
Nguồn: James Palmer, “The End of Chinese Growth,” Foreign Policy, 15/06/2026
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Tham vọng kinh tế của Bắc Kinh đã bị kéo trở lại mặt đất.
Đối với nhiều quốc gia, mức tăng trưởng GDP thường niên từ 4,5 đến 5% sẽ là một năm rất tốt đẹp. Với Trung Quốc, quốc gia vừa công bố mục tiêu này trong năm nay, đây là việc cố tình đặt kỳ vọng ở mức thấp. Sau hơn ba thập kỷ tăng trưởng cao ngất ngưởng — thường xuyên vượt mức 10%/năm — tham vọng kinh tế của Bắc Kinh giờ đây đã bị kéo trở lại mặt đất. Và điều đó làm thay đổi nhiều thứ hơn chỉ nền kinh tế của quốc gia này.
Cho đến cuối những năm 2010, toàn bộ đời sống của người Trung Quốc được định hình xoay quanh thực tế của tăng trưởng cao. Người dân chịu gánh những khoản nợ cao đến mức nhức nhối, với niềm tin rằng tiền lương của họ sẽ tăng lên để bù đắp. Họ nhảy việc chỉ sau hai tháng vì tin chắc rằng sẽ có một công việc tốt hơn ở ngoài kia. Trong một thế giới đầy rẫy cơ hội, những cuộc gặp gỡ tình cờ có thể biến thành những cột mốc sự nghiệp thay đổi cuộc đời — hoặc bạn có thể trở thành nạn nhân của một trong những kẻ lừa đảo cũng đang phát triển trong một thời đại mà những khoản tiền dễ dãi không phải lúc nào cũng là những cú lừa. Chính văn hóa chấp nhận rủi ro đó đã giúp các doanh nghiệp từng nhỏ bé phát triển thành những gã khổng lồ quốc tế.
Những thập kỷ hoàng kim khá phổ biến trong thế kỷ 20: “những năm tháng huy hoàng” của Pháp, “Phép màu Sông Rhine” của Đức, hay thậm chí là “phép màu Mexico.” Nhưng đà tăng trưởng của Trung Quốc sau năm 1980 đã vượt lên trên tất cả, cả về quy mô lẫn thời gian. Trung Quốc đã đi từ một quốc gia nghèo hơn Ấn Độ trở thành một thế lực đủ sức thách thức Mỹ, vượt qua hết đối thủ này đến đối thủ khác: từ Pháp, Anh, đến Nhật Bản.
Một phần nguyên nhân là hiệu ứng dây thun; những thảm họa chính sách thời Mao đã kìm hãm đất nước suốt hàng thập kỷ, trong lúc Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan đang bùng nổ. Có rất nhiều thứ cần phải bắt kịp: chỉ 18% người Trung Quốc sống ở thành thị vào năm 1978, so với hơn 50% ở Hàn Quốc. Nông dân Trung Quốc bắt đầu tách khỏi chế độ tập thể hóa vào những năm 1970, một động thái cuối cùng đã được Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) chấp thuận vào năm 1979.
Nhưng di sản của chủ nghĩa Mao lại chứa đầy nghịch lý. Dù ĐCSTQ từng chà đạp lên tham vọng của những người Trung Quốc bình thường, họ đã thành công trong việc phổ cập giáo dục trung học cơ sở trên toàn quốc, tạo ra hàng trăm triệu công nhân biết đọc, biết viết và biết tính toán mà nền kinh tế toàn cầu rất cần. Đặng Tiểu Bình và những người kế nhiệm ông cũng là những lãnh đạo đặc biệt khôn khéo, lèo lái đất nước thành công vượt qua loạt cú sốc tài chính làm rung chuyển châu Á vào những năm 1990. Cộng đồng người Hoa ở hải ngoại đổ tiền về quê hương khi nguồn vốn từ Đài Loan hay Hong Kong tìm kiếm các cơ hội đầu tư quay trở lại Trung Quốc, giúp đoàn tụ các gia đình ly tán.
Sự thịnh vượng mới nhanh chóng lan tỏa khắp mọi tầng lớp của xã hội Trung Quốc. Tiền xuất hiện ở cả những nơi khó ngờ nhất. Bạn có thể đặt chân đến một ngôi làng trồng chè ở miền nam và thấy chảo thu sóng vệ tinh kín trên mái nhà, hoặc bắt gặp một tòa nhà chọc trời đơn độc phủ đầy bụi giữa một thị trấn nằm giữa vùng sa mạc. “Bốn món đồ lớn” của những năm 1970 — biểu tượng của một gia đình khá giả — là đồng hồ, xe đạp, đài phát thanh và máy khâu. Đến những năm 1980, những thứ đó là máy ghi âm, TV màu, máy giặt và tủ lạnh; đến những năm 1990, lò vi sóng, máy phát video (VCR), xe hơi, máy tính và tủ đông trở thành những món đồ đắt giá.
Ở các quốc gia khác, sự bùng nổ kinh tế mang đến các hệ thống phúc lợi được phát triển cẩn thận, lương hưu hào phóng và chăm sóc sức khỏe toàn dân. Nhưng ở Trung Quốc cộng sản thì khắc nghiệt hơn nhiều. Nếu bạn bỏ học, không có tấm lưới an sinh nào ngoài gia đình đỡ lấy bạn, và mỗi khi có cơ hội, các bậc cha mẹ lại nhắc nhở con cái rằng chỉ có chúng chống lại cả thế giới. Các phúc lợi xã hội vẫn gắn liền với giấy phép cư trú (hộ khẩu): bạn có thể chuyển từ nông thôn ra thành phố, nhưng chúc may mắn trong việc xin cho con theo học các trường ở đó hoặc nhận được lương hưu của mình.
Một trong những món hời lớn nhất là việc tư nhân hóa nhà ở vào những năm 1990. Nếu bạn đủ may mắn được chia một phần bất động sản ở Bắc Kinh vào những năm 1980, bạn sẽ được sở hữu nó vào những năm 1990 và chứng kiến giá trị của nó tăng từ 15 đến 20 lần trong hai thập kỷ tiếp theo. Nếu bạn là nông dân, giống như phần lớn dân số cả nước, thì rất tiếc là không có may mắn như vậy.
Tuy nhiên, tăng trưởng có nghĩa là hy vọng — và rủi ro. Những “cô gái công xưởng” đổ xô vào các thành phố để tìm kiếm thứ gì đó tốt đẹp hơn những cánh đồng mà gia đình họ đã cày cuốc suốt hàng thế kỷ. Sinh viên tốt nghiệp đại học nhảy từ việc này sang việc khác, đôi khi bốn hay năm lần một năm, tin tưởng rằng điều gì đó tốt hơn sẽ đến. Những khối tài sản được tạo ra sau những cuộc gặp tình cờ trên những chuyến tàu. Cơ hội thì vô vàn và rất dễ để bỏ thất bại lại sau lưng; nếu bạn mở một nhà hàng thành công, tại sao không mở thêm 6 cái vào năm sau, rồi 60 cái, và sau đó là 600 cái?
Tiến bộ xuất hiện từ từ, chậm rãi, rồi sau đó ập đến bất ngờ. Tem phiếu vẫn tồn tại đến tận năm 1993, nhưng sang năm 1997, người Trung Quốc đã ăn nhiều thịt lợn tính theo đầu người hơn người Mỹ. Năm 1976, khi một trận động đất xảy ra ở Thành phố Đường Sơn vào lúc nửa đêm, việc các quan chức địa phương lái xe ba giờ đến Bắc Kinh để trực tiếp báo cáo với lãnh đạo đảng còn dễ hơn việc tìm một chiếc điện thoại bàn để gọi cho họ. Thậm chí đến năm 1986, việc tiếp cận với một chiếc điện thoại bàn — thường là thông qua một cơ quan nào đó — vẫn là một thứ hàng hóa quý giá, được dùng để trao đổi lấy các ân huệ.
Năm 1996, cứ 100 người thì có khoảng bốn đường dây điện thoại cố định, và phí lắp đặt bằng vài tháng lương. Nhưng đến năm 2006, thẻ SIM điện thoại di động được bán ở mọi góc phố, và học sinh-sinh viên dành hàng giờ trong quán net để chơi World of Warcraft. Đến năm 2016, một nửa đất nước đã cầm trên tay một chiếc điện thoại thông minh.
Hồi kết của những năm tháng hoàng kim cũng đến theo cách tương tự như những thay đổi công nghệ: chậm rãi và sau đó là đột ngột. Suốt những năm 2010, đà tăng trưởng chậm lại qua từng năm, từ mức 9,3% vào năm 2011 — đợt bùng nổ cuối cùng của làn sóng kích thích khổng lồ từ chính phủ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu — xuống chỉ còn hơn 6% vào năm 2019.
Thế rồi đại dịch COVID-19 xuất hiện. Lo sợ lặp lại những gì mà ông cho là sai lầm của gói kích thích năm 2009, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình quyết định thắt chặt hầu bao. Khoản hỗ trợ dành cho các hộ gia đình Trung Quốc là chẳng thấm vào đâu so với sự hào phóng của Mỹ; gần một phần tư số hộ gia đình nông thôn từng thoát khỏi tình trạng nghèo đói cùng cực vào những năm 2010 đã bị tái nghèo. Tăng trưởng năm 2020 chỉ đạt 2,2%, và việc kiên trì giữ vững chính sách “zero-COVID” đã khiến nền kinh tế rơi vào trì trệ suốt năm 2022, dù đã có một đợt phục hồi ngắn ngủi vào năm 2021. Số liệu dần có vẻ đáng ngờ ngay cả theo tiêu chuẩn của chính phủ Trung Quốc: năm 2023, tình trạng thất nghiệp ở thanh niên đạt mức cao đến nỗi cục thống kê đã ngừng hoàn toàn việc công bố số liệu này.
Điều đau đớn nhất là đại dịch đã làm vỡ bong bóng bất động sản. Năm 2019, giá bất động sản ở trung tâm Bắc Kinh ngang ngửa với Manhattan, trong khi tiền lương chỉ bằng khoảng một phần mười so với ở New York. Những hệ lụy từ sự sụp đổ của các công ty khổng lồ như Evergrande và Country Garden vẫn chưa bộc lộ hết; chính phủ tiếp tục chống đỡ mức giá danh nghĩa ngay cả khi doanh số sụt giảm. Khoảng 70% tài sản của các hộ gia đình Trung Quốc gắn liền với nhà ở, và việc để giá nhà giảm xuống mức thị trường thực tế sẽ là một cú sốc đối với tầng lớp trung lưu mà ĐCSTQ không thể gánh chịu.
Đối với giới lãnh đạo Trung Quốc, suy thoái vừa là vấn đề kinh tế, vừa là vấn đề chính trị. Kể từ khi kết thúc thời kỳ Mao, tính chính danh cho sự cai trị của ĐCSTQ dựa trên ba trụ cột: các tuyên bố ý thức hệ về sự ưu việt của chủ nghĩa xã hội, các tuyên bố mang tính lịch sử-dân tộc chủ nghĩa về việc rửa những mối nhục quá khứ và khôi phục vị thế toàn cầu của Trung Quốc, và các tuyên bố mang tính thực tiễn về tăng trưởng kinh tế cùng sự thịnh vượng sâu rộng.
Thành công kinh tế cho đến nay vẫn là nguồn chính danh mạnh mẽ nhất kể từ những năm 1990. Trong kỷ nguyên hậu Thiên An Môn, một thỏa thuận ngầm đã xuất hiện giữa ĐCSTQ và công chúng: đừng làm xáo trộn trật tự hiện tại, và cuộc sống tốt đẹp sẽ tiếp tục được duy trì. Kinh tế bấp bênh hơn đồng nghĩa với vị thế của đảng ít được bảo đảm hơn, buộc giới lãnh đạo phải đặt nhiều hy vọng hơn vào hai trụ cột còn lại — nhưng không phải lúc nào cũng thành công.
Khi đà tăng trưởng bắt đầu chậm lại, Tập quay sang thúc đẩy một hình thái chủ nghĩa dân tộc hung hăng hơn, gia tăng các yêu sách hàng hải của Trung Quốc và khuyến khích các nhà ngoại giao thể hiện lập trường kiểu “chiến lang” trên mạng. Các hành động này đã giảm dần trong kỷ nguyên hậu COVID, dù nhịp trống của “giáo dục ái quốc” — và việc phá hủy văn hóa thiểu số — vẫn tiếp diễn.
Những nỗ lực nhằm làm sống lại ý thức hệ Cộng sản giành được rất ít sự ủng hộ của công chúng. Tư tưởng Tập Cận Bình trở thành một nghĩa vụ tẻ nhạt, và những nỗ lực nhằm khuyến khích người trẻ xem trọng chủ nghĩa anh hùng Cộng sản là một thất bại triền miên. Tập luôn bảo vệ những câu chuyện đạo lý về các liệt sĩ vốn là nền tảng nuôi dưỡng thế hệ của ông, tống giam những người chỉ trích bằng cáo buộc đi theo “chủ nghĩa hư vô lịch sử,” nhưng ông lại chẳng thuyết phục được ai đi xem các bộ phim về Lôi Phong, một anh hùng thiếu niên thời Mao.
Phản ứng chính của Tập đối với sự kết thúc của những năm tháng hoàng kim là chiến dịch “thịnh vượng chung” — một nỗ lực thất bại, chỉ toàn những câu từ sáo rỗng của chủ nghĩa Cộng sản — nhằm ngăn chặn sự gia tăng bất bình đẳng kinh tế. Trong khi đó, kẻ thù ý thức hệ lớn nhất của ông là “chủ nghĩa phúc lợi,” thứ mà ông liên kết với sự suy đồi và lười biếng của phương Tây; ông yêu thích ngôn ngữ của sự khắc khổ, hy sinh và thắt lưng buộc bụng.
Nhưng vấn đề là để mô hình kinh tế của Trung Quốc thay đổi, tiêu dùng cần phải tăng lên — trái ngược với những năm tháng hoàng kim, khi tiêu dùng nội địa bị kìm hãm một cách có chủ đích. Dù ĐCSTQ đã biến điều này thành một ưu tiên chính thức, nhưng nó lại mâu thuẫn một cách khó chịu với những lời lẽ của chính Tập — và với những chiến dịch thường xuyên của chính phủ chống lại những thứ mà người dân muốn tiêu tiền vào, cho dù đó là giáo dục tư thục hay trò chơi điện tử. Những năm COVID đã củng cố niềm tin vào sự cần thiết của việc tiết kiệm cho những ngày tồi tệ, và cảm giác bất an mới về kinh tế chỉ càng khuyến khích điều đó mà thôi.
Ngoài ra, cứ mỗi năm trôi qua, Trung Quốc cũng tiến gần hơn đến việc rơi xuống vách đá nhân khẩu học. Nỗi sợ lớn nhất kể từ những năm 2000 là đất nước sẽ già đi trước khi kịp trở nên giàu có. Nếu chỉ có lực lượng lao động của những năm 1980 bước vào tuổi nghỉ hưu thì Trung Quốc có lẽ đã dễ đối phó hơn, nhưng tỷ lệ sinh cũng đã lao dốc; lần đầu tiên kể từ nạn đói tàn khốc năm 1959-1961, dân số Trung Quốc đã suy giảm vào năm 2022 và tiếp tục giảm qua mỗi năm kể từ đó. Dù chính phủ có cố gắng thuyết phục phụ nữ từ bỏ sự nghiệp để ủng hộ nghĩa vụ yêu nước là sinh đẻ đến đâu thì phụ nữ cũng không lắng nghe.
Không điều nào trong số này ngăn cản Trung Quốc trở thành một cường quốc làm rung chuyển thế giới. Ngay cả mức tăng trưởng 3 hay 4% ở một quốc gia có thu nhập trung bình tiên tiến về công nghệ với 1,4 tỷ dân cũng đủ sức làm thay đổi nhiều cuộc đời, từ những người di cư nông thôn vẫn đang đổ xô đến các đô thị của Trung Quốc, cho đến những người dân quê ở Kenya đang chạy những chiếc TV Haier và lò vi sóng mới toanh bằng các tấm pin mặt trời của Trung Quốc. Nhưng nếu bạn đã quen sống trong những năm tháng hoàng kim, thì những năm bình thường sẽ mang lại cảm giác u ám hơn rất nhiều — và tương lai cũng trở nên mờ mịt hơn đáng kể.
James Palmer là phó tổng biên tập của Foreign Policy.
