Cái bẫy Trung Quốc của Trump

Nguồn:  Michael Kovrig, “Trump’s China Trap”, Foreign Affairs, 05/05/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Vào tháng Giêng, sau nhiều tuần Tổng thống Mỹ Donald Trump đe dọa sáp nhập Canada thành “tiểu bang thứ 51,” Thủ tướng Canada Mark Carney có mặt tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh, tươi cười niềm nở với giới lãnh đạo của quốc gia mà chưa đầy một năm trước ông từng gọi là mối đe dọa địa chính trị lớn nhất. Trong cuộc hội đàm với Thủ tướng Trung Quốc Lý Cường, ông phát biểu rằng “những tiến triển trong quan hệ đối tác đang chuẩn bị tốt cho chúng ta trước một trật tự thế giới mới.” Đó không phải là một khoảnh khắc vẻ vang gì cho nước Mỹ. Tuy nhiên, viễn cảnh đó — một nhà lãnh đạo lo ngại về Washington, vội vã tới Bắc Kinh với sự khẩn thiết chưa từng có — đã lặp đi lặp lại liên tục kể từ khi ông Trump trở lại Nhà Trắng.

Năm 2025, lãnh đạo các nước Úc, Pháp, Georgia, New Zealand, Bồ Đào Nha, Serbia, Slovakia, Tây Ban Nha và Liên minh châu Âu đều tới Trung Quốc. Sang tháng Giêng, nhịp độ các chuyến thăm dồn dập hơn với sự xuất hiện nối tiếp của lãnh đạo Phần Lan, Ireland, Hàn Quốc và Anh, sau đó là tổng thống Uruguay và thủ tướng Đức vào tháng Hai. Tới tháng Tư, thủ tướng Tây Ban Nha củng cố xu thế này bằng chuyến thăm thứ tư trong vòng bốn năm. Họ bước đi trên thảm đỏ, bắt tay các quan chức cấp cao của Đảng Cộng sản Trung Quốc và ký kết các bản ghi nhớ nhằm hâm nóng quan hệ. Chuỗi sự kiện này — cái mà truyền thông nhà nước Trung Quốc gọi là một “làn sóng” viếng thăm — đã tô đậm thêm luận điểm của Bắc Kinh về một Trung Quốc đang lên và một Mỹ đang suy tàn.

Giờ đây, những vị lãnh đạo này và nhiều người khác có lẽ đang theo dõi với sự bất an khi Bắc Kinh chuẩn bị đón tiếp Tổng thống Mỹ vào tuần tới. Đối với Canada cùng các đồng minh và đối tác khác của Mỹ, động lực chính thúc đẩy họ thắt chặt quan hệ với Trung Quốc chính là bản thân ông Trump. Dưới áp lực từ một nước Mỹ hành xử như một bá quyền trục lợi, các chính trị gia này cảm thấy họ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đi nước đôi. Việc gặp gỡ Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình gửi đi một thông điệp tới ông Trump rằng họ còn những lựa chọn khác và sẽ không chấp nhận bị kéo vào những liên minh kiểu được ăn cả ngã về không hay các hiệp định thương mại bất công. Theo cách này, khoảng cách ngày càng lớn giữa Washington và các đối tác là một món quà ngoại giao dành cho Bắc Kinh.

Nhưng trước thềm chuyến thăm của ông Trump, Carney và các nhà lãnh đạo khác không có gì đảm bảo rằng bất kỳ thỏa thuận nào giữa ông Trump và ông Tập sẽ không làm tình hình của họ tồi tệ hơn. Họ không thể tin tưởng ông Trump sẽ cân nhắc đến lợi ích của mình, vì vậy chỉ có thể hy vọng rằng các quan chức Trung Quốc sẽ ghi nhớ những lo ngại của họ về tình trạng dư thừa sản xuất, việc vũ khí hóa thương mại và sự can thiệp từ bên ngoài của Trung Quốc, để rồi ban phát cho họ sự cứu cánh về kinh tế đáp lại những biểu hiện nhượng bộ. Thế yếu của họ đã phơi bày vấn đề hành động tập thể trên mặt trận này và nhu cầu cấp thiết đối với Carney cùng các lãnh đạo khác trong việc đồng bộ hóa chính sách và thông điệp về Trung Quốc, bảo vệ các lằn ranh đỏ chung và cùng nhau gây sức ép lên Bắc Kinh vì những hành vi cưỡng ép.

Mặc dù niềm tin đổ vỡ giữa Mỹ và các đồng minh không thể sớm được hàn gắn, Washington vẫn có thể hỗ trợ nỗ lực này. Có thể đã quá muộn để liên minh phương Tây xây dựng một cách tiếp cận thực sự thống nhất với Trung Quốc, nhưng sự phối hợp không phải là không thể. Về phần mình, ông Trump nên nêu gương, tránh lặp lại sai lầm của các nguyên thủ quốc gia khác và từ chối những thỏa thuận phù phiếm làm sâu sắc thêm sự phụ thuộc của Mỹ vào Trung Quốc. Thay vì tìm kiếm sự tung hô hời hợt từ Bắc Kinh, ông nên tận dụng chuyến thăm sắp tới để tăng cường khả năng răn đe bằng cách phối hợp trước với các đồng minh và thiết lập các lằn ranh đỏ không ai được bước qua, phát đi tín hiệu rằng ông sẽ bắt Trung Quốc trả giá cho bất kỳ hành vi cưỡng ép nào nhắm vào họ, đồng thời đặt điều kiện cho bất kỳ sự nhượng bộ nào dựa trên kết quả kiểm chứng thực tế. Điều đó sẽ làm giảm sự tự tin của Bắc Kinh vào chiến lược ép buộc từng nước riêng lẻ phải phục tùng.

Ông Trump và các phái đoàn ngoại giao sau đó nên tận dụng mỗi chuyến đi tới Trung Quốc như một cơ hội để thể hiện sự gắn kết chặt chẽ hơn về lập trường và lợi ích. Cách tiếp cận đó sẽ tạo không gian cho liên minh phương Tây tập trung vào các mục tiêu lâu dài: duy trì năng lực công nghiệp tiên tiến và lợi thế công nghệ, đa dạng hóa các chuỗi cung ứng thiết yếu để xóa bỏ các điểm nghẽn và kiềm chế tầm ảnh hưởng toàn cầu của Bắc Kinh.

Chủ nhà luôn thắng

Xét riêng lẻ, mỗi chuyến thăm chính thức tới Bắc Kinh có thể mang tính biện minh và thậm chí phục vụ lợi ích vị kỷ hợp lý của quốc gia đó. Nhưng xét tổng thể, kết quả lại là một món hời lớn về chính trị và tuyên truyền cho Bắc Kinh. Bằng cách chấp nhận các điều khoản do ông Tập đặt ra và tham gia vào các nghi thức phô trương quyền lực, những vị khách quý này đang thỏa mãn khao khát được thế giới công nhận là nhà lãnh đạo hàng đầu của ông. Theo thời gian, những màn phô trương như vậy tích lũy lại, và khi kết hợp với sự phục tùng trong các vấn đề thực chất — như việc các lãnh đạo phương Tây ngần ngại trừng phạt các công ty Trung Quốc hỗ trợ Nga trong cuộc chiến tại Ukraine — chúng có thể tái định hình cách các quốc gia khác đánh giá về quyền lực địa chính trị và tính chính danh.

Sự chuyển dịch có lợi cho Bắc Kinh như vậy cuối cùng sẽ gây hại cho các đối tác và đồng minh của Mỹ. Bắc Kinh từ lâu theo đuổi các chính sách kinh tế nhằm tăng cường quyền tự chủ của chính mình trong khi khiến các nước khác lệ thuộc hơn. Và họ đã không ngần ngại vũ khí hóa quyền tiếp cận thị trường Trung Quốc cũng như kiểm soát nguồn cung, đặc biệt là các khoáng sản thiết yếu, để bảo vệ lợi ích và áp đặt ý chí của mình. Các đối tác của Mỹ, vốn đang phải đối phó với một Washington mang tính thực dụng đổi chác, buộc phải thỏa hiệp với Trung Quốc. Nhưng việc lún sâu vào hệ thống tư bản nhà nước của Trung Quốc lại tiềm ẩn một nguy cơ lớn hơn: sự lệ thuộc vào Bắc Kinh.

Trong các chuyến thăm Trung Quốc, lãnh đạo các nước thường để nước chủ nhà áp đặt các điều khoản tiếp đón, điều này đồng nghĩa với việc sự hiện diện của họ là một sự ngầm chấp nhận chương trình nghị sự theo chủ nghĩa xét lại của Bắc Kinh. Hơn nữa, vì thị trường Trung Quốc vẫn có sức hút mãnh liệt, các chính trị gia ghé thăm khó lòng cưỡng lại lợi ích tức thì từ các thỏa thuận thương mại. Đa số đến cùng các phái đoàn doanh nghiệp lớn đại diện cho các công ty đang bám rễ sâu vào nền kinh tế Trung Quốc, tìm kiếm sự bảo trợ về chính trị và pháp lý cho các hoạt động thương mại, đầu tư và vận hành của mình.

Trong khi đó, Bắc Kinh đang chơi một ván bài dài hơi hơn. Các quan chức Trung Quốc vũ khí hóa sự phụ thuộc kinh tế lẫn nhau để làm đòn bẩy theo đuổi những lợi thế chiến lược và chính trị sâu xa hơn. Các quan chức lễ tân và tuyên truyền Trung Quốc đảm bảo rằng mỗi vị khách đều tuân theo một kịch bản và sự dàn dựng nhằm củng cố luận điểm của ông Tập về sự trỗi dậy tất yếu của Trung Quốc. Sự phục tùng Bắc Kinh giờ đây đã trở thành điều kiện tiên quyết cho hợp tác kinh tế. Các lãnh đạo đến thăm phải bày tỏ khiếu nại và chỉ trích một cách riêng tư, nếu có, và trước công chúng phải dùng ngôn từ của “đối tác chiến lược” và “tái thiết lập,” thay vì nhân quyền và dân chủ. Thậm chí những bất đồng về chủ quyền và an ninh — ví dụ như sự đe dọa quân sự của Trung Quốc ở Tây Thái Bình Dương và việc sử dụng gián điệp, đánh cắp công nghệ hay tin giả — cũng phải được diễn đạt là những “hiểu lầm.” Tất cả những điều này tạo nên một cảm giác rằng cả thế giới đang đổ về Bắc Kinh và việc tách rời khỏi nước này là bất khả thi.

Các quan chức Trung Quốc điều chỉnh các thành quả đạt được dựa trên đánh giá của họ về mức độ phục tùng và tầm ảnh hưởng của mỗi vị khách, đảm bảo rằng kết quả tức thời và xu hướng dài hạn đều nghiêng về phía Trung Quốc. Ví dụ, Carney đã nới lỏng các hạn chế đối với xe điện nhập khẩu do nhà nước Trung Quốc hỗ trợ — vốn ban đầu được áp đặt với sự phối hợp của Washington — để đổi lấy việc Bắc Kinh dỡ bỏ các mức thuế đối với hạt cải dầu và các nông sản khác của Canada. Sự nhượng bộ của Ottawa cho Bắc Kinh thấy rằng một đồng minh của Mỹ bị ông Trump hắt hủi có thể bị ép phải rời bỏ hàng ngũ.

Các nhà lãnh đạo châu Âu cũng đạt được những thỏa thuận riêng để được giảm thuế từ phía Trung Quốc đối với các sản phẩm sữa, thịt bò và rượu mạnh trong khi tìm kiếm đầu tư và tiếp cận thị trường. Chẳng hạn, Thủ tướng Anh Keir Starmer hoan nghênh việc cắt giảm thuế quan đối với rượu whisky Scotch từ 10% xuống 5%, không lâu sau khi chính phủ của ông phê duyệt dự án đại sứ quán Trung Quốc mới đầy tranh cãi ở trung tâm London và bãi bỏ các cáo buộc đối với hai người đàn ông bị tố làm gián điệp cho Trung Quốc. Nhà lãnh đạo gần nhất tới Bắc Kinh, Thủ tướng Tây Ban Nha Pedro Sánchez, đã giành được quyền tiếp cận thị trường cho thịt lợn Tây Ban Nha và các nhượng bộ lặt vặt khác, trong khi liên tục lặp lại các khẩu hiệu của Trung Quốc về việc phản đối “luật rừng,” đứng về “phía đúng đắn của lịch sử” và ủng hộ “Bốn sáng kiến toàn cầu” của ông Tập trong một “trật tự đa cực” với Trung Quốc là “một trong các trung tâm.” Trong khi đó, sự bất đối xứng trong mối quan hệ đó vẫn nguyên đó: Trung Quốc vẫn cung cấp 11% hàng nhập khẩu của Tây Ban Nha nhưng chỉ tiếp nhận 2% hàng xuất khẩu của nước này, một sự thâm hụt song phương đang tăng nhanh hơn tổng kim ngạch thương mại hai nước. Và dòng vốn đầu tư của Tây Ban Nha vào Trung Quốc đang ở mức thấp nhất trong ba thập kỷ, ngay cả khi Madrid cho phép Trung Quốc đầu tư vào cơ sở hạ tầng thiết yếu cùng các nhà máy pin và xe điện mà không yêu cầu chuyển giao công nghệ.

Nói cách khác, rất ít thỏa thuận trong số này mang lại khả năng tự chủ kinh tế cho các nước đến thăm. Thay vào đó, chúng định hướng lại thương mại theo cách cản trở sự phát triển kinh tế của chính nước đó. Hàng xuất khẩu sang Trung Quốc ngày càng bị chi phối bởi nông sản, thực phẩm chế biến và tài nguyên thiên nhiên — những ngành công nghiệp có tính cạnh tranh gay gắt đòi hỏi đầu tư lớn vào hậu cần, khiến người mua Trung Quốc dễ dàng thay thế nhà cung cấp hơn so với chiều ngược lại. Các trường hợp Bắc Kinh cưỡng ép nhắm vào rượu vang Úc, hạt cải dầu Canada và cá hồi Na Uy minh chứng cho sự mất cân bằng này: Bắc Kinh có thể thay đổi nhà cung cấp và để mặc những đối tác không vừa lòng gánh chịu thua lỗ trong nhiều năm. Để giữ được lòng tin của Bắc Kinh, các quốc gia này phải chấp nhận nhập khẩu ngày càng nhiều hàng công nghiệp tiên tiến của Trung Quốc trong khi nền tảng công nghiệp và công nghệ của chính họ dần tàn lụi.

Kết quả là Trung Quốc hưởng thặng dư thương mại kéo dài, đạt mức cao kỷ lục 1,2 nghìn tỷ USD vào năm ngoái. Áp lực cạnh tranh lên các lĩnh vực công nghiệp trên toàn thế giới đã khiến một số nhà phân tích nói về một “cú sốc Trung Quốc lần thứ hai.” Trung Quốc hiện chiếm khoảng 30% sản lượng sản xuất toàn cầu, và Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc dự báo tỷ lệ này sẽ đạt 45% vào năm 2030. Trong khi đó, các cường quốc công nghiệp lâu đời bao gồm Đức, Nhật Bản và Mỹ được dự báo sẽ tiếp tục suy giảm. Ngay cả những nền kinh tế dựa nhiều vào hàng hóa như Úc và New Zealand cũng chứng kiến xuất khẩu sang Trung Quốc sụt giảm. Những quốc gia này ngày càng đóng vai trò như những trang trại, hầm mỏ và trạm xăng phục vụ Trung Quốc, trong khi lệ thuộc vào các nhà máy, nhà máy lọc dầu và công nghệ của Trung Quốc.

Liên minh không tồn tại

Các nhà lãnh đạo nước ngoài không hề mù quáng trước cách họ bị lợi dụng. Tháng 12 năm ngoái, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã thẳng thắn thừa nhận điều đó. “Sự thặng dư thương mại của họ là không bền vững,” ông phát biểu trong một cuộc phỏng vấn sau chuyến thăm Bắc Kinh. “Họ đang giết chết chính khách hàng của mình, nhất là bằng việc không còn nhập khẩu nhiều từ chúng ta nữa.” Ông cảnh báo rằng nếu Trung Quốc không giải quyết được sự mất cân bằng — gây ra bởi tình trạng sản xuất dư thừa, kìm giá đồng nhân dân tệ, tiêu dùng yếu kém và các rào cản tiếp cận thị trường tồn tại dai dẳng — các chính phủ châu Âu sẽ buộc phải dựng lên các rào cản để bảo vệ ngành công nghiệp của chính mình.

Vào tháng Hai, Thủ tướng Đức Friedrich Merz cũng thúc giục các quan chức Trung Quốc giải quyết sự mất cân bằng thương mại. Khi các nhà sản xuất Trung Quốc leo dần lên chuỗi giá trị vốn là nền tảng của công nghiệp Đức, xuất khẩu ô tô của Đức sang Trung Quốc đã giảm gần 70% kể từ năm 2022, và lĩnh vực sản xuất đã mất đi hàng chục nghìn việc làm. Các đơn đặt hàng máy công cụ của Đức từ Trung Quốc giảm một phần ba chỉ riêng trong năm 2025.

Nhưng để có bất kỳ hy vọng nào trong việc hạn chế các chính sách công nghiệp, tài khóa và tiền tệ theo chủ nghĩa trọng thương quyết liệt của Trung Quốc, mọi nhà lãnh đạo đến thăm đều cần phải thể hiện sự bất mãn — và thông điệp đó cần được một liên minh đủ mạnh cùng lên tiếng. Thay vào đó, mỗi quốc gia lại theo đuổi lợi ích thương mại ngắn hạn của riêng mình, hy sinh sự đoàn kết tập thể. Vào tháng Ba, Kế hoạch 5 năm lần thứ 15 của Trung Quốc đã nêu rõ ý định của Bắc Kinh là phớt lờ những lời thỉnh cầu rời rạc của nước ngoài và tiếp tục mục tiêu thống trị công nghệ và năng lực sản xuất tiên tiến.

Bằng cách đặt an ninh và nhân quyền xuống dưới lợi ích thương mại tức thời, các chính phủ này đang đẩy công dân của mình vào nguy cơ bị can thiệp từ bên ngoài, bị giam giữ tùy tiện và đàn áp xuyên quốc gia, với rất ít triển vọng được cứu vãn. Thái độ của chính phủ Anh là một ví dụ điển hình. Trong một cuộc gặp riêng với ông Tập vào tháng Giêng, ông Starmer thúc giục trả tự do vì mục đích nhân đạo cho Jimmy Lai, một công dân Anh 78 tuổi, chủ tờ báo tại Hồng Kông, người bị kết án vào tháng trước đó với các cáo buộc an ninh quốc gia mang động cơ chính trị vì dám thách thức Bắc Kinh. Sau đó, ông Starmer bày tỏ hy vọng về “một mối quan hệ sâu sắc hơn” giữa Trung Quốc và Anh. Vài ngày sau, tòa án Hồng Kông kết án ông Lai 20 năm tù. Các quan chức Anh lên tiếng chỉ trích bản án bất công này nhưng không đưa ra bất kỳ biện pháp trừng phạt nào. Trong bài tường thuật của chính mình về chuyến đi, ông Starmer đã né tránh những vấn đề gai góc đó và tập trung vào các vấn đề thiết thực, thời lượng các cuộc họp và “một cảm quan chung về lịch sử.”

Cam kết trước, nhượng bộ sau

Chứng kiến quá nhiều nhà lãnh đạo đạt được các thỏa thuận nhỏ tại Bắc Kinh, ông Trump có thể bị cám dỗ để vượt mặt họ, đưa ra các tuyên bố rầm rộ và nhượng bộ Bắc Kinh để đổi lấy một thỏa thuận còn hào nhoáng hơn. Để tạo không khí thuận lợi cho cuộc gặp, chính quyền của ông đã phê duyệt việc bán các chip máy tính tiên tiến, trì hoãn bán vũ khí cho Đài Loan và gác lại các lệnh trừng phạt vì các cuộc tấn công mạng có nguồn gốc từ Trung Quốc. Ông Trump hy vọng có được cam kết từ Trung Quốc trong việc mua đậu nành, khí đốt tự nhiên và máy bay Boeing của Mỹ, cũng như việc Trung Quốc hạn chế xuất khẩu các tiền chất fentanyl và đảm bảo nguồn cung ổn định các nguyên tố đất hiếm. Ngược lại, ông Tập có lẽ sẽ mong đợi Mỹ kiềm chế hoặc rút lui trong việc hỗ trợ Đài Loan cũng như các biện pháp kiểm soát xuất khẩu và công nghệ, trừng phạt các công ty Trung Quốc và các rào cản đầu tư vào Mỹ.

Nhưng cách tiếp cận này mang lại rủi ro rất lớn cho Mỹ. Nếu các đồng minh thấy rằng ông Trump đang hy sinh lợi ích chung cho một thông báo gây tiếng vang trên truyền thông, họ sẽ càng muốn đi nước đôi, làm sâu sắc thêm sự rạn nứt trong liên minh phương Tây. Và nếu chuyến thăm của ông Trump dẫn đến một thỏa thuận chiến thuật với cái giá là các lợi ích chiến lược lâu dài — như các cam kết an ninh của Mỹ trong khu vực và kiểm soát công nghệ — điều đó sẽ khẳng định với ông Tập rằng ngay cả Washington hiện giờ cũng sẵn sàng thỏa hiệp với Bắc Kinh. Điều đó sẽ khiến Mỹ suy yếu một cách nguy hiểm trong những năm quyết định của cuộc đối đầu với Trung Quốc.

Có một con đường tốt hơn. Ông Trump có thể tái định nghĩa mục đích của việc đến Trung Quốc — thoát khỏi sự tự kiểm duyệt, những thỏa thuận phù phiếm và các thuật ngữ độc tài vốn đang mang lại lợi thế cho Bắc Kinh, và hướng tới việc sử dụng những cuộc gặp gỡ như vậy để thu thập thông tin, bảo vệ các nguyên tắc cốt lõi và truyền tải các thông điệp cứng rắn về các ưu tiên của Mỹ và đồng minh. Cả về hình ảnh lẫn ngôn từ, Bắc Kinh coi sự nồng ấm là sự xác nhận và sự im lặng là đầu hàng. Ông Trump cùng những vị lãnh đạo nối gót ông tới Trung Quốc nên khước từ những sự thỏa hiệp về mặt biểu tượng, ngôn từ lẫn vật chất mà Bắc Kinh đang trông đợi. Thay vào đó, Mỹ nên trình bày rõ ràng những lo ngại về chiến lược, kinh tế và nhân quyền; nêu đích danh những tù nhân họ muốn được trả tự do; và phát tín hiệu về các biện pháp họ sẽ thực hiện để bảo vệ lợi ích của mình.

Carney và các nhà lãnh đạo đang có xu hướng đi nước đôi khác có lý do chính đáng để hoài nghi việc đi theo sự dẫn dắt của Washington, nhưng họ chỉ cần điều chỉnh một số sáng kiến của mình phù hợp với các mục tiêu của Mỹ mà họ có thể đồng thuận. Họ có thể theo đuổi các cam kết song phương nhằm giảm bớt sự phụ thuộc có thể bị vũ khí hóa vào Trung Quốc và hài hòa hóa việc sàng lọc đầu tư, kiểm soát xuất khẩu cùng các rào cản đối với tình trạng sản xuất dư thừa. Và họ có thể xác định những gì không quốc gia nào được nhượng bộ: công nghệ cốt lõi, an ninh dữ liệu, năng lực công nghiệp, sự hỗ trợ cho Đài Loan và các giới hạn đối với việc Bắc Kinh hỗ trợ Moscow.

Thước đo thực sự cho sự thành công của các nhà lãnh đạo khi tới Trung Quốc không phải là giá trị tiền tệ của các thỏa thuận họ ký kết hay những biểu hiện tôn trọng hão huyền mà họ nhận được. Đó là liệu họ có kiềm chế được hành vi của Trung Quốc, làm giảm bớt chủ nghĩa trọng thương của nước này và bảo vệ được quyền tự chủ chính sách của chính mình hay không. Làn sóng đến thăm Trung Quốc này đã cho các nhà lãnh đạo dân chủ thấy rằng việc bình thường hóa và các nhượng bộ manh mún có thể mua được một sự ổn định mong manh với Bắc Kinh. Nhưng cái giá phải trả là sức mạnh tập thể, đồng thời làm xói mòn khả năng phục hồi mà các quốc gia đang khẩn thiết cần xây dựng. Cách tiếp cận khôn ngoan hơn là coi bất kỳ sự thỏa mãn nào đối với yêu sách của Bắc Kinh chỉ như một kế hoãn binh, và tận dụng thời gian mua được đó để củng cố khả năng răn đe chống lại các hành vi cưỡng ép tiếp theo.

MICHAEL KOVRIG là cựu quan chức ngoại giao người Canada từng công tác tại Trung Quốc, là người sáng lập StrategicEffects và là Giám đốc điều hành của Kovrig Group.