
Nguồn: Marco Buti và Francesco Nicoli, “Europe’s New German Question”, Project Syndicate, 03/07/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Nhiều quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu (EU), trước nhất là Đức, mặc nhiên cho rằng việc tăng chi tiêu quốc phòng sẽ tự động tạo ra những năng lực cần thiết để bảo đảm an ninh cho châu Âu. Thế nhưng, nếu theo đuổi chính sách này một cách riêng lẻ, họ sẽ chỉ kéo dài tình trạng phân mảnh, lạc hậu của hệ thống quốc phòng, thứ vốn đã khiến họ phụ thuộc vào Mỹ trong hơn 70 năm qua – và thậm chí có thể tạo ra những rủi ro mới.
Trong lĩnh vực quốc phòng, châu Âu đang đối mặt với ba vấn đề cốt lõi: công nghệ lỗi thời, thiếu quy mô và quản trị kém hiệu quả. Cuộc chiến tại Ukraine làm nổi bật cả ba điểm yếu này. Khi Ukraine sử dụng những công nghệ sáng tạo và linh hoạt để chống lại kho vũ khí thông thường khổng lồ của Nga, những hạn chế từ các hệ thống cũ kỹ trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, châu Âu vẫn chưa tận dụng triệt để cơ hội mà cuộc chiến mang lại để thử nghiệm các hệ thống vũ khí mới, tăng quy mô sản xuất các loại vũ khí hiệu quả nhất, và chuyển hóa nỗ lực này thành tiến bộ trong việc củng cố các thể chế chung.
Nếu tình trạng phân mảnh về thể chế và thị trường vẫn tiếp diễn, việc tăng chi tiêu quốc phòng có thể trở nên không bền vững về mặt chính trị. Các nghiên cứu cho thấy sự ủng hộ của công chúng dành cho việc tái vũ trang sẽ mạnh mẽ hơn khi người dân coi đó là một phần của một dự án an ninh châu Âu đáng tin cậy. Họ sẵn sàng ủng hộ tăng chi phí quốc phòng, nhưng chỉ khi điều đó đi sau, chứ không phải đi trước, quá trình củng cố ở cấp độ châu Âu.
Sự ủng hộ của công chúng có thể giảm sút nếu các nguồn lực mới chỉ tạo ra tình trạng chồng chéo lãng phí, dễ dàng tránh được giữa các quốc gia, từ đó làm tăng tổng chi phí để khỏa lấp các lỗ hổng năng lực. Điều này sẽ đặt các chính phủ dưới áp lực ngày càng lớn trong việc tạo ra những lợi ích công nghiệp nội địa đủ lớn để biện minh cho việc tăng chi tiêu quốc phòng, vốn có thể làm tổn hại đến các chương trình phúc lợi xã hội, các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu và những khoản chi tiêu công thúc đẩy tăng trưởng đáng tin cậy hơn.
Tất nhiên, việc các nước châu Âu tăng chi tiêu sẽ tạo ra những kho vũ khí lớn hơn, dù hiệu quả đến đâu. Nhưng một châu Âu được vũ trang mạnh hơn chưa chắc đã là một châu Âu an toàn hơn. Chừng nào các quốc gia còn hành động chủ yếu thông qua hệ thống quốc phòng riêng lẻ, châu Âu vẫn rơi vào thế yếu về mặt chiến lược. Nếu các quốc gia lớn bị dẫn dắt bởi những đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc, nguy cơ về các động thái liều lĩnh hoặc những tính toán sai lầm thảm khốc sẽ tăng cao.
Chủ quyền thường được viện dẫn như một lý do để biện minh cho những hành động quốc phòng quốc gia thiếu phối hợp. Nhưng đây chỉ là một sự đánh lạc hướng. Rất nhiều năng lực quan trọng nhất cho quyền tự chủ chiến lược đều nằm ngoài tầm với của ngay cả những quốc gia châu Âu lớn nhất.
Do đó, các nước châu Âu có hai lựa chọn: hoặc giữ quyền kiểm soát việc mua sắm trong khi vẫn lệ thuộc vào Mỹ về các năng lực thiết yếu, hoặc hợp tác với các đối tác châu Âu để cùng xây dựng những năng lực đó. Việc gộp chung nhu cầu, phối hợp mua sắm và hợp nhất quy trình sản xuất có thể làm giảm quyền tự quyết của từng quốc gia đối với các hợp đồng đơn lẻ, nhưng lại nâng cao năng lực tự vệ của EU và do đó, nâng cao chủ quyền tập thể của khối.
Như chúng tôi đã từng lập luận, chỉ một Liên minh Quốc phòng châu Âu thực sự mới có thể đem lại an ninh chung trong dài hạn. Tuy nhiên, trong trung hạn, rất nhiều mục tiêu có thể đạt được thông qua các thỏa thuận và cam kết chính trị mà không cần can thiệp ở cấp độ hiệp ước.
Bước đầu tiên là tích hợp các khoản đầu tư quân sự vào một khuôn khổ châu Âu, nơi hạn chế sự chồng chéo và ưu đãi cho khả năng tương tác cũng như mua sắm chung giữa một số lượng đối tác lớn hơn so với yêu cầu hiện tại của công cụ tài chính Hỗ trợ An ninh cho châu Âu (SAFE). (Hiện tại, chỉ cần hai quốc gia cũng có thể tham gia “chương trình mua sắm chung” theo SAFE). Trong khuôn khổ này, cần phân biệt rõ giữa những khoản đầu tư chỉ nhằm duy trì các dây chuyền sản xuất quốc gia hiện có với những khoản đầu tư tạo ra các khí tài chung của châu Âu. Việc giành được sự ủng hộ chính trị cho mục tiêu thứ nhất có thể dễ dàng hơn, nhưng chính mục tiêu thứ hai mới là yếu tố tạo ra năng lực thực tế và giảm chi phí trên mỗi sản phẩm, khiến chúng trở nên sống còn đối với an ninh châu Âu.
Nếu không có một khuôn khổ cấp EU có khả năng chuyển đổi nguồn lực thành quy mô lớn, các năng lực quốc phòng của châu Âu sẽ vẫn bị giới hạn, bất kể chi tiêu bao nhiêu. Tuy nhiên, tình hình hiện tại cho thấy Đức đang có xu hướng tự làm một mình.
Nhờ việc được miễn trừ vĩnh viễn các khoản vay liên quan đến quốc phòng khỏi giới hạn nợ trong hiến pháp, cùng với cách diễn giải linh hoạt các quy định tài khóa của EU, khả năng chi tiêu quốc phòng của Đức là rất đáng nể. Theo tính toán của chúng tôi, khi quốc gia này đạt mục tiêu chi tiêu quốc phòng hàng năm là 200 tỷ Euro (229 tỷ USD) – dự kiến vào khoảng năm 2030 – con số đó sẽ chiếm khoảng một nửa tổng chi tiêu quốc phòng của toàn EU.
Với sức mạnh mua sắm bất đối xứng này, sự cám dỗ đối với Đức trong việc bỏ qua bộ máy điều phối chậm chạp của châu Âu là rất lớn. Quốc gia này đã rút khỏi các dự án chung mang tính bước ngoặt, như Hệ thống Chiến đấu Không quân Tương lai với Pháp, và hối hả mua các giải pháp quốc phòng sẵn có từ bên ngoài châu Âu. Cách tiếp cận này đe dọa sẽ làm rạn nứt nỗ lực quốc phòng chung từ bên trong.
Là nền kinh tế lớn nhất EU, Đức hiện đang đối mặt với một lựa chọn quen thuộc: hoặc hành động độc lập, hoặc đóng vai trò một nhà lãnh đạo ôn hòa. Nếu Đức chọn hướng tiếp cận đơn phương – và tệ hơn là truyền cảm hứng cho các nước khác làm theo – EU rất có thể vẫn sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ về các tài sản then chốt như thông tin liên lạc vệ tinh quỹ đạo thấp, hệ thống tình báo và mục tiêu, phòng thủ tên lửa đạn đạo, vũ khí hạt nhân và năng lực vận tải chiến lược. Đây là những hàng hóa công cộng thực sự của châu Âu, cần được tài trợ và triển khai ở cấp độ EU.
Giống như an ninh dài hạn của châu Âu, một giải pháp lâu dài cho “vấn đề Đức” mới này rất có thể nằm ở Liên minh Quốc phòng châu Âu. Khi Bức tường Berlin sụp đổ, Thủ tướng Đức Helmut Kohl, Tổng thống Pháp François Mitterrand và Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jacques Delors đã thành công trong việc neo giữ một nước Đức tái thống nhất vào châu Âu bằng cách triển khai đồng tiền chung. Ngày nay, chính một liên minh quốc phòng hoàn chỉnh mới phải đóng vai trò là chiếc neo tương tự.
Liệu Thủ tướng Friedrich Merz, Tổng thống Emmanuel Macron và Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen có thể hiện được tầm nhìn và ý chí chính trị như những người tiền nhiệm hay không vẫn còn là dấu hỏi. Nhưng thời gian không chờ đợi ai. Sang năm, các cuộc bầu cử tại nhiều quốc gia EU sẽ làm tăng “tỷ lệ chiết khấu chính trị” – xu hướng các nhà lãnh đạo ưu tiên những chính sách mang lại lợi ích hữu hình nhanh chóng – khiến những quyết định táo bạo, đặc biệt là về quốc phòng, trở nên khó khăn hơn.
Marco Buti là Chủ tịch tại Trung tâm Robert Schuman thuộc Viện Đại học châu Âu và là nghiên cứu viên không thường trực tại Bruegel.
Francesco Nicoli là Phó Giáo sư Khoa học Chính trị tại Học viện Bách khoa Turin, hiện là Giáo sư Kinh tế Chính trị tại Đại học Ghent và là nghiên cứu viên liên kết tại khoa kinh tế của Đại học Amsterdam.
