
Nguồn: Jay McVann, “The Three Nevers: To Invade Taiwan, China Would Have to Make Military History Thrice”, War on the Rocks, 01/07/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Cuộc đổ bộ xâm lược Normandy ngày 6/6/1944 vẫn là chiến dịch đổ bộ lớn nhất và phức tạp nhất trong lịch sử. Chỉ riêng ngày đầu tiên, quân Đồng minh đổ bộ tám sư đoàn, gồm năm sư đoàn tấn công đổ bộ và ba sư đoàn dù, tổng quân số khoảng 160.000 người. Lực lượng đó tăng hơn gấp đôi chỉ trong vài ngày.
Normandy chưa từng có tiền lệ về quy mô, nhưng không phải về bản chất. Một cuộc xâm lược Đài Loan sẽ đặt ra vấn đề ngược lại: cái chưa từng có không nằm ở quy mô hòn đảo, mà nằm ở các thách thức tác chiến. Phân tích về khả năng Trung Quốc xâm lược Đài Loan thường nhấn mạnh tốc độ hiện đại hóa của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) và khả năng gây bất ngờ chiến lược.
Nhưng tiền lệ tác chiến lại ít được chú ý hơn nhiều. Ba nhiệm vụ then chốt trong bất kỳ chiến dịch xuyên eo biển nào chưa từng được thực hiện thành công trong điều kiện đe dọa hiện đại: đổ bộ đường biển trước mối đe dọa tên lửa chống hạm từ bờ, tiến hành nhảy dù quy mô lớn trước hệ thống phòng không hiện đại, và tấn công đường không quy mô lớn có đối kháng ở phạm vi mở rộng. Nói cách khác, PLA sẽ phải làm nên lịch sử ba lần trong cùng một chiến dịch. Tôi gọi đây là “Tam bất khả” (Three Nevers), một lối chơi chữ cố ý ám chỉ các công thức giáo điều của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Thiếu tiền lệ không đồng nghĩa với bất khả thi. Các chiến dịch đổ bộ và đường không quy mô lớn rất hiếm kể từ Thế chiến II, đặc biệt trong kỷ nguyên tên lửa. Nhưng sự hiếm hoi đó có ý nghĩa quan trọng về mặt phân tích. Điểm quen thuộc: xâm lược sẽ rất khó khăn. Điểm sắc bén hơn: Đài Loan không cần đánh bại hoàn toàn lực lượng xâm lược, chỉ cần đủ năng lực còn sống sót để phá vỡ trình tự chiến dịch. Trong một chiến dịch xoay quanh thời gian eo hẹp và năng lực vận chuyển hạn chế, ngưỡng phá vỡ thấp hơn nhiều so với ngưỡng tiêu diệt. Trung Quốc phải điều quân, đổ bộ, tăng viện và duy trì lực lượng lộ diện dưới hỏa lực. Đài Loan chỉ cần phá vỡ trình tự đó.
Năng lực vận chuyển khiến vấn đề trở nên cụ thể hơn: Trung Quốc cần đưa đủ sức mạnh chiến đấu lên bờ trong những giờ đầu để ngăn đầu cầu bị cô lập trước khi lực lượng kế tiếp đến nơi. Điều đó khiến năng lực vận chuyển đổ bộ trở thành trọng tâm của chiến dịch. Nếu Trung Quốc không đáp ứng được ngưỡng đó trong các đợt đổ bộ đầu tiên, họ buộc phải chấp nhận một lực lượng đổ bộ mỏng yếu nguy hiểm hoặc bù đắp bằng các hoạt động đường không và tấn công đường không. Những giải pháp thay thế đó tạo ra điều bất khả thứ hai và thứ ba.
Tất cả những điều trên không có nghĩa một cuộc xâm lược là bất khả thi. Các nhà lãnh đạo chính trị có thể chấp nhận rủi ro tác chiến đáng kể, và PLA, với tư cách đội quân của đảng, sẽ thực hiện mệnh lệnh được giao. Nhưng việc thiếu kinh nghiệm chiến đấu thích hợp, từ cấp lính nghĩa vụ thấp nhất đến cấp lãnh đạo quân sự cao cấp còn lại của Quân ủy Trung ương, khiến những giả định này trở nên đặc biệt hệ trọng.
Tại sao năng lực vận chuyển thúc đẩy “Tam bất khả”
Trong bài viết “Mind the Gap”, Thomas Shugart ước tính Hải quân PLA có thể vận chuyển khoảng 21.000 quân cùng trang thiết bị của một lữ đoàn đổ bộ hạng nặng mỗi đợt. Các tàu RORO dân sự được cải tiến có thể nâng con số đó lên khoảng ba lữ đoàn. Con số có thể tăng thêm nếu tiếp cận được cảng và cầu cảng tạm thời, nhưng những cơ sở này sẽ không khả dụng cho đợt đổ bộ đầu tiên.
Một lực lượng đổ bộ ban đầu gồm ba lữ đoàn của Trung Quốc sẽ thiếu hụt quân số nghiêm trọng trước lực lượng mặt đất của Đài Loan. Quân đội Đài Loan có bảy lữ đoàn tác chiến hiệp đồng và duy trì 20 lữ đoàn bộ binh dự bị để tăng viện cho các đơn vị thường trực. Không phải tất cả đều khả dụng tại địa điểm đổ bộ, nhưng với số lượng bãi đổ bộ khả thi hạn chế, lực lượng phòng thủ không cần có mặt khắp nơi cùng lúc. Ba lữ đoàn vẫn thấp hơn nhiều so với tỷ lệ ba chọi một thường thấy trong các chiến dịch tấn công.
Vì năng lực vận chuyển đổ bộ hạn chế nhịp độ và khối lượng, PLA phải dựa vào hoạt động đổ bộ ba chiều để bù đắp. Thách thức là lực lượng đường không phải đối mặt với hệ thống phòng không hiện đại, trong khi lực lượng tấn công đường không phải tác chiến ở phạm vi cực xa. Năng lực vận chuyển không chỉ thúc đẩy điều bất khả thứ nhất mà còn tạo điều kiện cho điều bất khả thứ hai và thứ ba.
Đổ bộ dưới làn đạn
Chưa từng có cuộc đổ bộ đường biển nào đối mặt với mối đe dọa từ tên lửa hành trình phòng thủ bờ biển. Khi quân Đồng minh đổ bộ tại Normandy, mối đe dọa từ bờ xa nhất họ phải đối mặt là pháo bờ biển với tầm bắn tối đa khoảng 15 dặm. Tên lửa phòng thủ bờ biển của Đài Loan có tầm bắn từ 75 đến 93 dặm, với các biến thể tầm xa được cho là lên tới 250 dặm. Điều này có nghĩa lực lượng đổ bộ Trung Quốc sẽ nằm trong tầm bắn suốt hầu hết, nếu không muốn nói toàn bộ, hành trình vượt eo biển. Việc tiếp cận bãi biển trở thành một phần của cuộc chiến.
Một chiến dịch của Trung Quốc gần như chắc chắn sẽ tìm cách làm suy yếu các hệ thống này trước khi xâm lược. Nhưng áp chế không có nghĩa là tiêu diệt hoàn toàn. Phần lớn lực lượng tên lửa hành trình phòng thủ bờ biển của Đài Loan là cơ động, cho phép tận dụng môi trường đô thị và địa hình đồi núi để tránh bị phát hiện và tấn công lực lượng Trung Quốc với rất ít cảnh báo. Trong một chiến dịch có trình tự chặt chẽ như vậy, chỉ một khẩu đội tên lửa bờ biển còn sống sót cũng có thể tạo đủ hỏa lực để bẻ gãy cả một đợt đổ bộ.
Chiến tranh Lebanon năm 2006 là một ví dụ đáng suy ngẫm. Hezbollah phóng một tên lửa chống hạm gần Beirut, đánh trúng tàu hộ tống INS Hanit của Hải quân Israel. Gần đây hơn, lực lượng Mỹ chật vật vô hiệu hóa hoàn toàn năng lực tên lửa chống hạm của Houthi tại Yemen, bất chấp các cuộc không kích liên tục và giám sát không ngừng từ trên không. Hệ thống phòng thủ bờ biển của Đài Loan có năng lực hơn, cơ động hơn và ẩn sâu trong địa hình phức tạp hơn nhiều, khiến chúng rất khó bị xác định và tấn công.
Xung đột Falklands là một ví dụ khác. Argentina bắt đầu cuộc xung đột chỉ với năm tên lửa Exocet phóng từ trên không. Một quả trúng tàu khu trục phòng không hiện đại HMS Sheffield, khiến tàu này sau đó bị chìm. Hai quả khác nhắm vào tàu sân bay HMS Hermes nhưng lại trúng tàu thương mại dân sự SS Atlantic Conveyor. Con tàu chìm ba ngày sau, mang theo nhiều trực thăng và làm suy giảm đáng kể các chiến dịch trên bộ tiếp theo.
Sự tương đồng với hạm đội xâm lược Trung Quốc là rõ ràng. Lực lượng đổ bộ Trung Quốc sẽ dựa nhiều vào tàu RORO dân sự để vận chuyển sức mạnh chiến đấu qua eo biển. Như Mike Pietrucha lập luận, tàu dân sự được trưng dụng cho quân sự kém phù hợp cho tấn công đổ bộ. Thiết kế của chúng khiến vấn đề khó khắc phục bằng kỹ thuật: các khoang chở xe lớn, để hở với ít vách ngăn chống cháy trở nên cực kỳ nguy hiểm khi chất đầy nhiên liệu và đạn dược. Vào tháng 4/2021, một vụ hỏa hoạn trên tàu RORO hiện đại Zhong Hua Fu Qiang của Trung Quốc gây thiệt hại đáng kể trong thời bình, dù không có hành động nào của đối phương. Một cuộc tấn công tên lửa vào con tàu chất đầy khí tài chiến đấu sẽ còn thảm khốc hơn nhiều.
Khác với SS Atlantic Conveyor, mất một tàu RORO không chỉ làm phức tạp chiến dịch mà còn làm suy yếu toàn bộ một đợt đổ bộ. Một con tàu chở quân và trang thiết bị của gần hai tiểu đoàn, mỗi thân tàu bị mất là một con tàu ít đi để vận chuyển lực lượng trong các đợt tiếp theo. Trong môi trường năng lực vận chuyển hạn chế, sự tiêu hao không theo tuyến tính mà là cộng dồn.
Tên lửa hành trình phòng thủ bờ biển chỉ là một thành phần trong hệ thống phòng thủ của Đài Loan. Chúng được bổ sung bằng thủy lôi, tên lửa chống hạm phóng từ biển và không trung, cùng kho dự trữ ngày càng tăng các phương tiện không người lái trên không, trên mặt nước và dưới mặt nước, tất cả đều rẻ hơn và dễ sản xuất hơn các con tàu mà chúng nhắm tới. Tổng hợp lại, những năng lực này tạo ra một môi trường đe dọa đa tầng, làm phức tạp thêm bất kỳ nỗ lực di chuyển, đổ bộ và duy trì lực lượng nào qua eo biển.
Chiến dịch nhảy dù vào hệ thống phòng không hiện đại
Chưa từng có chiến dịch nhảy dù quy mô lớn nào đối mặt với hệ thống phòng không hiện đại. Vào ngày D-Day, lính dù Đồng minh đối mặt với pháo phòng không và súng máy, không phải tên lửa dẫn đường bằng radar hay hệ thống phòng không vác vai hiện đại. Ngay cả vậy, họ vẫn chịu tổn thất đáng kể và nhiều đợt thả quân bị phân tán.
Suy ngẫm về tổn thất của lính dù Đồng minh trong các chiến dịch Overlord, Market Garden và Varsity, nhà sử học quân sự John Keegan viết trong Six Armies in Normandy:
“Trong vòng vài năm, khi tên lửa phóng từ mặt đất và không trung được bổ sung vào danh sách kẻ thù của máy bay vận chuyển quân, không vị tướng nào dám cân nhắc điều các đội hình ồ ạt chống lại các vị trí đã chuẩn bị sẵn, và vai trò của lính dù sẽ suy giảm xuống chỉ còn là những kẻ xâm nhập bí mật”.
Vấn đề Keegan nhận diện chỉ ngày càng nghiêm trọng hơn, nhưng học thuyết PLA vẫn dựa vào tấn công đổ bộ đường không trong giai đoạn đầu của chiến dịch Đài Loan. Tài liệu của họ mô tả việc tích hợp lực lượng đổ bộ, đường không và tấn công đường không là một chiến dịch “đổ bộ ba chiều” nhằm tấn công trước khi quân phòng thủ có thể phản ứng hiệu quả. Như trình bày trong Science of Campaigns, lực lượng đường không dự định chiếm giữ địa hình then chốt, lợi dụng sự hỗn loạn và tăng tốc độ tấn công. Năng lực vận chuyển đường biển hạn chế khiến lực lượng đường không không chỉ là yếu tố hỗ trợ chiến thuật mà là phương tiện cần thiết để tăng cường sức mạnh chiến đấu cho đợt tấn công ban đầu.
Các máy bay vận tải lớn chở lính dù có khả năng phòng thủ và cơ động hạn chế. Chúng phải bay thấp và chậm dọc theo các tuyến đường tương tự khi tiếp cận khu vực thả quân. Các khu vực thả quân phù hợp rất khan hiếm trên địa hình phức tạp của Đài Loan.
Đài Loan triển khai hệ thống phòng không tích hợp hiện đại gồm radar cảnh báo sớm, tiêm kích và tên lửa đất đối không. Các cuộc tấn công của Trung Quốc sẽ nhắm vào việc áp chế các hệ thống phòng thủ này trước khi tiến hành đổ bộ đường không, nhưng những nỗ lực đó không giải quyết được mối đe dọa từ các hệ thống cơ động, vác vai. Đài Loan vận hành tên lửa phòng không vác vai Stinger do Mỹ cung cấp — hệ thống dẫn đường bằng hồng ngoại cực kỳ khó phát hiện hoặc chế áp và hoàn toàn phù hợp để tiêu diệt mục tiêu bay thấp, chậm. Chỉ vài chục quả cũng có thể gây tổn thất nghiêm trọng quanh số lượng hạn chế các khu vực thả quân khả thi ở Đài Loan.
Lời nguyền khoảng cách
Điều bất khả thứ ba ít mang tính chưa-từng-có theo kiểu phạm trù, mà là một sự kết hợp chưa từng có giữa khoảng cách, mức độ phơi bày, đối kháng và các quy luật vật lý. PLA sẽ dùng lực lượng tấn công đường không bằng trực thăng vì lý do tương tự như dùng lính dù: năng lực vận chuyển đường biển hạn chế để lại những lỗ hổng sức mạnh chiến đấu mà chỉ việc đổ quân theo chiều dọc mới lấp đầy đủ nhanh để tạo khác biệt. Giống lực lượng đường không, lực lượng tấn công đường không phụ thuộc vào nhiều máy bay bay thấp, chậm và số lượng hạn chế khu vực đổ bộ phù hợp.
Họ còn đối mặt một thách thức khác: tầm xa. Lực lượng tấn công đường không xuất phát từ Trung Quốc cần bay ít nhất 100 dặm để đến khu vực đổ bộ. Dù nằm trong tầm bay chuyển sân của nhiều loại trực thăng Trung Quốc, một kịch bản chiến đấu thực tế — với máy bay chở đầy trang bị chiến đấu, bay xâm nhập ở độ cao thấp để tránh phòng không, và thời gian đưa trang thiết bị, quân lên xuống — sẽ khiến nhiệm vụ khắt khe hơn nhiều. Đây là điều bất khả thứ ba: một cuộc tấn công đường không quy mô lớn, có đối kháng ở phạm vi mở rộng. Vấn đề không phải liệu trực thăng có bay xa được đến mức đó hay không, mà là liệu trực thăng chở khí tài chiến đấu nặng có thể làm điều đó ở quy mô lớn, ở độ cao thấp, chống lại quân phòng thủ đã chuẩn bị sẵn và vẫn đủ sức mang lại lực lượng cần thiết hay không. So sánh lịch sử gần nhất là cuộc tấn công đường không của Thủy quân lục chiến Mỹ vào Căn cứ Hoạt động Tiền phương Rhino ở Afghanistan năm 2001, nhưng khi đó lực lượng đặc nhiệm Hải quân đã có mặt trên mặt đất, khiến nhiệm vụ đó thực tế không bị đối kháng. Những chiếc trực thăng đó cũng dựa vào tiếp nhiên liệu trên không, năng lực mà Trung Quốc còn thiếu đối với trực thăng.
Trung Quốc có thể giảm nhẹ vấn đề tầm xa bằng cách phóng lực lượng tấn công đường không từ tàu đổ bộ tấn công lớp Yushen (Type 075). Phân tích gần đây từ Jamestown Foundation cho rằng Trung Quốc dự định dùng tàu đổ bộ tấn công của mình trong vai trò phản can thiệp thay vì hỗ trợ trực tiếp cho chiến dịch đổ bộ. Nếu vậy, lực lượng có khả năng giải quyết vấn đề đó nhất sẽ bị giữ lại khỏi chính chiến dịch nơi nó đóng vai trò quan trọng nhất.
Kết luận
Một cuộc xâm lược Đài Loan của Trung Quốc sẽ không xoay quanh một năng lực duy nhất. Nó đòi hỏi PLA thực hiện đồng thời nhiều chiến dịch phức tạp, không chiến dịch nào trong số đó từng có tiền lệ.
Các nhà phân tích thường xem xét ba thách thức này một cách riêng biệt, nhưng chúng có liên hệ với nhau. Những hạn chế về năng lực vận chuyển cũng chính là điều thúc đẩy sự phụ thuộc vào lực lượng đường không và tấn công đường không, vốn dễ bị tổn thương trong không phận bị tranh chấp và ở phạm vi cực xa. Đây không phải những thách thức độc lập. Chúng bắt nguồn từ cùng một vấn đề cơ bản: nhu cầu tạo đủ sức mạnh chiến đấu trên bờ trước khi Đài Loan có thể cô lập và đánh bại lực lượng đổ bộ.
Chỉ cần một khẩu đội tên lửa Đài Loan còn sống sót — bốn bệ phóng cơ động, mỗi bệ bốn tên lửa — cũng có thể bắn một loạt 16 tên lửa Hùng Phong III, chỉ là một phần nhỏ trong kho tên lửa chống hạm của Đài Loan. Một tàu vận tải đổ bộ cách bãi biển 24 dặm có chưa đầy một phút giữa lúc tên lửa phóng và lúc va chạm. Ngưỡng phá vỡ thấp hơn nhiều so với ngưỡng tiêu diệt: khẩu đội đó không cần đánh chìm cả hạm đội xâm lược, chỉ cần phá hủy đủ năng lực vận chuyển thiết yếu để bẻ gãy đợt đổ bộ. Mất một tàu RORO đồng nghĩa mất trang thiết bị của gần hai tiểu đoàn — tổn thất đối với lực lượng vốn đã mỏng yếu so với quân đội mặt đất Đài Loan. Tổn thất đó làm tăng áp lực buộc lực lượng đường không và tấn công đường không phải bù đắp, ngay cả khi các lực lượng này đang đối mặt với những mối đe dọa riêng từ tên lửa đất đối không, bao gồm Stinger vác vai. Thất bại ở một phần trong trình tự sẽ làm trầm trọng thêm các phần khác. Cơ hội thành công rất hẹp, và mỗi điều bất khả trong ba điều lại thu hẹp nó hơn nữa.
Không điều nào trong số này khiến một cuộc xâm lược trở nên không thể. Các nhà lãnh đạo chính trị có thể chấp nhận rủi ro tác chiến đáng kể để theo đuổi mục tiêu chiến lược, và PLA suy cho cùng là đội quân của đảng, sẽ thực hiện mệnh lệnh được giao. Cuộc xâm lược Ukraine của Nga vào tháng 2/2022, phát động bất chấp một quân đội không chuẩn bị sẵn sàng về hầu hết mọi phương diện, là một lời nhắc nhở gần đây.
Dù PLA phải đối mặt với nhiều thách thức nêu trên, lực lượng Đài Loan cũng vậy. Họ cùng chung tình trạng thiếu kinh nghiệm chiến đấu gần đây. Dưới sự tấn công liên tục, lực lượng của họ phải đối mặt với các vấn đề về khả năng sống sót, chỉ huy, nhắm mục tiêu, hậu cần và tinh thần. Nhưng lập luận này không đòi hỏi hệ thống phòng thủ của Đài Loan phải hoạt động hoàn hảo, chỉ cần đủ lực lượng còn sống sót để phá vỡ các chiến dịch đổ bộ của Trung Quốc.
Đài Loan và các đối tác nên đầu tư vào chính những năng lực khiến mỗi điều bất khả trở nên đắt đỏ hơn: nhiều tên lửa phòng thủ bờ biển hơn và hệ thống phòng không tầm thấp tốt hơn. Đây là câu trả lời trực tiếp cho vấn đề tác chiến mà Tam bất khả mô tả. Sự răn đe tốt nhất không phải niềm tin rằng Trung Quốc sẽ không bao giờ thử, mà là sự nghi ngờ của Bắc Kinh về khả năng thành công của bất kỳ nỗ lực nào.
Jay “McFly” McVann là sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ, hiện là Cố vấn Cấp cao của Hải quân và Giám đốc Chương trình Trung Quốc tại Đại học Tình báo Quốc gia. Ông có hơn hai thập kỷ kinh nghiệm trong lĩnh vực tình báo hải quân và là cựu giảng viên của chương trình TOPGUN.
Những quan điểm trong bài viết là của riêng tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đại học Tình báo Quốc gia, Hải quân Hoa Kỳ, Bộ Quốc phòng hay bất kỳ cơ quan nào khác của chính phủ Hoa Kỳ.
