đoán” và “không khoan nhượng trước bất kỳ hành động đe dọa hạt nhân nào”. Đáp lại cảnh báo của Tư lệnh Lục quân Ấn Độ Upendra Dwivedi rằng Pakistan nên tránh các hành động khiêu khích nếu muốn “còn tồn tại trên bản đồ thế giới”, quân đội Pakistan đã đe dọa sẽ “đập tan huyền thoại về sự miễn nhiễm địa lý, tấn công vào tận những vùng xa xôi nhất của lãnh thổ Ấn Độ”.
Tuy nhiên, bất chấp sự tự tin và những lời đe dọa đao to búa lớn, nguy cơ leo thang kéo dài tại khu vực vốn là nơi sinh sống của một phần tư dân số thế giới không nên bị xem nhẹ. Ngay cả khi chiến tranh tấn công chính xác làm giảm khả năng cố ý sử dụng vũ khí hạt nhân so với kịch bản tác chiến mặt đất, việc đưa vào các hệ thống, mục tiêu và lĩnh vực mới lại làm tăng nguy cơ sử dụng hạt nhân ngoài ý muốn.
Nếu và khi xảy ra, cuộc khủng hoảng tiếp theo giữa Ấn Độ và Pakistan có khả năng sẽ nguy hiểm hơn, sức tàn phá lớn hơn và khó kiểm soát hơn đối với Washington. Về mặt lịch sử, cả hai bên đều thể hiện sự thận trọng đáng kể trong việc quản trị khủng hoảng và tránh leo thang mất kiểm soát. Nhưng Ấn Độ và Pakistan đã bước lên những nấc thang leo thang mới trong cuộc xung đột vừa qua mà không phải chịu hệ lụy nghiêm trọng nào, khiến họ vừa quyết tâm hơn trong việc bắt đối phương trả giá đắt trên chiến trường, vừa tự tin hơn vào khả năng thực hiện điều đó.
Vai trò truyền thống của Washington trong việc thúc đẩy giảm leo thang sẽ vẫn then chốt. Tuy nhiên, những bình luận của Trump sẽ khiến nỗ lực hòa giải trở nên khó khăn hơn. Để ngăn chặn làn sóng phản đối tại Ấn Độ làm đình trệ các nỗ lực ngoại giao quan trọng, Mỹ và các đối tác phải chuẩn bị cho một cuộc khủng hoảng tương lai hoàn toàn khác với cuộc khủng hoảng vừa qua. Việc xây dựng và thử nghiệm một kịch bản cho các quyết định nhanh chóng, đồng thời hỗ trợ các kênh kết nối thực chất kín đáo giữa New Delhi và Islamabad, có thể giúp ngăn chặn một đốm lửa nhỏ trở thành một đám cháy thực sự.
Chốt chặn ngoại giao cuối cùng
Một vụ tấn công khủng bố nhắm vào khách du lịch tại Thung lũng Pahalgam thuộc vùng Kashmir do Ấn Độ kiểm soát đã châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tháng 5/2025. Vào ngày 22/4, các tay súng giết hại 25 công dân Ấn Độ và một người Nepal, theo nhiều báo cáo là nhắm vào nhiều người ở cự ly gần vì đức tin Ấn Độ giáo của họ. Khi video về vụ tấn công lan truyền trên mạng xã hội, ông Modi đe dọa sẽ truy đuổi những kẻ khủng bố và những kẻ hậu thuẫn chúng “đến tận cùng trái đất” và hứa hẹn một “hình phạt lớn hơn những gì chúng có thể tưởng tượng”. Ấn Độ đổ lỗi cho Pakistan về vụ tấn công và thực hiện một loạt biện pháp ngoại giao trừng phạt, bao gồm đình chỉ Hiệp ước Nước sông Indus — thỏa thuận chia sẻ nguồn nước mà hai bên đã duy trì từ năm 1960, đóng cửa cửa khẩu biên giới Attari-Wagah, trục xuất các cố vấn quân sự Pakistan và hủy bỏ thị thực.
Hai tuần sau đó, Ấn Độ nhắm mục tiêu vào chín địa điểm trên khắp tỉnh Punjab và vùng Kashmir do Pakistan kiểm soát bằng các cuộc tấn công pháo binh dẫn đường chính xác, drone và tên lửa. Các cuộc tấn công này thọc sâu vào lãnh thổ Pakistan hơn bất kỳ cuộc tấn công nào kể từ sau cuộc chiến Ấn Độ-Pakistan năm 1971, đánh trúng hai thành phố lớn ở Punjab được cho là có liên quan đến các nhóm khủng bố chống Ấn Độ. Pakistan phản công bằng cách bắn hạ nhiều máy bay chiến đấu của Ấn Độ. Sau hai ngày tấn công ăn miếng trả miếng bằng drone, trong đó Pakistan thử nghiệm các hệ thống phòng không của Ấn Độ và Ấn Độ phá hủy một trạm radar tại Lahore, giao tranh đạt đến đỉnh điểm khi Ấn Độ tấn công ít nhất 11 địa điểm quân sự trên khắp Pakistan, bao gồm Căn cứ Không quân Nur Khan ở Rawalpindi, nằm ngay sát trụ sở của cơ quan giám sát vũ khí hạt nhân của Pakistan. Với hơn 70 thương vong, sự việc này đánh dấu cuộc giao tranh khốc liệt nhất giữa Ấn Độ và Pakistan kể từ cuộc xung đột Kargil năm 1999 — cuộc chiến hạn chế bùng nổ sau khi lực lượng Pakistan vượt qua Đường Kiểm soát vào lãnh thổ do Ấn Độ nắm giữ.
Ban đầu, Washington áp dụng cách tiếp cận hòa giải tương đối thụ động. Vào ngày 8/5, ngay trước đợt đấu hỏa lực dữ dội nhất, Phó Tổng thống Mỹ JD Vance phát biểu trên Fox News: “Chúng tôi sẽ không can dự vào giữa một cuộc chiến vốn cơ bản không phải là việc của chúng tôi”. Tuy nhiên, đến ngày hôm sau, các quan chức chính quyền Trump nhận được “tin tình báo đáng báo động” — mà chi tiết vẫn chưa rõ ràng — buộc họ phải thay đổi thái độ. Vance và Ngoại trưởng Marco Rubio liên tục gọi điện và cuối cùng đảm bảo được một lệnh ngừng bắn vào ngày 10/5.
Nỗ lực của Vance và Rubio là chương mới nhất trong lịch sử lâu dài Mỹ kiểm soát các cuộc khủng hoảng ở Nam Á kể từ cuộc khủng hoảng Kashmir năm 1990, khi Tổng thống Mỹ George H.W. Bush cử Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Robert Gates tới xoa dịu căng thẳng. Các nỗ lực của Mỹ phần lớn đều hiệu quả, dù không phải lúc nào cũng công bằng: trong các cuộc khủng hoảng gần đây, Washington nghiêng về đối tác Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương then chốt là New Delhi, làm dấy lên lo ngại của Pakistan rằng Mỹ đang dung túng cho Ấn Độ, trước khi quay lại phong cách quản trị khủng hoảng cân bằng hơn vào tháng 5/2025. Tuy nhiên, thành công trong quá khứ không có nghĩa là Washington đã sẵn sàng kiểm soát một cuộc khủng hoảng khốc liệt và khó lường hơn trong tương lai.
Không còn là cuộc chiến Kargil năm xưa
Ấn Độ và Pakistan đã bắt đầu sử dụng đợt giao tranh vừa qua để xác định những lỗ hổng cần lấp đầy và những lợi thế cần khai thác nếu xung đột bùng phát trở lại. Cả hai đều đang theo đuổi các hệ thống vũ khí có năng lực cao hơn: Pakistan tìm đến Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ để nâng cấp hệ thống phòng không, phi đội máy bay chiến đấu và drone, máy bay cảnh báo sớm trên không cũng như năng lực tác chiến điện tử và chống drone; trong khi Ấn Độ xác định nhu cầu bổ sung thêm các hệ thống phòng không và chống drone, nhiều máy bay chiến đấu và drone hơn, các vệ tinh và cảm biến mới, cùng năng lực tác chiến điện tử tiên tiến.
Cả hai nước cũng đang sửa đổi các kịch bản leo thang của mình. Qua vài cuộc khủng hoảng vừa qua, Ấn Độ dần mở rộng không gian cho xung đột thông thường dưới ngưỡng hạt nhân trong khi vẫn cẩn thận phát đi các tín hiệu về ý định không leo thang. Mục tiêu của họ là trừng phạt Pakistan vì điều mà Ấn Độ lập luận là sự hậu thuẫn liên tục của nước láng giềng cho các nhóm khủng bố xuyên biên giới, mà không kích hoạt sự leo thang hạt nhân mà Pakistan vốn thường đe dọa để răn đe đối thủ lớn hơn nhiều của mình. Việc cuộc xung đột mới nhất không vượt tầm kiểm soát có thể củng cố sự tự tin của New Delhi trong việc theo đuổi các mục tiêu quân sự và càng hạn chế sự sẵn lòng kiềm chế của họ. Một quan chức quốc phòng Ấn Độ đã công khai đổ lỗi cho việc Ấn Độ mất các máy bay chiến đấu ngay từ đầu cuộc giao tranh là do “sự gò bó từ ban lãnh đạo chính trị khi không cho phép tấn công vào cơ sở quân sự hay hệ thống phòng không [của Pakistan]”. Sau khi tấn công các hệ thống phòng không của Pakistan trong các trận tiếp theo mà không gây ra sự leo thang kịch liệt, Ấn Độ có thể cảm thấy mạnh dạn hơn để làm điều đó sớm hơn trong một cuộc khủng hoảng tương lai, thực chất là bắt đầu từ một nấc thang leo thang cao hơn.
Về phía mình, Pakistan, được củng cố bởi năng lực tiên tiến từ Trung Quốc, đã thực hiện các cải cách để chuẩn bị cho loại hình xung đột thông thường mà họ từ lâu tìm cách răn đe. Họ thành lập Bộ Tư lệnh Lực lượng Tên lửa Lục quân, một đơn vị có nhiệm vụ tăng cường các hệ thống tấn công chính xác thông thường của Pakistan và củng cố quyền hạn lập kế hoạch quân sự, triển khai và mua sắm dưới quyền Tổng Tư lệnh Lực lượng Quốc phòng hiện tại là Asim Munir. Islamabad cũng phát tín hiệu qua lời lẽ về sự sẵn sàng chấp nhận rủi ro lớn hơn, cảnh báo rằng họ sẽ “không lùi bước” trước sự xâm lược của Ấn Độ.
Nếu những sự chuẩn bị này là dấu hiệu cho điều gì đó, thì cuộc khủng hoảng tiếp theo có thể bắt đầu từ nơi cuộc xung đột vừa qua kết thúc và vượt xa cường độ của nó. Khi cả hai bên ngày càng cảm thấy thoải mái hơn với xung đột thông thường, họ có thể sẵn lòng tấn công số lượng lớn hơn các mục tiêu giá trị cao, đánh sâu hơn vào lãnh thổ của nhau.
Hãy xem xét kịch bản sau. Một mồi lửa khó lường nhưng không hoàn toàn bất ngờ châm ngòi cho một chuỗi sự kiện sớm leo thang. Việc Ấn Độ chuẩn bị cho một cuộc tập trận quân sự quy mô lớn gần biên giới chung khiến Islamabad lo ngại rằng đợt tăng cường lực lượng này có thể là vỏ bọc cho chiến tranh. Pakistan tăng cường lực lượng tại Đường Kiểm soát, phân tán máy bay, kích hoạt các hệ thống phòng không và đặt các lực lượng dự bị thiết giáp vào tình trạng báo động, đồng thời tăng cường tuần tra của hải quân và cảnh sát biển dọc vùng duyên hải. Ngay sau đó, các phiến quân Baloch thực hiện một cuộc tấn công đường thủy vào một tàu cảnh sát biển của Pakistan gần Gwadar, khiến một chục thủy thủ thiệt mạng. Bất chấp việc không đưa ra được bằng chứng xác thực, Islamabad cáo buộc New Delhi tài trợ cho vụ tấn công. Ấn Độ phủ nhận sự can dự và cảnh báo Pakistan không được sử dụng sự cố này làm cớ để leo thang.
Với căng thẳng dâng cao, các hệ thống phòng không của Pakistan bắn hạ một máy bay Ấn Độ đang hoạt động gần khu vực tập trận, tuyên bố nó đã vi phạm biên giới. Ấn Độ phủ nhận sự xâm nhập và cáo buộc Pakistan gây hấn vô cớ, đáp trả bằng một cuộc tấn công vào trạm radar liên quan khiến các binh sĩ và thường dân gần đó thiệt mạng. Pakistan ngay lập tức trả đũa vào một cơ sở quân sự của Ấn Độ, gây ra nhiều thương vong, trong đó có các sĩ quan cấp cao. Ấn Độ mở rộng các cuộc tấn công vào thêm các nút thắt phòng không và chỉ huy của Pakistan tại các cơ sở trên khắp đất nước để giảm bớt mối đe dọa đối với máy bay của mình. Đáp lại, Pakistan phóng drone và tên lửa thông thường vào các căn cứ không quân và cơ sở hậu cần của Ấn Độ, bao gồm cả những khu vực gần các thành phố lớn, sâu hàng trăm dặm bên trong Ấn Độ. Một số căn cứ bị cả hai bên nhắm mục tiêu là nơi đồn trú của máy bay có khả năng mang vũ khí hạt nhân, làm dấy lên khả năng mỗi bên đang tìm cách làm suy yếu năng lực răn đe hạt nhân của bên kia.
Hình ảnh về thương vong, các địa điểm quân sự bốc khói và cơ sở hạ tầng dân sự bị hư hại lan truyền trên mạng xã hội, tạo áp lực cho những hành động trả đũa tiếp theo. Ấn Độ cáo buộc Pakistan giết chết nhiều người trong một cuộc tấn công vào một ngôi đền Ấn Độ giáo mà Pakistan lập luận rằng mục tiêu thực chất là một cơ sở quân sự gần đó. Những tuyên bố sai sự thật về tổn thất máy bay và các cuộc tấn công sắp tới càng đổ thêm dầu vào lửa. Khi các chính phủ bên ngoài thúc ép giảm leo thang, các nhà hoạch định Ấn Độ và Pakistan lại bị thôi thúc phải tấn công thật nhanh trước khi ngoại giao đóng băng cuộc xung đột ở những điều khoản bất lợi. Nhịp độ nhanh chóng và sự thiếu hụt các giai đoạn leo thang rõ ràng càng làm mờ ranh giới phân chia giữa các “vòng” đấu hỏa lực, khiến cho những đợt oanh tạc diễn ra cùng lúc đã triệt tiêu gần hết cơ hội cho các lối thoát ngoại giao.
Lấy cuộc tấn công của Pakistan vào ngôi đền là hành vi “khủng bố tôn giáo”, Ấn Độ chuyển sang hạn chế dòng chảy của nước sông tới Pakistan, hiện thực hóa lời cảnh báo năm 2025 của ông Modi rằng “máu và nước không thể cùng chảy”. Việc thiếu khả năng lưu trữ và chuyển hướng nước ngăn Ấn Độ thực hiện sự kiểm soát đáng kể trong điều kiện bình thường, nhưng New Delhi có thể đe dọa thao túng dòng chảy một cách có ý nghĩa hơn vào những thời điểm nhất định trong năm — bằng cách xả nước nhanh chóng từ các con đập trong mùa gió mùa hoặc giữ nước trong mùa khô. Trong cuộc khủng hoảng Pahalgam, Pakistan đã đáp trả bằng cách coi bất kỳ sự gián đoạn đáng kể nào đối với dòng chảy là một “hành động khiêu chiến” vượt qua “lằn ranh đỏ” của quốc gia này và đe dọa trả đũa tiềm tàng. Lần này, đối diện với mối đe dọa khan hiếm nước vào giữa mùa đông, Pakistan thực hiện các cuộc tấn công chính xác gần cơ sở hạ tầng đập của Ấn Độ để răn đe New Delhi, đồng thời công khai kêu gọi Trung Quốc hạn chế dòng nước chảy vào Ấn Độ nhằm phát tín hiệu.
Trong vòng vài ngày, giao tranh mở rộng sang lĩnh vực hải quân. Viện dẫn nhu cầu bảo vệ các tuyến đường hàng hải, Ấn Độ thực hiện các cuộc diễn tập hải quân mà Pakistan diễn giải là sự chuẩn bị cho một cuộc phong tỏa hải quân hạn chế đối với các cảng trọng yếu của họ — một mối quan ngại đặc biệt nhức nhối dưới góc nhìn từ cuộc chiến ở Iran. Pakistan, nhằm bảo vệ quyền tiếp cận Biển Ả Rập, nổ súng vào các tàu Ấn Độ sau khi họ phớt lờ những cảnh báo lặp đi lặp lại. Với rất ít hiểu biết chung hay rào chắn bảo vệ trên biển, cuộc khủng hoảng bắt đầu mất kiểm soát. Mỗi bên tấn công khí tài hải quân và hạ tầng cảng của bên kia gần các tuyến hàng hải toàn cầu, gây gián đoạn giao thông thương mại, đẩy chi phí bảo hiểm lên cao, trì hoãn các chuyến hàng năng lượng và lôi kéo các cường quốc bên ngoài can dự trực tiếp hơn vào cuộc khủng hoảng để bảo vệ các tuyến đường biển và sơ tán công dân.
Cuộc xung đột cũng sẽ kéo theo các cường quốc theo những cách trực tiếp hơn, một vài trong số đó có thể làm cho việc tìm kiếm giải pháp trở nên khó khăn hơn. Ví dụ, Trung Quốc có thể cung cấp thêm hỗ trợ tình báo thời gian thực cho Pakistan để duy trì sự cân bằng quân sự tương đối nếu Pakistan gặp khó khăn trong việc đối phó với các cuộc tấn công của Ấn Độ. Mỹ sẽ đối mặt với một phép thử chưa từng có về năng lực quản trị khủng hoảng, đồng thời bị buộc phải giải quyết các mối đe dọa khẩn cấp đối với công dân và nhân viên tại khu vực, cũng như đương đầu với những hệ lụy kinh tế rộng lớn hơn của một cuộc chiến. Dù Anh, các quốc gia Vùng Vịnh và các nước khác có thể tiếp xúc với các nhà lãnh đạo ở Islamabad và New Delhi, họ sẽ gặp khó khăn trong việc phối hợp và chấm dứt giao tranh nếu cả hai bên đều chưa sẵn sàng.
Sự cố tín hiệu
Dù chắc chắn mang tính hủy diệt, một cuộc chiến như vậy có thể ít gây ra nguy cơ leo thang hạt nhân hơn so với kịch bản mà các nhà phân tích bên ngoài lo ngại nhất từ lâu: một cuộc xâm lược mặt đất của Ấn Độ và khả năng Pakistan sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật để đáp trả. Theo nghĩa này, sự dịch chuyển từ tác chiến mặt đất sang chiến tranh tầm xa và việc bổ sung thêm các nấc thang mới vào thang leo thang quy ước đã thực sự hạn chế ít nhất một con đường trực tiếp dẫn qua ngưỡng hạt nhân. Các năng lực thông thường mới, sự sẵn lòng sử dụng chúng ngày càng tăng và các lĩnh vực xung đột mới giúp các nhà lãnh đạo Pakistan có những lựa chọn thay thế để ngăn chặn một kịch bản khủng hoảng mà ở đó họ coi việc sử dụng hạt nhân là cứu cánh duy nhất.
Những nhà tư tưởng có tầm ảnh hưởng ở Islamabad đã ghi nhận sự phát triển này. Trung tướng đã nghỉ hưu Khalid Kidwai, kiến trúc sư của chiến lược hạt nhân Pakistan, thừa nhận rằng việc thành lập Bộ Tư lệnh Lực lượng Tên lửa Lục quân “cung cấp một lớp răn đe chiến lược bổ sung giữa các chiến dịch của lực lượng thông thường và khả năng sử dụng lực lượng hạt nhân, theo đó làm tăng ngưỡng sử dụng hạt nhân theo một cách nào đó.” Bình luận của Kidwai đánh dấu một sự chuyển dịch quan trọng đối với Pakistan, quốc gia vốn từ lâu dựa vào mối đe dọa sử dụng hạt nhân để răn đe ngay cả những cuộc tấn công thông thường hạn chế từ Ấn Độ.
Tuy nhiên, cách đóng khung này lại che lấp một mối nguy hiểm khác: rằng việc giao tranh thông thường khốc liệt hơn và khó lường hơn có thể làm gia tăng áp lực leo thang và tăng nguy cơ sử dụng hạt nhân ngoài ý muốn. Khi xung đột gia tăng, các con đường dẫn đến tính toán sai lầm có khả năng sẽ nhân lên. Các lằn ranh đỏ có thể bị hiểu sai, các khí tài có công dụng kép có thể bị nhắm mục tiêu nhầm, việc phân tán các hệ thống hạt nhân tầm ngắn cho mục đích phòng thủ có thể bị hiểu lầm thành sự chuẩn bị cho việc sử dụng. Nếu cả hai bên đều gánh chịu thương vong đáng kể, chịu tổn thất về hạ tầng dân sự và quân sự, và gặp khó khăn trong việc ngăn chặn dòng thác thông tin sai lệch, các nhà lãnh đạo có thể thấy khó khăn hơn trong việc tìm kiếm một lối thoát để giữ thể diện. Ngay cả khi giả định rằng cả hai đều thận trọng về việc sử dụng hạt nhân, áp lực, sự mơ hồ và khung thời gian bị nén lại của một cuộc xung đột thông thường diễn tiến nhanh có thể làm tăng nguy cơ leo thang hạt nhân ngoài ý muốn.
Sự chấp nhận rủi ro lớn hơn trong xung đột thông thường cũng sẽ làm phức tạp các nỗ lực của Mỹ và các quốc gia khác trong việc quản trị một cuộc khủng hoảng. Trong quá khứ, các tín hiệu hạt nhân của Pakistan — những lời đe dọa công khai, việc di chuyển tên lửa, các lệnh báo động và các hoạt động khác mà các cơ quan tình báo có thể quan sát thấy — đã giúp tạo ra cảm giác cấp bách tại Washington bằng cách làm dấy lên nỗi lo sợ rằng một cuộc đụng độ thông thường có thể vượt qua ngưỡng hạt nhân. Chẳng hạn, trong cuộc khủng hoảng Kargil, những nỗi lo sợ đó đã thôi thúc Tổng thống Mỹ Bill Clinton gây sức ép buộc Thủ tướng Pakistan Nawaz Sharif rút quân. Giờ đây, khi Islamabad và New Delhi có vẻ sẵn lòng chịu đựng và đáp trả các cuộc tấn công thông thường hơn, cửa sổ cho sự can thiệp ngoại giao bên ngoài nhằm ngăn chặn khả năng sử dụng hạt nhân đã bị thu hẹp. Khi sự leo thang tăng tốc và mở rộng trên các lĩnh vực, các cường quốc bên ngoài có thể thấy mình đang phải phản ứng trước các sự kiện thay vì định hình chúng, với ít lối thoát rõ ràng hơn.
Riêng đối với Washington, các cuộc khủng hoảng tương lai có thể khó kiểm soát hơn sau những tuyên bố lặp đi lặp lại của Trump rằng ông đã buộc cả hai bên phải chấp nhận ngừng bắn. Theo The New York Times, những khẳng định đó đã góp phần vào sự rạn nứt giữa Trump và Modi trong một cuộc điện đàm sau khủng hoảng và vẫn là điểm gây nhức nhối tại New Delhi, bên duy trì quan điểm rằng việc giảm leo thang hoàn toàn là chuyện song phương. New Delhi vốn từ lâu từ chối sự hòa giải của bên thứ ba trong các cuộc xung đột với Pakistan, bởi họ coi tranh chấp Kashmir là vấn đề song phương và tin rằng sự can dự của bên ngoài sẽ hợp thức hóa nỗ lực của Islamabad trong việc quốc tế hóa vấn đề này. Nếu giao tranh bùng phát trở lại, Washington có thể gặp khó khăn khi đóng vai trò quản trị khủng hoảng truyền thống nếu Ấn Độ phản đối những đề nghị của Mỹ để tránh mang tiếng là chấp nhận hòa giải bên ngoài, ủng hộ cho sự leo thang của Pakistan hoặc từ bỏ thời gian và không gian cần thiết để đạt được các mục tiêu quân sự của mình. Trong khi đó, Pakistan có thể kỳ vọng Mỹ lặp lại vai trò trước đây trong việc dàn xếp một lối thoát, để rồi nhận thấy Washington kém khả năng hoặc kém sẵn lòng làm điều đó hơn.
Mối quan hệ của Trung Quốc với Pakistan có thể làm phức tạp thêm nỗ lực quản trị khủng hoảng tương lai. Bắc Kinh tìm cách tránh leo thang ở vùng lân cận của mình, nhưng cuộc khủng hoảng tháng 5 cho thấy họ không chỉ đơn thuần là người đứng ngoài: Pakistan đã dựa dẫm rất nhiều vào các máy bay chiến đấu, tên lửa, phòng không và các năng lực khác của Trung Quốc, và các quan chức Ấn Độ sau đó cáo buộc rằng Trung Quốc đã cung cấp hỗ trợ tình báo thời gian thực trong suốt cuộc giao tranh. Sự can dự của Bắc Kinh có khả năng sẽ tiếp tục và tiềm tàng sâu sắc hơn, làm dấy lên triển vọng rằng Washington và các đối tác quản trị khủng hoảng của mình sẽ phải đối phó không chỉ với Ấn Độ và Pakistan mà còn với Trung Quốc như một tác nhân trong cuộc đối đầu.
Cách hiệu quả nhất để quản trị các rủi ro lộ diện qua cuộc khủng hoảng tháng 5/2025 là nỗ lực ngăn chặn cuộc khủng hoảng tiếp theo, đồng thời củng cố các cơ chế quản trị khủng hoảng nếu những nỗ lực đó thất bại. Bất chấp sự thù địch sâu sắc trong mối quan hệ, những kết nối kín đáo giữa Ấn Độ và Pakistan vẫn có thể làm giảm nguy cơ của một cuộc xung đột khác trong tương lai gần. Quyết định của Ấn Độ không đáp trả bằng hành động quân sự đối với một vụ nổ xe hơi vào tháng 11/2025 tại New Delhi khiến 10 người thiệt mạng, chẳng hạn, đã thể hiện sự kiềm chế và ý chí không mặc định chọn hành động quân sự. Những bên tham gia các cuộc đối thoại không chính thức cho rằng những hành động như vậy, cùng với những cử chỉ công khai như cái bắt tay vào tháng 12/2025 giữa ngoại trưởng Ấn Độ và chủ tịch quốc hội Pakistan tại Bangladesh, đã tạo ra không gian khiêm tốn cho các cuộc thảo luận mới.
Chính quyền Trump nên coi cuộc khủng hoảng tháng 5 không phải là một thành công ngoại giao nhất thời mà là động lực cho một chiến lược ngăn ngừa khủng hoảng Nam Á nghiêm túc hơn. Mỹ nên khuyến khích sự kết nối giữa Ấn Độ và Pakistan ở hậu trường, hỗ trợ các diễn đàn đối thoại không chính thức mà không làm lu mờ hay làm phức tạp hóa tiến trình. Các cuộc thảo luận có thể tập trung vào việc khôi phục và làm sâu sắc thêm các biện pháp xây dựng lòng tin giữa hai bên, bao gồm việc phát triển các kênh liên lạc mới để sử dụng trong cả thời bình lẫn thời kỳ khủng hoảng nhằm giảm thiểu rủi ro leo thang ngoài ý muốn. Đồng thời, Washington và các đối tác nên kín đáo làm rõ với New Delhi và Islamabad những tổn thất kinh tế, chính trị và chiến lược của một cuộc khủng hoảng quy mô lớn.
Tuy nhiên, chỉ những lời cảnh báo thôi có thể không đủ để ngăn chặn một khoảnh khắc căng thẳng bùng nổ thành thứ gì đó hủy diệt hơn. Một kế hoạch quản trị khủng hoảng được phối hợp nhằm canh chừng các con đường leo thang khó lường hoặc chưa từng có, xác định nơi Mỹ và các đối tác có đòn bẩy hay khả năng tiếp cận mỗi bên, và làm rõ quan chức, kênh liên lạc và thông điệp nào sẽ được sử dụng ở mỗi giai đoạn sẽ là một bước đi đầu tiên có giá trị. Những nỗ lực này có thể không đảm bảo việc giảm leo thang, nhưng sẽ giúp các chính phủ bên ngoài có cơ hội tốt hơn để hành động nhanh chóng và mạch lạc trước khi một cuộc khủng hoảng diễn tiến nhanh vượt mặt ngoại giao.
Cuộc khủng hoảng tháng 5/2025 đã không đưa Ấn Độ và Pakistan đến miệng hố chiến tranh hạt nhân. Tuy nhiên, nó đã đặt nền móng cho một cuộc đụng độ khác có thể làm điều đó. Thành công của Washington trong việc thúc đẩy một lệnh ngừng bắn không nên bị lầm tưởng là bằng chứng cho thấy các cuộc khủng hoảng tương lai có thể được kiểm soát bằng cùng những công cụ, thời điểm hay giả định đó. Ngọn lửa lần tới có thể cháy dữ dội hơn và lan nhanh hơn. Liệu nó có được khống chế hay sẽ mất kiểm soát phần lớn phụ thuộc vào những rào cản ngăn lửa được xây dựng ngay từ bây giờ, trước khi đốm lửa tiếp theo bùng cháy.
ELIZABETH THRELKELD là Nghiên cứu viên cao cấp và Giám đốc Chương trình Nam Á tại Trung tâm Stimson.
