Mối đe dọa thực sự đối với Đài Loan

Nguồn: Eyck Freymann, “The Real Threat to Taiwan,” Foreign Affairs, 29/04/2026

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Mỹ đang không chuẩn bị cho đúng loại khủng hoảng.

Mọi chuyện bắt đầu không phải bằng tên lửa mà bằng các tàu tuần duyên. Một buổi sáng nọ, hàng chục tàu hải cảnh Trung Quốc bắt đầu tiến hành “kiểm tra hải quan thường lệ” đối với các tàu thương mại đang tiến vào các cảng lớn của Đài Loan. Giới chức hàng không dân dụng Trung Quốc bắt đầu yêu cầu bản kê khai hàng hóa và hành khách từ các chuyến bay đến và đi từ Đài Loan. Bắc Kinh khăng khăng rằng họ chỉ đang thực thi luật hải quan hiện hành của Trung Quốc, trong đó tuyên bố quyền quản lý luồng người và hàng hóa ra vào “Tỉnh Đài Loan.”

Ngay lập tức, gần như tất cả các hãng hàng không và công ty vận tải biển quyết định tuân thủ. Các nhà khai thác tư nhân này đơn giản là không muốn thấy tàu hoặc máy bay của họ bị bắt giữ, giam giữ hay tệ hơn. Họ cũng không có nhiều lựa chọn. Các công ty bảo hiểm sẽ không chi trả nếu họ chống đối. Đột nhiên, gần như tất cả máy bay và tàu thuyền đến hoặc đi từ Đài Loan đều phải dừng trước ở một cảng tại tỉnh Phúc Kiến của đại lục trước khi đến điểm đến cuối cùng. Bắc Kinh đã giành quyền kiểm soát hầu hết các liên kết của Đài Loan với thế giới bên ngoài.

Các nhà ngoại giao của Trung Quốc nói rằng đây không phải là một cuộc phong tỏa, rằng Bắc Kinh không có ý định bỏ đói Đài Loan. Người và hàng hóa vẫn có thể tiếp tục lưu thông tự do miễn là tuân thủ luật pháp của Trung Quốc. Chỉ có một vài ngoại lệ quan trọng: không được đưa thêm vũ khí vào Đài Loan, không có thêm các linh kiện lưỡng dụng mà Đài Loan có thể dùng để chế tạo vũ khí, không có thêm các “cố vấn” quân sự Mỹ. Các thành viên của Đảng Dân Tiến (DPP) của Đài Loan hoài nghi Trung Quốc — những người bị Bắc Kinh dán nhãn là “phần tử ly khai” — có thể gặp khó khăn trong việc xin thị thực xuất cảnh. Các kỹ sư quy trình tại Công ty Sản xuất Bán dẫn Đài Loan (TSMC) và gia đình của họ cũng có thể rơi vào hoàn cảnh tương tự.

Nhà Trắng nhanh chóng nhận ra vấn đề cốt lõi: gánh nặng leo thang hiện đang đè lên vai Mỹ. Hành động của Trung Quốc, dù cực kỳ đáng báo động, không tự động phá vỡ bất kỳ chuỗi cung ứng nào và không phải là những hành động gây hấn quân sự truyền thống. Mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất của Đài Loan — các chip GPU cung cấp sức mạnh cho cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo — vẫn có thể tiếp tục chảy sang Mỹ, chí ít là vào lúc này. Nhưng nếu Washington chấp nhận trạng thái bình thường mới này, họ sẽ bị “chiếu tướng.” Bị tước đoạt các công cụ để tự vệ, Đài Loan sẽ sớm mất đi đòn bẩy để chống lại sự cưỡng ép của Trung Quốc. Washington không thể tin tưởng rằng Bắc Kinh sẽ để Đài Loan xuất khẩu GPU tự do mãi mãi. Về mặt lý thuyết, bất cứ lúc nào Mỹ cũng có thể phá hủy hoặc vô hiệu hóa các nhà máy sản xuất của TSMC để ngăn Trung Quốc tiếp cận chúng. Nhưng một hành động như vậy sẽ gây hoảng loạn tài chính. Do đó, Trung Quốc sẽ giành lợi thế về các năng lực AI tiên tiến trừ phi Washington chọn cách tự giáng một đòn kinh tế tàn khốc vào chính mình, đồng thời chọc giận toàn thế giới trong quá trình đó.

Tệ hơn nữa, một khi Bắc Kinh thiết lập tiêu chuẩn rằng họ có thể kiểm soát ai và cái gì ra vào Đài Loan, thì Nhật Bản, Philippines và Hàn Quốc ngay lập tức cũng dễ bị tổn thương trước sự cưỡng ép tương tự. Trung Quốc không cần phải tấn công các quốc gia này bằng vũ lực vật lý để vũ khí hóa nền kinh tế của họ chống lại Mỹ. Họ chỉ cần gây áp lực lên các công ty vận tải và giao nhận tư nhân kết nối các nước này với thế giới bên ngoài. Đây là con đường để Trung Quốc hướng tới việc định hình lại trật tự kinh tế khu vực và cuối cùng là toàn cầu mà không cần chiến tranh.

Cộng đồng chính sách Mỹ đã đầu tư sức lực khổng lồ vào việc chuẩn bị cho một cuộc xâm lược đổ bộ toàn diện vào Đài Loan. Vô số cuộc tập trận mô phỏng đã được tổ chức để nghiên cứu kịch bản này. Các phiên điều trần của Quốc hội tập trung vào số lượng tàu chiến và kho tên lửa. Cán cân quân sự quả thực quan trọng. Nhưng những con đường có khả năng dẫn đến khủng hoảng ở Đài Loan nhất lại đi qua vùng xám: các cuộc “cách ly,” việc huy động cưỡng chế lực lượng đổ bộ ở phía đại lục của Eo biển Đài Loan, và các hình thức bên miệng hố chiến tranh khác. Điểm chung của những kịch bản này là chúng thay đổi thực tế trên thực địa trong khi đẩy gánh nặng leo thang sang cho Washington. Mỹ không có chiến lược tích hợp nào để quản lý một cuộc khủng hoảng như vậy. Nước này không có phản ứng kinh tế được phối hợp trước với các đồng minh, không có học thuyết nào để giao tiếp với các thị trường tài chính, và không có kế hoạch chung nào được công bố công khai về việc tiếp tế cho Đài Loan trong điều kiện bị cách ly hoặc sơ tán công dân Mỹ và đồng minh khỏi hòn đảo này.

Về bản chất, Mỹ phải ngăn chặn một cuộc khủng hoảng, chứ không chỉ là một cuộc chiến, ở Đài Loan. Nước này phải chứng minh cho Trung Quốc thấy rằng họ đã sẵn sàng đối phó với cú sốc chính trị và kinh tế đi kèm với một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, rằng họ có thể giảm thiểu đòn giáng trực tiếp vào nền kinh tế của mình và của các đồng minh, và nếu cần, họ có thể kích hoạt tiến trình phân tách một phần theo từng giai đoạn nhưng không thể đảo ngược khỏi Trung Quốc. Mỹ phải bắt đầu xây dựng các kế hoạch này với các đồng minh ngay từ hôm nay. Nếu không, khi khủng hoảng xảy ra, Mỹ có thể sẽ lao đến bờ vực, hoảng sợ, và rồi lùi bước — hy sinh Đài Loan, đồng thời xé nát uy tín của các liên minh trên toàn cầu.

Dự án 2049

Nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình từng tuyên bố tìm kiếm sự “thống nhất trong hòa bình” với Đài Loan, trong đó Đài Loan khuất phục dưới áp lực theo một thỏa thuận “một quốc gia, hai chế độ” kiểu Hong Kong — chấp nhận rằng họ là một phần của Trung Quốc để đổi lấy quyền tự trị trong việc quản lý các công việc của chính mình. Sau đó, Bắc Kinh có thể từ từ làm xói mòn quyền tự trị của Đài Loan theo thời gian thông qua sự cưỡng ép tăng dần (như họ đã làm với Hong Kong), và cuối cùng giành quyền kiểm soát cơ sở sản xuất chất bán dẫn của Đài Loan.

Hạn chót mà Tập đưa ra để đạt được sự “thống nhất” mang tính biểu tượng này là năm 2049, cũng là thời hạn để đạt được “sự phục hưng dân tộc” — hay dự án di sản rộng lớn hơn của ông. Đối với Tập, hai mục tiêu này có liên kết với nhau. Phục hưng dân tộc có nghĩa là thiết lập vị thế tối cao toàn diện của Trung Quốc: hiện đại hóa kinh tế, tự chủ công nghệ, thống trị quân sự tuyệt đối, và nhiều hơn thế. Đài Loan là viên đá đỉnh vòm trong công cuộc phục hưng dân tộc. Một nước đi sai lầm nhằm vào Đài Loan có thể khiến toàn bộ dự án gặp rủi ro. Do đó, Tập đã hành động một cách có phương pháp, nhằm kiểm tra quyết tâm của Mỹ và làm suy yếu tinh thần của Đài Loan trong khi dần dần định nghĩa lại hiện trạng.

Chiến dịch của Tập nhằm khuất phục Đài Loan, vốn đã là một nỗ lực toàn diện của chính phủ, tích hợp mọi công cụ sức mạnh quốc gia của Trung Quốc. Các máy bay chiến đấu của Quân Giải phóng Nhân dân liên tục xâm nhập Vùng Nhận dạng Phòng không của Đài Loan. Máy bay không người lái có thời gian bay dài liên tục lượn lờ quanh hòn đảo. Các tòa án Trung Quốc yêu cầu các nước thứ ba trục xuất công dân Đài Loan sang Trung Quốc để đối mặt với các cáo buộc. Ban Công tác Mặt trận Thống nhất Trung ương Đảng thì điều hành các chiến dịch thông tin sai lệch, đồng thời nuôi dưỡng các đặc vụ ngay trong cơ sở an ninh của Đài Loan.

Những nỗ lực này và các nỗ lực vùng xám khác đang dần tạo nền tảng cho nhiều động thái chống lại Đài Loan, bao gồm cả việc cách ly, trong đó Bắc Kinh khẳng định quyền kiểm soát ai và cái gì ra vào Đài Loan mà không phá vỡ chuỗi cung ứng hoặc gây ra cú sốc kinh tế, cũng như các biện pháp cực đoan hơn để hạn chế hoạt động thương mại của Đài Loan về mặt vật lý. Ví dụ, cuộc tập trận “Sứ mệnh Công lý 2025” của Quân Giải phóng Nhân dân vào tháng 12/2025 đã mô phỏng một cuộc phong tỏa các thành phố cảng lớn của Đài Loan với 14 tàu hải cảnh và 18 tàu chiến. Các khu vực tập trận chồng chéo với lãnh hải của Đài Loan và kéo dài gần hết chiều dài của eo biển. Vài tuần sau, Trung Quốc lại huy động hàng nghìn tàu cá tạo thành các rào chắn nổi dài hơn 320 km ở biển Hoa Đông, các đội hình này dày đặc đến mức các tàu chở hàng phải chạy ngoằn ngoèo qua chúng. Các cuộc tập trận này thể hiện khả năng chỉ huy và kiểm soát ấn tượng đối với các tàu thuyền mà trên danh nghĩa là dân sự, vốn có thể hỗ trợ một cuộc cách ly hoặc một cuộc phong tỏa một phần hoặc toàn diện.

Tập cũng có nhiều lựa chọn khác trong vùng xám. Trung Quốc có thể phô trương huy động lực lượng cho một cuộc xâm lược đổ bộ, tái định vị các tên lửa di động và các siêu phà dân sự, phái đi các tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân, và triển khai các đơn vị đổ bộ của Quân Giải phóng Nhân dân, dưới vỏ bọc của một cuộc “tập trận” thường lệ, giống như những gì lực lượng Nga đã làm khi họ tập trung ở biên giới Ukraine vào mùa thu năm 2021. Hành động này sẽ đặt Đài Loan dưới áp lực tâm lý khủng khiếp. Và nếu Tập đánh giá phản ứng của Mỹ và đồng minh là yếu ớt, ông có thể phát động một cuộc tấn công phủ đầu trực tiếp với rất ít cảnh báo trước.

Tuy nhiên, Bắc Kinh có thể ưu tiên việc cách ly như một động thái mở màn vì tính tinh vi của nó. Việc khẳng định quyền kiểm soát đối với tương lai kinh tế của Đài Loan là minh chứng cho nguyên tắc mà Bắc Kinh hy vọng sẽ dùng để cưỡng ép mọi quốc gia khác trong khu vực. Sự thống trị khu vực đạt được thông qua cách ly sẽ không đòi hỏi phải xâm lược và chiếm đóng. Nó chỉ đơn giản yêu cầu Bắc Kinh thiết lập một tiêu chuẩn để họ có thể gián tiếp kiểm soát cách các quốc gia này tham gia vào nền kinh tế toàn cầu. Nếu Tập có thể chứng minh rằng Mỹ không thể chống lại kịch bản này một cách hiệu quả, thì mạng lưới liên minh của Washington trong khu vực sẽ chịu thiệt hại không thể khắc phục.

Sự hủy diệt được thị trường đảm bảo

Quyết định cách ly không phải là không có rủi ro cho Tập. Khi áp lực vùng xám của Trung Quốc tăng lên, các chính phủ đồng minh sẽ phải đối mặt với những quyết định đau đầu về việc có nên tăng cường lực lượng quân sự hay bắt đầu sơ tán dân thường hay không. Họ cũng có thể tăng cường sự can dự chính trị công khai với Đài Loan. Những động thái này có thể đủ sức thuyết phục Tập lùi bước. Nhưng chúng cũng có thể ép Tập phải ra tay. Lịch sử cho thấy rằng khi các cuộc khủng hoảng bên miệng hố chiến tranh leo thang, các quốc gia thường leo thang với mục tiêu cuối cùng là để xuống thang sau đó. Các nhà lãnh đạo cố tình sử dụng các tuyên bố công khai mạnh mẽ, dứt khoát và các tối hậu thư để tăng uy tín của mình, tạo ra những tình huống mà việc lùi bước sẽ gây tốn kém về mặt danh tiếng hơn là tiến tới. Bao trùm lên mỗi quyết định này sẽ là viễn cảnh leo thang chiến sự hoặc thậm chí là hạt nhân.

Nhưng nếu Washington cho thấy rõ họ chưa chuẩn bị trước và rằng họ có thể bị khuất phục bởi những cú sốc tạm thời của thị trường tài chính, thì Tập có thể bị cám dỗ để lấn tới. Thật vậy, mỗi khi Tập thử thách Đài Loan mà không phải chịu hậu quả nào, và mỗi khi Mỹ bộc lộ việc không chịu đựng được nỗi đau kinh tế, Tập sẽ càng cảm thấy mạnh dạn hơn để đẩy mạnh áp lực.

Một cuộc khủng hoảng địa chính trị xoay quanh Đài Loan có thể dễ dàng biến thành một cuộc khủng hoảng tài chính rất lâu trước khi một trong hai bên cản trở dòng chảy thương mại hoặc tài chính. Không có nhà đầu tư nào muốn là người cuối cùng bán tháo các khoản đầu tư của mình nếu quan hệ Mỹ-Trung đổ vỡ. Các công ty bảo hiểm có thể đình chỉ việc bảo hiểm trước đối với các loại hàng hóa quá cảnh qua Biển Hoa Đông và Biển Đông, những tuyến đường vận chuyển các đầu vào thiết yếu cho hầu hết các sản phẩm điện tử quan trọng trên Trái Đất. Chỉ một dấu hiệu nhỏ nhất cho thấy việc sản xuất chất bán dẫn của Đài Loan có thể bị gián đoạn cũng có thể đẩy các cổ phiếu công nghệ lao dốc.

Khi Thế chiến I bùng nổ vào tháng 8/1914, sự gián đoạn của thương mại và dòng chảy vàng đã ngay lập tức châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng tài chính. Vương quốc Anh phải đóng cửa Sàn giao dịch Chứng khoán London trong hơn sáu tháng. Trong nền kinh tế toàn cầu hội nhập sâu rộng hơn nhiều ngày nay, các hiệu ứng dây chuyền có thể nghiêm trọng hơn rất nhiều. Tỷ trọng thương mại trong GDP toàn cầu hiện cao gấp khoảng hai lần so với mức của năm 1914, và các chuỗi cung ứng chuyên biệt hơn và khó di chuyển nhanh chóng hơn. Trong trường hợp xảy ra khủng hoảng Đài Loan, phản ứng ban đầu của thị trường có thể sẽ là đổ xô vào vàng, đồng franc Thụy Sĩ và các tài sản “an toàn” bằng đồng đô la Mỹ như trái phiếu Kho bạc Mỹ. Nhưng nếu các ngân hàng trung ương và bộ tài chính ở các quốc gia đồng minh không phối hợp hiệu quả, các dòng vốn này có thể nhanh chóng đảo ngược, như đã xảy ra vào năm 1914. Nếu các nhà đầu tư nhận thấy rằng các đồng minh chưa chuẩn bị cho cú sốc kinh tế của một sự đứt gãy, họ có thể bị cám dỗ để đặt cược vào sự rạn nứt uy tín của Mỹ và đồng minh. Trên thực tế, điều này có nghĩa là một sự sụp đổ của thị trường trái phiếu chỉ trong vài ngày hoặc vài tuần sau một hành động của Trung Quốc.

Một số nhà phân tích tin rằng sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế với Trung Quốc có tác dụng ổn định về mặt chiến lược. Nhưng Bắc Kinh đang chạy đua để xây dựng khả năng tự cung tự cấp về kinh tế nhằm đảm bảo rằng họ có thể chống chọi với những tác động ngắn hạn của một sự đứt gãy tốt hơn Mỹ và các đồng minh. Trung Quốc đã và đang tích cực duy trì các biện pháp kiểm soát vốn, xây dựng nguồn dự trữ chiến lược và phát triển các hệ thống thanh toán thay thế mà họ có thể sử dụng để duy trì sự ổn định tài chính và kinh tế vĩ mô trong nước cũng như tiếp tục giao thương với thế giới nếu Mỹ chuyển sang chiến tranh kinh tế toàn diện. Về cơ bản, Bắc Kinh đang đánh cược rằng viễn cảnh “hủy diệt lẫn nhau về kinh tế” có khả năng răn đe Washington hơn là Trung Quốc.

Nếu Trung Quốc thực sự gia tăng áp lực, Mỹ sẽ chỉ có hai lựa chọn để trấn an thị trường: dung túng cho việc Bắc Kinh dần khẳng định quyền kiểm soát nền kinh tế Đài Loan, hoặc tung ra một gói phản ứng khủng hoảng tài khóa và tiền tệ khổng lồ được phối hợp. Lựa chọn thứ hai gần như chắc chắn sẽ là động thái khôn ngoan và cần thiết về mặt chính trị. Nhưng không có gói kích thích kinh tế nào có thể thực sự tạo bệ đỡ cho nền kinh tế thế giới nếu Mỹ quyết định tiến hành chiến tranh kinh tế chống lại Trung Quốc.

Chuyến trực thăng cuối cùng khỏi Đài Bắc

Trong một cuộc khủng hoảng vùng xám, các nước phương Tây cũng có thể phải đối mặt với câu hỏi đầy âu lo về việc có nên sơ tán công dân nước ngoài hay không. Vào bất kỳ thời điểm nào cũng có khoảng 11.000 người Mỹ, 16.000 người Nhật Bản và gần một triệu công dân nước ngoài khác ở Đài Loan. Washington sẽ cố gắng làm bốn việc mâu thuẫn nhau cùng một lúc: đưa người Mỹ thoát khỏi vòng nguy hiểm, trấn an Đài Loan rằng họ không nên đầu hàng, trấn an các thị trường tài chính rằng họ không nên hoảng sợ, và cảnh báo Bắc Kinh không được lấn tới. Những mục tiêu này mâu thuẫn trực tiếp với nhau. Việc tuyên bố sơ tán sẽ báo hiệu rằng Mỹ đang chuẩn bị cho một cuộc xung đột sắp xảy ra và có thể gây ra chính sự hoảng loạn mà Washington đang tìm cách ngăn chặn. Bắc Kinh có thể xem đó là dấu hiệu cho sự do dự của Mỹ, từ đó khuyến khích họ leo thang thêm nữa. Còn các nhà lãnh đạo của Đài Loan có thể xem đó là sự bỏ rơi và cảm thấy bị dồn vào đường cùng, đành đầu hàng Bắc Kinh. Và các thị trường có thể hiểu điều đó như một sự xác nhận rằng chiến tranh sắp nổ ra.

Khác với ở Ukraine, nơi hàng triệu người có thể chạy trốn bằng đường bộ sang các nước láng giềng, địa lý hải đảo của Đài Loan khiến sơ tán bằng đường hàng không trở thành lựa chọn duy nhất. Một cuộc sơ tán hàng không quy mô lớn theo đó sẽ khiến các cuộc sơ tán ở Sài Gòn hay Kabul trông có vẻ nhanh chóng và có trật tự. Hàng trăm nghìn công dân Đài Loan sẽ cố gắng rời đi cùng một lúc, cạnh tranh với người nước ngoài để giành những chỗ ngồi hạn chế trên các chuyến bay xuất cảnh. Ngay cả khi các hãng vận tải thương mại hoạt động bình thường, vẫn sẽ mất ít nhất một tuần để sơ tán tất cả công dân nước ngoài, thậm chí hơn một tháng.

Washington và các đồng minh không có lựa chọn nào tốt để xử lý vấn đề công dân nước ngoài ở Đài Loan. Họ có thể cố gắng tiến hành sơ tán trong khi nói với Đài Bắc rằng họ đang bảo vệ công dân của mình để chuẩn bị chiến đấu, chứ không phải vì họ đang chuẩn bị rời đi. Nhưng điều này có vẻ không đáng tin và có thể phá nát tinh thần của Đài Loan. Mặt khác, Washington có thể chọn không tiến hành sơ tán gì cả, nghĩa là xem công dân nước ngoài ở Đài Loan như những lá chắn sống. Một mặt, sự hiện diện của họ có thể khiến Bắc Kinh phải suy nghĩ lại về việc bắn phá hoặc phong tỏa hòn đảo. Nhưng việc cố tình bỏ mặc dân thường mắc kẹt trong một vùng xung đột là một chiến lược có rủi ro cao và gây tranh cãi về mặt đạo đức. Dù các đồng minh chọn phương án nào, họ đều phải phối hợp từ trước, bởi tùy cơ ứng biến khó có thể mang lại kết cục tốt đẹp.

Răn đe bằng phân tách

Mỹ cần một chiến lược tích hợp để răn đe và, nếu cần, để ứng phó với một cuộc khủng hoảng trong vùng xám. Điều này sẽ đòi hỏi một cách tiếp cận gồm bốn trụ cột, tận dụng mọi công cụ sức mạnh của Mỹ và đồng minh để báo hiệu cả sự kiên quyết và sự kiềm chế.

Trụ cột răn đe đầu tiên là chính trị. Washington phải tăng cường gắn kết với Đài Loan, không chỉ qua việc bán vũ khí mà còn thông qua các hiệp định thương mại và đầu tư, quan hệ đối tác an ninh năng lượng, những lời trấn an công khai về sự hỗ trợ liên tục, và những áp lực riêng tư lặng lẽ lên Đài Bắc nhằm mở rộng các kho dự trữ chiến lược của riêng họ cũng như huấn luyện và trang bị hiệu quả cho quân đội của mình. Mỹ nên duy trì đối thoại cởi mở và quan hệ có hiệu quả với tất cả các đảng phái chính trị hàng đầu của Đài Loan. Nước này nên xây dựng và duy trì một “liên minh cốt lõi” gồm các quốc gia có lợi ích chung trong việc gìn giữ một nền hòa bình danh dự trong khu vực, cụ thể là Australia, Canada, Nhật Bản và Anh. Cùng với Mỹ, các quốc gia này đại diện cho hơn một phần ba GDP toàn cầu và gần một nửa chi tiêu quốc phòng toàn cầu. Nhóm cốt lõi này nên cùng nhau phát triển các kế hoạch dự phòng cho việc ứng phó với sự cách ly, sơ tán, tiếp tế và phối hợp kinh tế, đồng thời tham vấn và phối hợp trong các thông điệp chính trị.

Răn đe chính trị cũng bao gồm việc quản lý Trung Quốc thông qua chính sách “Một Trung Quốc” lâu đời. Mỹ vẫn giữ thái độ mơ hồ về các chi tiết trong quy chế của Đài Loan. Mỹ ủng hộ một giải pháp hòa bình và không mang tính cưỡng ép đối với các bất đồng xuyên eo biển theo cách thức mà người dân Đài Loan có thể chấp nhận được về mặt dân chủ. Đạo luật Quan hệ Đài Loan cũng cam kết Mỹ sẽ duy trì năng lực chống lại bất kỳ hành vi sử dụng vũ lực hoặc cưỡng ép nào có thể gây nguy hiểm cho an ninh của Đài Loan. Khi Mỹ còn mạnh hơn Trung Quốc đáng kể, thì sự mơ hồ chiến lược về bản chất chính xác của các cam kết phòng thủ của Mỹ đối với Đài Loan là một công cụ răn đe mạnh mẽ. Nhưng khi cán cân quyền lực nghiêng về phía Trung Quốc, sự mập mờ về việc liệu Mỹ có bảo vệ Đài Loan hay không trông không còn giống một sự khôn ngoan chiến lược mà giống một cái cớ để làm ngơ trong khi Trung Quốc bóp nghẹt Đài Loan trong vùng xám.

Bản chất chính sách của Mỹ không nên thay đổi. Việc chuyển sang đảm bảo an ninh rõ ràng cho Đài Loan sẽ tạo ra nhiều vấn đề hơn là giải quyết chúng. Nhưng Washington cần hiện đại hóa cách thức họ truyền đạt lập trường mơ hồ của mình, cảnh báo Bắc Kinh rằng sự cưỡng ép vùng xám trong một lĩnh vực có thể châm ngòi cho các phản ứng tương xứng của Mỹ ở các lĩnh vực khác. Chẳng hạn, nếu Bắc Kinh bắt đầu dùng vũ lực kiểm tra các tàu hướng đến Đài Loan, Washington có thể đáp trả bằng cách thắt chặt và chính thức hóa hợp tác chính trị và quân sự với Đài Loan. Việc tiết lộ thông tin tình báo có chọn lọc có thể giúp làm cho kiểu mơ hồ có cấu trúc này trở nên đáng tin cậy hơn.

Trụ cột răn đe thứ hai là quân sự. Mỹ nên ưu tiên các khả năng bất đối xứng, tận dụng những lợi thế lâu dài của mình trước Trung Quốc về đạn dược tầm xa, máy bay không người lái, tác chiến dưới đáy biển, tác chiến điện tử và thủy lôi hải quân. Mỹ cũng phải xây dựng lại hệ thống hậu cần hàng hải đang già cỗi của mình trong sự phối hợp chặt chẽ với Australia và Nhật Bản. Cơ sở công nghiệp quốc phòng cần được cải cách khẩn cấp dựa trên những cải cách về quy trình mua sắm do Quốc hội và Lầu Năm Góc ban hành trong năm qua. Washington cũng phải đưa ra những lựa chọn khó khăn, không điều chuyển một số năng lực nhất định đến Trung Đông để lực lượng Mỹ luôn sẵn sàng chiến đấu ở Thái Bình Dương. Trung Quốc càng tăng cường áp lực vùng xám thì sự hợp tác công nghiệp và quốc phòng với Đài Loan càng phải trở nên sâu rộng hơn.

Trụ cột thứ ba là chiến lược. Trung Quốc đang tham gia vào quá trình xây dựng kho vũ khí hạt nhân nhanh nhất kể từ đầu Chiến tranh Lạnh, hướng tới mục tiêu 1.500 đầu đạn vào năm 2035. Học thuyết răn đe chiến lược của họ cố tình mơ hồ, được thiết kế để làm phức tạp quá trình ra quyết định của Mỹ ở mọi cấp độ leo thang. Mỹ phải tiếp tục hiện đại hóa lực lượng và hệ thống phân phối hạt nhân của mình, triển khai nhiều khả năng tầm trung hơn ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và khám phá các thỏa thuận chia sẻ hạt nhân với Nhật Bản và Hàn Quốc. Nước này nên tiếp tục chuyển đổi các hệ thống chỉ huy và kiểm soát cũng như hệ thống giám sát từ một số lượng nhỏ các vệ tinh tinh vi, cực kỳ đắt tiền và dễ bị tấn công sang một mạng lưới bền bỉ hơn gồm các máy bay không người lái, phao nổi, khinh khí cầu và các vệ tinh nhỏ, rẻ tiền ở quỹ đạo tầm thấp. Washington cũng phải xem AI là một công cụ chiến lược. Nước này nên sử dụng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu và các công cụ khác để duy trì vị trí dẫn đầu của Mỹ, trong khi thận trọng báo hiệu về các khả năng mới nổi có sử dụng AI của mình, chẳng hạn như vũ khí mạng.

Trụ cột răn đe thứ tư, răn đe kinh tế, đòi hỏi cuộc đại tu lớn nhất trong cách tiếp cận. Như tôi và Hugo Bromley đã lập luận, các chính sách sử dụng sự hủy diệt lẫn nhau về kinh tế — các lệnh trừng phạt diện rộng, loại trừ khỏi hệ thống tài chính, cắt đứt thương mại — không phải là những lựa chọn nghiêm túc ngoại trừ những kịch bản khắc nghiệt nhất. Việc triển khai chúng đòi hỏi ý chí chính trị kiên cường để chịu đựng nỗi đau khủng khiếp do mình tự chuốc lấy. Việc chính quyền Trump đảo ngược thuế quan “Ngày Giải phóng” vào tháng 4/2025 để đối phó với sự nổi loạn của thị trường trái phiếu đã cho thấy rõ rằng các chính quyền Mỹ không thể thực hiện đến cùng những lời đe dọa về việc phân tách nhanh chóng và toàn diện.

Thay vì nhấn mạnh cách Mỹ có thể trừng phạt Trung Quốc, một chiến lược răn đe kinh tế khôn ngoan hơn sẽ cho Trung Quốc thấy rằng Mỹ và các đồng minh có thể lợi dụng cuộc khủng hoảng Đài Loan để kích hoạt một quá trình tái cấu trúc nền kinh tế toàn cầu theo các điều khoản của riêng họ và vì lợi ích của chính họ. Một mạng lưới các hiệp định an ninh kinh tế song phương và đa phương sẽ tạo ra nền tảng cho kiến trúc kinh tế quốc tế mới này, đẩy gánh nặng của sự leo thang kinh tế ngược trở lại cho Tập. Cơ chế thúc đẩy cho sự tái cấu trúc như vậy sẽ là “phân tách kiểu tuyết lở,” một quá trình mà trong đó Mỹ và các đồng minh cùng chí hướng sử dụng các rào cản thuế quan hoặc hạn ngạch tăng dần để loại bỏ dần các mặt hàng nhập khẩu cụ thể từ Trung Quốc theo thời gian.

Trong thời bình, Mỹ và các đồng minh có thể sử dụng sự phân tách kiểu tuyết lở này để phá vỡ sự phụ thuộc vào Trung Quốc đối với một số ít sản phẩm có độ nhạy cảm cao như máy bay không người lái và thuốc men, trong khi giữ nguyên phần lớn thương mại với Trung Quốc. Việc thực hiện điều này ngay bây giờ — trước khi một cuộc khủng hoảng diễn ra — sẽ thiết lập bằng chứng về tính khả thi. Sau đó, nếu Trung Quốc vượt qua các lằn ranh đỏ của Mỹ trong tương lai, các đồng minh có thể lựa chọn cách tiếp cận tương tự đối với một tỷ trọng thương mại lớn hơn, nhiều khả năng là trên cơ sở cấp tốc và làm việc với một liên minh lớn hơn.

Sự phân tách kiểu tuyết lở không phải là chĩa súng vào đầu các quốc gia khác và yêu cầu họ ngừng giao thương với Trung Quốc. Thay vào đó, nó sẽ mời gọi tất cả các quốc gia tự do lựa chọn loại hình hợp tác mà họ mong muốn với mỗi bên, theo từng sản phẩm và từng lĩnh vực. Các quốc gia và công ty muốn tiếp cận thị trường của Mỹ và các đồng minh sẽ có động lực để đồng hành cùng “trận tuyết lở” này. Hiện có gần 100 triệu công nhân ở Trung Quốc đang làm việc trong lĩnh vực sản xuất xuất khẩu, trong khi Mỹ và các đồng minh cốt lõi của họ cùng nhau chiếm hơn một phần ba thị trường bên ngoài này. Nếu Mỹ và các đồng minh mở rộng sự phân tách kiểu tuyết lở để bao trùm một phần đáng kể trong thương mại hiện tại của họ với Trung Quốc, thì hàng triệu công việc sản xuất và hàng nghìn tỷ đô la đầu tư tư nhân sẽ đột nhiên trở thành miếng mồi ngon có thể giành lấy.

Phần khó nhất của việc phá vỡ các sự phụ thuộc then chốt vào Trung Quốc sẽ là kiềm chế tình trạng trung chuyển. Hiện nay, các nước thứ ba và các công ty tư nhân đang mua hàng hóa và phụ tùng giá rẻ ở Trung Quốc, biến đổi hoặc dán nhãn sai để che giấu nguồn gốc của chúng, rồi sau đó tuồn chúng vào thị trường các nước đồng minh để trốn thuế. Để ngăn chặn tình trạng trung chuyển tràn lan nhằm đối phó với sự phân tách kiểu tuyết lở, Mỹ và liên minh các nước đồng minh có thể thành lập một ban hợp tác an ninh kinh tế để điều phối việc thực thi các quy tắc xuất xứ và giúp các quốc gia đối tác bảo vệ biên giới kinh tế của họ. Ban này sẽ không phải là một cơ quan đa phương có quyền lực đối với các thành viên như Tổ chức Thương mại Thế giới. Tư cách thành viên sẽ mở cho tất cả các quốc gia, kể cả những nước giao thương mạnh với Trung Quốc, nhưng điều kiện duy nhất sẽ là sự trung thực trong báo cáo thương mại. Nó có thể cung cấp cho các thành viên sự hỗ trợ kỹ thuật về giám sát chuỗi cung ứng và các thỏa thuận chia sẻ dữ liệu. Nếu các đối tác thương mại của Mỹ có hệ thống trung chuyển các sản phẩm do Mỹ kiểm soát xuất khẩu sang Trung Quốc, hoặc trung chuyển các phụ tùng của Trung Quốc vào thị trường Mỹ mà không có tài liệu chính xác, ban này có thể tiến hành điều tra. Nếu Washington áp dụng các mức thuế, hạn ngạch hoặc kiểm soát xuất khẩu đối với các quốc gia không tuân thủ, tương tự như đã làm với Trung Quốc, họ có thể kêu gọi các thành viên của ban ủng hộ mình.

Tất cả bốn trụ cột của chiến lược này không nên nhắm vào Trung Quốc hay Đảng Cộng sản Trung Quốc mà nhằm vào chính Tập. Chúng phải thuyết phục ông rằng việc châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng ở Đài Loan sẽ hủy hoại những tiến bộ mà ông đã đạt được nhằm hướng tới sự phục hưng dân tộc. Chúng phải thuyết phục ông rằng một cuộc khủng hoảng Đài Loan sẽ không chỉ tốn kém về mặt quân sự mà còn gây cô lập về chính trị, tàn phá về kinh tế và vô ích về mặt chiến lược, bởi Mỹ và các đồng minh có thể lợi dụng một cuộc khủng hoảng để tái cấu trúc trật tự khu vực và toàn cầu theo những cách khiến cho công cuộc phục hưng dân tộc trở nên ngoài tầm với. Các công cụ để làm việc này đã tồn tại; chúng chỉ cần được tập hợp lại dưới một chiến lược thống nhất.

Tập đã thể hiện sự kiềm chế trong 13 năm nắm quyền. Ông vẫn có thể bị răn đe, chừng nào Washington còn tiếp tục đưa ra cho ông những lý do để kiên nhẫn. Mỹ, các đồng minh và người dân Đài Loan có thể duy trì hòa bình cho một thế hệ nữa, nhưng chỉ khi các đồng minh bắt đầu chuẩn bị cho một cuộc khủng hoảng, chứ không chỉ là một cuộc chiến.

Eyck Freymann là nghiên cứu viên tại Đại học Stanford, nghiên cứu viên không thường trú tại Trường Chiến tranh Hải quân Mỹ, và giám đốc phụ trách khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tại Greenmantle. Ông là tác giả cuốn “Defending Taiwan: A Strategy to Prevent.”