
Nguồn: Alexandra de Hoop Scheffer, “Trans-Atlanticism Isn’t Dead—It’s Being Renegotiated,” Foreign Policy, 01/07/2026
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Những báo cáo về sự sụp đổ của NATO đã bị phóng đại quá mức.
Cáo phó cho chủ nghĩa xuyên Đại Tây Dương có lẽ đã được viết quá sớm. Dù đúng là chính quyền Trump đã làm rung chuyển sâu sắc quan hệ Mỹ-châu Âu, nhưng bài tiểu luận gần đây của Nathalie Tocci trên tạp chí Foreign Policy – trong đó cho rằng chủ nghĩa xuyên Đại Tây Dương với tư cách là một lực lượng hoạt động và hiện hữu nay đã không còn – đã nhầm lẫn giữa một cuộc chuyển đổi cần thiết với một chẩn đoán giai đoạn cuối. Bằng chứng không chỉ ra sự kết thúc của liên minh xuyên Đại Tây Dương, mà là sự xuất hiện của một quan hệ đối tác đòi hỏi khắt khe hơn và cuối cùng là bền vững hơn, đánh dấu sự trỗi dậy vốn bị trì hoãn từ lâu của châu Âu như một thực thể trưởng thành về mặt địa chính trị.
Lập luận về sự sụp đổ của chủ nghĩa xuyên Đại Tây Dương dựa trên tuyên bố rằng nó không thể tách rời khỏi trật tự quốc tế tự do, thứ cũng đã sụp đổ. Nhưng chủ nghĩa xuyên Đại Tây Dương chưa bao giờ chỉ là một dự án về các giá trị. Nó đã – và vẫn đang là – sự hội tụ của các lợi ích về an ninh, kinh tế, và công nghệ giữa hai khu vực mà khi gộp lại chiếm khoảng 43% GDP toàn cầu và tạo thành liên minh quân sự có năng lực nhất thế giới.
Trong bài luận mang tính bước ngoặt năm 1997 của mình, “Why Alliances Endure or Collapse” (Tại sao các liên minh tồn tại hay sụp đổ?), Stephen M. Walt đã đưa ra một quan điểm cốt lõi: các liên minh tồn tại không chỉ vì những giá trị chung mà vì các thành viên nhận thấy có một mối đe dọa chung và lợi ích của họ được phục vụ tốt hơn khi đồng hành cùng nhau thay vì chia tách. Ngày nay, các giá trị chung và sự liên kết chiến lược đang được thử thách cùng một lúc, và những khác biệt cũng trở nên sâu sắc hơn. Về các giá trị, sự ủng hộ công khai của Tổng thống Mỹ Donald Trump đối với các phong trào cực hữu trên khắp châu Âu rõ ràng là một mâu thuẫn: các đảng mà chính quyền của ông ủng hộ lại phản đối chính những kỳ vọng mà Washington đặt ra cho các đồng minh châu Âu, bao gồm chi tiêu quốc phòng cao hơn, giảm thiểu rủi ro từ công nghệ và chuỗi cung ứng của Trung Quốc, cũng như duy trì áp lực trừng phạt đối với Moscow. Về lợi ích, người châu Âu xem Nga là mối đe dọa sống còn đối với an ninh lâu dài của họ, trong khi Washington xem Trung Quốc mới là đối thủ sống còn của mình. Về quản trị công nghệ, chủ quyền dữ liệu, biến đổi khí hậu, và thương mại, cách tiếp cận giữa hai bờ Đại Tây Dương cũng ngày càng phân hóa.
Điều này đòi hỏi những cuộc thảo luận thẳng thắn và liên tục – những cuộc trò chuyện mà Mỹ và châu Âu đã lảng tránh quá lâu. Thay vào đó, họ thích dùng những ngôn từ êm tai về các giá trị chung để che đậy những khác biệt trong nhận thức về mối đe dọa và lợi ích, thay vì đối mặt trực tiếp với việc lợi ích của họ hội tụ ở đâu, khác biệt ở đâu, và mỗi bên thực sự cần gì ở bên kia.
Walt cũng xác định các điều kiện dẫn đến sự rạn nứt của các liên minh: việc chia sẻ gánh nặng bất đối xứng rõ rệt, tình trạng hưởng lợi miễn phí được xem là đặc điểm cơ cấu chứ không phải tạm thời, và chính trị trong nước lôi kéo các thành viên theo những hướng không tương thích với nhau. Cả ba vết nứt này đều đang xuyên suốt quan hệ xuyên Đại Tây Dương ngày nay. Không một quốc gia lớn nào ở châu Âu thoát khỏi sự trỗi dậy của phe cực hữu. Cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu năm 2024 đã mang lại những thắng lợi lịch sử cho các đảng theo chủ nghĩa dân tộc. Cuộc bầu cử liên bang Đức năm 2025 chứng kiến đảng cực hữu Lựa chọn Thay thế cho Nước Đức (AfD) trở thành đảng lớn thứ hai. Cuộc bầu cử tổng thống Pháp năm 2027 đang hiện ra như một phép thử mang tính hệ quả lớn nhất từ trước đến nay, với tỷ lệ ủng hộ phe cực hữu bám đuổi quyết liệt. Các liên minh được duy trì bởi các chính phủ có tính chính danh để cùng nhau đưa ra những quyết định khó khăn, và sự phân cực trong nước xói mòn chính năng lực đó.
Phản ứng của châu Âu đối với các chính sách của Trump không phải là rút lui hay cam chịu. Đó là một sự huy động chưa từng có tiền lệ. Vào năm 2025, các quốc gia thành viên NATO ở châu Âu và Canada đã cùng nhau tăng chi tiêu quốc phòng 20% theo giá trị thực để đạt tổng cộng 574 tỷ USD, mức tăng trong một năm lớn nhất trong lịch sử liên minh. Lần đầu tiên kể từ khi cam kết vào năm 2014 sẽ chi ít nhất 2% GDP cho quốc phòng, tất cả 32 đồng minh NATO đều đang thực hiện điều đó. Đức đã phá vỡ rào cản nợ hiến định của mình để đầu tư 114 tỷ USD vào quốc phòng. Ba Lan đang trên đà chi 5% GDP. Na Uy hiện vượt Mỹ về chi tiêu quốc phòng bình quân đầu người. Sự bùng nổ chi tiêu này có tồn tại qua các chu kỳ bầu cử tiếp theo hay không chính là điều khiến bước tiến của phe cực hữu mang lại những hệ quả lớn đến vậy.
Một số người có thể xem các sự kiện trong 18 tháng qua là một sự rạn nứt, nhưng thực ra, chúng là dấu hiệu của sự trưởng thành về địa chính trị – sự kết thúc của một phản xạ xuyên Đại Tây Dương vốn đã tồn tại kể từ khi thành lập NATO. Sự phụ thuộc chiến lược của châu Âu vào Washington từ lâu đã là một lựa chọn, đồng thời cũng là một điều cần thiết. Hai nhiệm kỳ của Trump đã làm rõ rằng thỏa thuận xuyên Đại Tây Dương cũ – vốn được xây dựng trên sự phụ thuộc bất đối xứng và mặc định vị thế tối thượng của Mỹ trong nền an ninh châu Âu – sẽ không bao giờ có thể tồn tại nguyên vẹn qua thế kỷ 21. Quá trình đó phải dẫn đến một châu Âu tự chịu trách nhiệm về an ninh của chính mình, xây dựng năng lực công nghiệp của riêng mình, và tương tác với Washington bằng sức nặng chiến lược, chứ không phải sự phục tùng.
Tocci đã đúng khi cho rằng Tổng thống Mỹ Joe Biden có lẽ là Tổng thống Mỹ cuối cùng mang bản năng của một người theo chủ nghĩa Đại Tây Dương về mặt cảm xúc. Nhưng khi gác lại yếu tố cảm xúc, ta sẽ thấy nhiều chính sách của ông đã làm suy yếu các lợi ích chiến lược và kinh tế của châu Âu. Về an ninh, cuộc rút quân hỗn loạn khỏi Afghanistan năm 2021 đã được thực hiện mà không tham vấn các đồng minh châu Âu, gồm Anh và Đức, những nước đang hỗ trợ sứ mệnh của Mỹ tại đó. Về thương mại, Đạo luật Giảm Lạm phát của Biden áp đặt các quy tắc bảo hộ gây bất ổn nghiêm trọng đối với ngành công nghiệp châu Âu, và ông vẫn duy trì logic cốt lõi của thuế quan thép và nhôm theo Mục 232 đối với hàng xuất khẩu của Liên minh châu Âu đến tận cuối nhiệm kỳ.
Chính quyền Obama đã bắt đầu báo hiệu hướng đi này. Trong bài phát biểu chia tay với tư cách Bộ trưởng Quốc phòng năm 2011, Robert Gates đưa ra một lời cảnh báo mà giờ đây ứng nghiệm như một lời tiên tri: “Có một thực tế phũ phàng là sẽ ngày càng có ít sự mặn mà và kiên nhẫn trong Quốc hội Mỹ … trong việc tiêu tốn những khoản ngân sách ngày càng quý giá thay cho các quốc gia dường như không sẵn lòng cống hiến các nguồn lực cần thiết, hoặc thực hiện những thay đổi cần thiết để trở thành những đối tác nghiêm túc và có năng lực trong nền quốc phòng của chính họ.” Gates từng cảnh báo về một “liên minh hai tầng” và lưu ý rằng các nhà lãnh đạo tương lai “có thể không xem lợi tức từ khoản đầu tư của Mỹ vào NATO là xứng đáng với chi phí bỏ ra.” Hai nhiệm kỳ của chính quyền Trump cuối cùng đã buộc người ta phải nhìn nhận rằng các đồng minh không thể tiếp tục bấm nút hoãn báo thức để ngủ vùi thêm nữa.
Vì vậy, tương lai của quan hệ này không thể dựa vào sự gắn bó tình cảm của các nhà lãnh đạo cá nhân. Nó phải dựa trên sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt cơ cấu, điều đang ngày càng sâu sắc hơn. Bất chấp những đợt tăng thuế sâu rộng của Mỹ vào năm 2025, 7,4 nghìn tỷ USD vốn đầu tư xuyên Đại Tây Dương và gần 2 nghìn tỷ USD thương mại hàng năm phản ánh một quan hệ vô song không có dấu hiệu suy giảm. Các công ty quốc phòng Mỹ đang định vị mình một cách mạnh mẽ tại một thị trường châu Âu có thể đạt giá trị khoảng 1,14 nghìn tỷ USD vào năm 2035. Việc phô trương sức mạnh toàn cầu của quân đội Mỹ cũng phụ thuộc vào các căn cứ ở châu Âu, khả năng tiếp cận Địa Trung Hải, và cơ sở hạ tầng hậu cần của châu Âu.
Hội nghị thượng đỉnh NATO tại Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ, chính là thời điểm để xác định sự phụ thuộc lẫn nhau này thể hiện như thế nào trên thực tế. Cuộc gặp sẽ kiểm chứng xem các nhà lãnh đạo châu Âu có thể thực hiện các bước đi cần thiết tiếp theo hay không. Bốn điều sau đây phải xảy ra.
Thứ nhất, châu Âu khẩn trương cần cải tổ cấu trúc mua sắm quốc phòng của mình. Các quốc gia thành viên EU ước tính đã đầu tư 447 tỷ USD vào quốc phòng trong năm 2025. Nhưng bộ máy quản lý chi tiêu thực tế vẫn còn manh mún, chậm chạp, và bị thâu tóm bởi các doanh nghiệp hàng đầu ở từng quốc gia. Quy trình mua sắm chung, các tiêu chuẩn ràng buộc về khả năng tương tác, và các mốc thời gian mua sắm được đẩy nhanh triệt để chính là những yếu tố giúp sức mạnh nhân lên, chứ không phải là những tinh chỉnh về mặt hành chính.
Thứ hai, Washington phải ngừng xem quyền tự chủ hoạt động của châu Âu là một mối đe dọa. Phản xạ viện dẫn các tiêu chí “không trùng lặp, không phân biệt đối xử, không tách rời” như một cái cớ để ngăn cản sự hợp nhất công nghiệp của châu Âu là lợi bất cập hại về mặt chiến lược. Cơ sở quốc phòng châu Âu vững mạnh hơn là một tài sản đối với NATO, chứ không phải là một mối đe dọa. Mục tiêu là sự bổ sung về mặt chiến lược, chứ không phải là sự thay thế.
Thứ ba, hội nghị thượng đỉnh Ankara nên chính thức hóa các điều khoản mới về chia sẻ trách nhiệm xuyên Đại Tây Dương: châu Âu làm chủ lực lượng phòng thủ thông thường trên lục địa – lực lượng mặt đất, phòng thủ lãnh thổ, hậu cần, và phòng không tầm ngắn – cùng với cam kết của Mỹ trong việc cung cấp các năng lực hỗ trợ chiến lược, như năng lực tấn công tầm xa; tình báo, giám sát, và trinh sát; các tài sản hàng hải cao cấp; và răn đe hạt nhân. Học thuyết răn đe tiền phương đang nổi lên của Pháp nên được hiểu là một sự bổ sung cho chiếc ô hạt nhân của Mỹ, chứ không phải là một sự thay thế.
Thứ tư, hội nghị thượng đỉnh nên khởi động một hiệp ước công nghệ quốc phòng xuyên Đại Tây Dương. Một khuôn khổ chính thức, được đàm phán tại Ankara và thiết kế thông qua NATO, nhằm hợp tác phát triển, chuyển giao công nghệ, và đồng sản xuất trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, các hệ thống tự hành và năng lực không gian mạng, sẽ biến các tài sản công nghiệp của liên minh thành một tác nhân tăng cường sức mạnh thực sự. Nó cũng sẽ gửi một tín hiệu rõ ràng tới Bắc Kinh rằng cuộc cạnh tranh công nghệ không phải là nơi Trung Quốc mặc nhiên giành chiến thắng. Lực lượng đặc nhiệm mới về quốc phòng và công nghệ của Quỹ Marshall Đức của Mỹ được thiết kế ra chính xác để giúp phát triển một hiệp ước như vậy.
Các đồng minh châu Âu và Canada giờ đây sẽ phải thực hiện ba việc cùng một lúc. Thứ nhất, họ phải tiếp tục hợp tác với Mỹ ở những nơi có sự hội tụ lợi ích – về vấn đề răn đe ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, quản trị AI, cạnh tranh công nghệ với Trung Quốc, và phòng thủ không gian Âu-Đại Tây Dương. Thứ hai, họ cũng phải chuẩn bị sẵn sàng hành động với ít, hoặc không có sự hỗ trợ từ Mỹ trong những lĩnh vực có sự khác biệt về lợi ích – về chính sách khí hậu và thương mại, trong việc tham gia vào các thể chế đa phương, và trong việc quản lý các cuộc khủng hoảng ở khu vực láng giềng mà Washington ít quan tâm giải quyết. Thứ ba, họ cũng phải làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác với các cường quốc khác như một chiến lược phòng bị nước đôi và đa dạng hóa có chủ đích – hợp tác với các quốc gia Vùng Vịnh và các bên liên quan trong khu vực về an ninh năng lượng và ổn định khủng hoảng; củng cố hợp tác công nghiệp quốc phòng với Nhật Bản, Hàn Quốc, và Australia theo các khuôn khổ tiểu đa phương đang nổi lên; và thu hút các cường quốc mới nổi tham gia vào quản trị công nghệ, phát triển, và khí hậu ở những nơi mà chỉ riêng sự phối hợp xuyên Đại Tây Dương là không đủ.
Chủ nghĩa xuyên Đại Tây Dương không hề kết thúc. Nó đang được đàm phán lại dựa trên các điều khoản được tái cân bằng và bền vững hơn. Cuộc đàm phán lại này rất đau đớn, nhưng nó đáng lẽ phải diễn ra từ lâu rồi. Thách thức trọng tâm nằm ở việc sắp xếp trình tự, đảm bảo quá trình chuyển đổi không phá vỡ các lợi ích chiến lược lâu dài của Mỹ và châu Âu, cũng không làm suy giảm khả năng răn đe tổng thể, đặc biệt khi đối mặt với các cuộc khủng hoảng địa chính trị hiện tại vốn đòi hỏi khả năng phối hợp, lập kế hoạch, và dự báo. Quản lý được trình tự đó chính là điều sẽ giữ cho quan hệ xuyên Đại Tây Dương duy trì được chức năng và luôn hướng về phía trước. Liên minh mới xuất hiện sẽ trông khác so với liên minh được xây dựng vào năm 1949, nhưng nó sẽ phù hợp hơn với thế giới đang thực sự tồn tại.
Alexandra de Hoop Scheffer là chủ tịch Quỹ Marshall Đức của Mỹ và là cựu cố vấn cho chính phủ Pháp.
