
Nguồn: Logan Wright, “China’s Moment of Weakness”, Foreign Affairs, 23/07/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Thách thức từ Trung Quốc mà Mỹ đang phải đối mặt thường được mô tả là vô cùng to lớn và mang tính sinh tử, bao trùm mọi lĩnh vực, từ hoạch định quân sự, chính sách công nghệ cho đến việc cấp thị thực cho sinh viên. Thế nhưng, trong khi các nhà hoạch định chính sách ở Washington và giới chuyên gia công nghệ tại Thung lũng Silicon vẫn đang tranh luận về cách ứng phó, các điều kiện kinh tế ngay tại Trung Quốc đã thay đổi với tốc độ chóng mặt. Trên thực tế, mối đe dọa chiến lược từ Bắc Kinh hiện nay đã hoàn toàn khác so với những gì Mỹ và các đồng minh phải đối mặt chỉ bốn năm trước. Quan trọng hơn, sự thay đổi này đang mở ra cho nước Mỹ một cơ hội cấp bách nhưng có ý nghĩa quyết định.
Trong cục diện chiến lược hiện nay, nhiều nhà phân tích đã bỏ qua một thực tế rằng các công cụ chính sách mà Bắc Kinh sử dụng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đã thực sự lâm vào bế tắc. Trung Quốc không phải đang đứng trước một cuộc khủng hoảng hay sự sụp đổ kinh tế, mà đang chứng kiến sự suy giảm dần dần về năng lực tác động đến nền kinh tế thông qua hệ thống tài chính và tài khóa. Sau nhiều năm đầu tư kém hiệu quả và tích tụ hàng nghìn tỷ USD nợ xấu, Trung Quốc không còn khả năng tạo ra sức mua nội địa bền vững từ các hộ gia đình hay doanh nghiệp, và phải hoàn toàn phụ thuộc vào xuất khẩu để duy trì tăng trưởng. Năm ngoái, bất chấp cuộc chiến thương mại dưới thời chính quyền Trump, Trung Quốc vẫn đạt mức thặng dư thương mại toàn cầu cao nhất từ trước đến nay, lên tới 1.200 tỷ USD, nhờ xuất khẩu lượng hàng hóa trị giá khoảng 3.800 tỷ USD, tăng 5,5% so với năm trước. Trong khi đó, các lĩnh vực còn lại của nền kinh tế Trung Quốc đã chững lại đáng kể kể từ năm 2022, trong bối cảnh thị trường bất động sản sụp đổ và Bắc Kinh áp dụng các biện pháp hạn chế COVID-19 quá mức nghiêm ngặt.
Đây đều là những biểu hiện của cùng một hiện tượng: sự giảm tốc của nền kinh tế trong nước chính là động lực cốt lõi đằng sau sức mạnh xuất khẩu của Trung Quốc, bởi sức mua nội địa yếu buộc lượng hàng hóa dư thừa phải được đẩy ra nước ngoài với giá rẻ hơn. Ngay cả khi sử dụng các số liệu chính thức của Bắc Kinh, vốn có xu hướng làm nhẹ mức độ suy giảm, tỷ trọng đóng góp của Trung Quốc vào nền kinh tế toàn cầu đã đạt đỉnh vào năm 2021, ở mức 18,5% GDP thế giới, rồi liên tục đi xuống kể từ đó. Các số liệu mới nhất của Bắc Kinh ngầm cho thấy nước này hiện chiếm khoảng 16,7% nền kinh tế toàn cầu, dù con số thực tế có lẽ chỉ quanh mức 15%. Ngược lại, Mỹ hiện chiếm khoảng 26% GDP toàn cầu, tăng từ mức 24% vào năm 2021. Không chỉ gần như không còn khả năng Trung Quốc vượt Mỹ để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới, mà lợi thế về sức mạnh kinh tế của Mỹ nhiều khả năng còn tiếp tục gia tăng trong thập kỷ tới.
Hệ quả là Mỹ không còn phải đối mặt với một cuộc cạnh tranh kinh tế mang tính hệ thống và kéo dài với Trung Quốc, trong khi vị thế chiến lược của Bắc Kinh đã suy yếu đáng kể. Để duy trì bất kỳ mức tăng trưởng nào, Bắc Kinh buộc phải đặt ưu tiên tuyệt đối vào việc giữ cho các thị trường xuất khẩu tiếp tục mở cửa. Điều này lý giải phần lớn các hoạt động ngoại giao của Trung Quốc trong hai năm qua, cả với chính quyền Trump lẫn các nhà lãnh đạo châu Âu. Những hệ lụy của việc xuất khẩu suy yếu đối với Bắc Kinh hiện lớn hơn rất nhiều so với bốn năm trước, bao gồm giảm phát trong nước, gánh nặng nợ doanh nghiệp gia tăng, đồng nội tệ suy yếu, dòng vốn chảy ra ngoài, bất ổn tài chính và nguy cơ trải qua một thập kỷ mất mát tương tự Nhật Bản trong những năm 1990. Áp lực ngày càng lớn đối với nền kinh tế cũng sẽ khiến Trung Quốc gặp khó khăn trong việc tiếp tục hiện đại hóa quân đội và duy trì đổi mới công nghệ. Mặc dù ngân sách vẫn có thể được ưu tiên cho những nỗ lực này, tổng nguồn lực tài chính của Trung Quốc đang trên đà suy giảm.
Chính tại đây ẩn chứa cả tính cấp bách lẫn cơ hội đối với nước Mỹ. Nền tảng công nghiệp ấn tượng đã giúp Trung Quốc kiểm soát các điểm nghẽn trong một số chuỗi cung ứng và các đầu vào trung gian thiết yếu. Trên thực tế, nước này từng vũ khí hóa quyền kiểm soát đất hiếm, gây ra những tác động đáng báo động đối với thế giới công nghiệp phát triển. Sự suy thoái kinh tế trong nước đang làm mối đe dọa này trở nên nghiêm trọng hơn: khi khó khăn kinh tế tiếp tục đẩy giá xuất khẩu xuống thấp và buộc các doanh nghiệp phải mở rộng ra nước ngoài để tìm kiếm lợi nhuận, Trung Quốc sẽ làm xói mòn nền tảng công nghiệp ở những nơi khác, trong đó có Mỹ và các đồng minh. Nếu các quốc gia đánh mất những nền tảng công nghiệp cần thiết để bảo vệ lợi ích kinh tế và an ninh của chính mình, Bắc Kinh sẽ có thêm nhiều cơ hội vũ khí hóa các điểm yếu trong chuỗi cung ứng trong tương lai. Khi đó, thế giới có thể chứng kiến những kịch bản tương tự việc Bắc Kinh hạn chế xuất khẩu đất hiếm lan sang các linh kiện công nghiệp khác, thậm chí cả hàng tiêu dùng.
Dù vậy, cơ hội nằm ở chỗ đã có một lời giải rõ ràng và được công chúng ủng hộ trước sức ép thoái vốn từ Bắc Kinh: đầu tư mới vào các nền kinh tế phát triển. Nếu phương Tây có thể khôi phục khả năng chống chịu của nền công nghiệp thông qua các biện pháp phòng vệ thương mại có mục tiêu, đáng tin cậy, cùng những khoản đầu tư mạnh mẽ vào các ngành công nghiệp trong nước, Bắc Kinh sẽ rơi vào một thế gọng kìm ngày càng siết chặt. Trong bối cảnh nhu cầu nội địa của Trung Quốc yếu ớt, các rào cản thương mại và đầu tư ngày càng lớn từ phương Tây sẽ nhanh chóng bào mòn vị thế chiến lược của nước này. Các điều kiện kinh tế vĩ mô ở Trung Quốc đã làm thay đổi hoàn toàn bản chất của cuộc cạnh tranh chiến lược. Vì vậy, nếu Mỹ cũng điều chỉnh cách tiếp cận, nước này hoàn toàn có thể ngăn chặn và giảm thiểu các mối đe dọa kinh tế và an ninh từ Bắc Kinh trong tương lai.
LẦN NÀY ĐÃ KHÁC XƯA
Hầu hết các phân tích về quỹ đạo phát triển dài hạn của Trung Quốc đều được nhìn qua lăng kính chính trị. Những bước tiến của Bắc Kinh thường được đánh giá dựa trên các mục tiêu và chỉ tiêu đề ra trong những kế hoạch chính sách công nghiệp dài hạn, chẳng hạn kế hoạch “Sản xuất tại Trung Quốc 2025”, nhằm củng cố năng lực nội địa của nước này trong các lĩnh vực then chốt. Cách tiếp cận đó đã mang lại những kết quả ấn tượng. Chẳng hạn, Trung Quốc đã hoàn thành phần lớn những gì nước này đặt ra khi công bố kế hoạch vào năm 2015, qua đó củng cố quan điểm rằng năng lực lập kế hoạch tập trung và dài hạn mang lại cho Bắc Kinh những lợi thế độc nhất.
Thế nhưng, việc xem xét quỹ đạo phát triển của đất nước này thông qua hệ thống tài chính lại hé lộ một bức tranh hoàn toàn khác. Các nhà hoạch định chính sách thường tỏ ra vô cùng năng lực và có tầm nhìn xa trong những giai đoạn tín dụng mở rộng, nhưng lại trở nên phòng thủ hơn nhiều khi tín dụng bị thu hẹp. Bắc Kinh tác động đến các kết quả kinh tế bằng cách điều hướng dòng tín dụng trong toàn bộ hệ thống tài chính và phân bổ đầu tư thông qua các doanh nghiệp thuộc sở hữu của chính quyền địa phương. Nếu những công cụ chính sách này bị suy yếu hoặc trở nên kém hiệu quả, khả năng kiểm soát nền kinh tế trong nước của Bắc Kinh sẽ giảm sút nghiêm trọng.
Từ năm 2008 đến năm 2017, các ngân hàng Trung Quốc đã bơm ra lượng tín dụng tương đương một phần ba GDP toàn cầu, tức khoảng 27 nghìn tỷ USD tài sản ngân hàng mới. Không quốc gia nào khác trong thế kỷ qua thậm chí tiến gần đến tốc độ tăng trưởng tín dụng đó. Sau sự đổ vỡ tất yếu, khi nhiều khoản vay đến hạn nhưng không thể đảo nợ, Trung Quốc ngày nay không còn khả năng chi phối các kết quả kinh tế thông qua những kế hoạch dài hạn như trong thập kỷ trước. Các dòng tín dụng từng chắp cánh cho những mục tiêu chính trị của Bắc Kinh, còn sự thiếu vắng tăng trưởng tín dụng hiện nay lại đang kìm hãm chính những mục tiêu đó.
Đây là một sự thay đổi sâu sắc. Mới vào năm 2021, vẫn còn cơ sở thực tế để cho rằng Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Khi ấy, các nhà kinh tế và chuyên gia phân tích ngân hàng còn tranh luận về thời điểm GDP Trung Quốc sẽ vượt Mỹ nếu tính theo USD danh nghĩa, và nhiều người tin rằng điều đó có thể xảy ra sớm nhất vào năm 2026. Tuy nhiên, kể từ cuối năm 2021, theo các số liệu chính thức, GDP của Mỹ đã tăng 28% tính theo USD, trong khi GDP của Trung Quốc chỉ tăng 21% tính theo đồng nhân dân tệ và 11% tính theo USD.
Có đầy đủ lý do để hoài nghi các số liệu chính thức của Bắc Kinh. Năm 2022, Trung Quốc tuyên bố nền kinh tế tăng trưởng thực tế 3%, ngay cả khi các chính sách COVID-19 hạn chế nghiêm trọng việc đi lại của người dân và thị trường bất động sản, lĩnh vực từng chiếm khoảng một phần tư nền kinh tế Trung Quốc ở thời kỳ đỉnh cao, đã sụp đổ. Phân tích của nhóm nghiên cứu chúng tôi tại Rhodium Group cho thấy tăng trưởng thực tế trong năm đó nhiều khả năng là âm. Từ năm 2022 đến năm 2025, khi sự suy giảm trong hoạt động xây dựng bất động sản kéo tụt tăng trưởng, Bắc Kinh vẫn tuyên bố GDP thực tế tăng trung bình 4,6% mỗi năm. Một khoảng ước tính hợp lý hơn đối với kết quả kinh tế của Trung Quốc trong bốn năm đó chỉ vào khoảng 1,5–2,0%. Nhìn chung, các ước tính thay thế của chúng tôi cho thấy mức mở rộng tích lũy của nền kinh tế Trung Quốc kể từ năm 2021 có lẽ chỉ khoảng 2% tính theo USD, thấp hơn rất nhiều so với con số được công bố chính thức.
Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự giảm tốc của kinh tế Trung Quốc là sự sụp đổ của thị trường bất động sản nhà ở. Nhưng nguyên nhân sâu xa lại nằm ở sự chấm dứt của một bong bóng tín dụng chưa từng có, hình thành ngay sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Bất động sản chỉ là một trong những lĩnh vực thụ hưởng lớn nhất từ dòng tín dụng giá rẻ khổng lồ đã thổi phồng bong bóng đó. Phần lớn các dự án do chính quyền địa phương khởi xướng sau khủng hoảng tài chính toàn cầu chưa bao giờ được thiết kế để tạo ra dòng tiền trả nợ. Chúng chủ yếu là các khoản đầu tư vào công trình công cộng và cơ sở hạ tầng. Vì vậy, hệ thống ngân hàng cuối cùng phải gánh chi phí của những khoản đầu tư này. Khi tốc độ mở rộng tín dụng bị cắt giảm một nửa kể từ năm 2018, các vụ vỡ nợ bắt đầu xuất hiện, trước tiên trong các mạng lưới cho vay ngang hàng, sau đó đến các ngân hàng nhỏ, các tổ chức tài chính phi ngân hàng tài trợ cho lĩnh vực bất động sản, rồi các nhà phát triển bất động sản và cuối cùng là chính quyền địa phương.
Hóa đơn cho toàn bộ mô hình tăng trưởng dựa vào đầu tư trong quá khứ của Trung Quốc giờ đây đã đến hạn thanh toán. Nhưng việc thanh toán đòi hỏi phải tái cơ cấu một hệ thống ngân hàng trị giá 72 nghìn tỷ USD. Điều này không chỉ kéo theo chi phí tài chính khổng lồ, mà quan trọng hơn, còn buộc Trung Quốc phải chấp nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại khi hoạt động đầu tư do nhà nước dẫn dắt giảm sút, nếu muốn tránh lặp lại những sai lầm tương tự. Để né tránh các hệ quả này, Trung Quốc lựa chọn đảo các khoản nợ xấu vô thời hạn và tiếp tục bơm tiền cho các doanh nghiệp kém hiệu quả cũng như các dự án đầu tư của chính quyền địa phương, về cơ bản là ném tiền qua cửa sổ.
Tuy nhiên, việc liên tục xoay xở với các khoản nợ cũ lại làm suy yếu khả năng cấp tín dụng mới hằng năm của các ngân hàng. Hệ quả là hệ thống tài chính Trung Quốc đang suy thoái và chứng kiến sự giảm tốc đáng kể trong tăng trưởng tín dụng. Tốc độ tăng cho vay ngân hàng hiện chỉ ở mức 5,3%, chưa bằng một phần ba so với những năm bùng nổ của Trung Quốc. Theo ngân hàng trung ương nước này, có tới 58% tổng số khoản vay mới hiện được cấp với mức lãi suất cho vay cơ bản là 3% hoặc thấp hơn, một mức khiến biên lợi nhuận trở nên vô cùng mỏng. Phần lớn những khoản vay này nhiều khả năng chảy vào các doanh nghiệp nhà nước và chính quyền địa phương, thay vì các công ty công nghệ đổi mới hay các hộ gia đình Trung Quốc. Nói cách khác, quá khứ đang bóp nghẹt tương lai.
Sự giảm tốc kinh tế và sự sụp đổ của thị trường bất động sản đã khiến nguồn thu thuế của Trung Quốc lao dốc, cả về giá trị tuyệt đối lẫn tương quan với quy mô nền kinh tế. Tổng doanh thu từ thuế và phi thuế trong năm ngoái chỉ đạt 15,4% GDP, thấp hơn tất cả các nước thành viên Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Hệ quả của sự sụt giảm nguồn thu này là thâm hụt ngân sách hằng năm của Trung Quốc hiện dao động trong khoảng 9–10% GDP, tương đương khoảng 2.000 tỷ USD mỗi năm. Điều đó có nghĩa Bắc Kinh chỉ còn rất ít dư địa để bơm thêm tiền vào nền kinh tế. Để duy trì tăng trưởng, giới chức nước này chỉ còn một lựa chọn: dựa vào các thị trường nước ngoài.
MUA HÀNG TRUNG QUỐC… HOẶC PHẢI CHỊU HẬU QUẢ
Sự gia tăng thị phần xuất khẩu toàn cầu của Trung Quốc là hệ quả trực tiếp của việc nền kinh tế trong nước giảm tốc. Khi hoạt động xây dựng bất động sản suy yếu, hệ sinh thái công nghiệp khổng lồ từng cung cấp nguyên liệu thô, hóa chất và các hàng hóa trung gian khác cho hoạt động xây dựng nhà ở và công trình thương mại trong nước đột nhiên mất đi thị trường nội địa. Tín dụng vẫn tiếp tục chảy vào nhiều doanh nghiệp trong số này, đồng nghĩa họ vẫn duy trì sản xuất. Nhưng khi thị trường trong nước không còn, họ bắt đầu hạ giá và bán mọi thứ có thể ra nước ngoài, kéo giảm biên lợi nhuận trên toàn cầu và làm triệt tiêu động lực đầu tư mới trong nhiều lĩnh vực ở khắp thế giới. Trung Quốc hiện không chỉ mở rộng thị phần xuất khẩu tại châu Âu, mà còn tại các nền kinh tế đang phát triển ở Đông Nam Á và Mỹ Latinh.
Vì muốn bảo đảm các thị trường toàn cầu tiếp tục mở cửa cho hàng xuất khẩu, Bắc Kinh tỏ ra lo ngại trước những nỗ lực giảm thiểu rủi ro gần đây trên thế giới, vốn nhằm xây dựng các chuỗi cung ứng thay thế và đa dạng hóa nguồn cung để giảm phụ thuộc vào các đầu vào từ Trung Quốc. Bắc Kinh đã chủ động tiếp cận từng quốc gia để nhấn mạnh lợi ích của việc duy trì quan hệ thương mại với Trung Quốc. Trong trường hợp các nỗ lực ngoại giao đó bị khước từ, nước này cũng đang thực hiện những bước đi mới và toàn diện nhằm đẩy lùi các quốc gia tìm cách phát triển năng lực công nghiệp bên ngoài Trung Quốc.
Chẳng hạn, sau khi Đạo luật Tăng tốc Công nghiệp châu Âu được công bố vào tháng 3, tạo ra các ưu đãi cho hoạt động mua sắm và sản xuất trong EU ở một số ngành nhất định, đồng thời áp trần tỷ lệ sở hữu nước ngoài, Bắc Kinh đã trực tiếp đe dọa trả đũa châu Âu. Tháng 4, Trung Quốc ban hành các sắc lệnh mới cho phép áp dụng biện pháp đáp trả đối với các luật nước ngoài bị coi là “phân biệt đối xử” với Trung Quốc và gây tổn hại đến an ninh chuỗi cung ứng của nước này. Đến đầu tháng 6, Bắc Kinh tiếp tục áp dụng các biện pháp kiểm soát mới đối với đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, qua đó tạo cơ sở pháp lý để trừng phạt những quốc gia hạn chế đầu tư của doanh nghiệp Trung Quốc. Bắc Kinh cũng ngày càng lạm dụng mối đe dọa chiến tranh kinh tế như một công cụ răn đe, chẳng hạn việc áp đặt các hạn chế xuất khẩu mới đối với đất hiếm nhằm vào Nhật Bản, trong bối cảnh căng thẳng kinh tế âm ỉ với chính quyền Sanae Takaichi.
Tuy nhiên, việc ngày càng sử dụng cây gậy thay vì củ cà rốt để giữ các thị trường xuất khẩu mở cửa cũng là một hệ quả phụ của sự giảm tốc kinh tế trong nước. Trong giai đoạn trỗi dậy ngoạn mục, Bắc Kinh từng vượt qua phản ứng quốc tế trước “cú sốc Trung Quốc” đầu tiên vì nước này mang lại cho các đối tác thương mại cơ hội tiếp cận một thị trường đang tăng trưởng để tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ. Các công ty hàng tiêu dùng Mỹ, các nhà sản xuất máy móc và tư liệu sản xuất của Đức, cùng các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa cơ bản ở Úc và Mỹ Latinh đều được hưởng lợi từ việc tiếp cận thị trường tiêu dùng Trung Quốc và các doanh nghiệp công nghiệp đang mở rộng, với nhu cầu tài nguyên rất lớn. Nhưng hiện nay, khi nhu cầu nội địa của Trung Quốc sụp đổ, căng thẳng thương mại là điều không thể tránh khỏi. Nếu tất cả những gì Bắc Kinh có thể làm để duy trì tăng trưởng là đe dọa cắt nguồn cung các mặt hàng thiết yếu cho phần còn lại của thế giới, lợi ích của việc giao thương với Trung Quốc sẽ tiếp tục suy giảm đối với đa số quốc gia.
Tuy vậy, trong lúc này, nếu không có phản ứng phối hợp từ các nền kinh tế phát triển, những mối đe dọa từ Bắc Kinh có thể trở nên nghiêm trọng hơn. Trung Quốc càng được phép vũ khí hóa hệ thống thương mại toàn cầu và vượt qua các lằn ranh đỏ về khả năng chống chịu công nghiệp trong thời gian dài, việc tập hợp chuyên môn kỹ thuật và xây dựng các cụm công nghiệp cần thiết để hình thành những lựa chọn thay thế bền vững cho các nhà cung cấp Trung Quốc sẽ càng khó khăn. Đức đang phải trả giá đắt cho bài học này, khi ngành sản xuất của nước này được cho là đang mất khoảng 10.000 việc làm mỗi tháng. Những quốc gia châu Âu khác, đặc biệt là Pháp, cũng đã nhận thức được thách thức và đang tìm cách phối hợp phản ứng. Cuộc tranh luận giữa tháng 6 tại Hội đồng châu Âu về các biện pháp tự vệ thương mại cho thấy cách nhìn nhận nội bộ của châu lục này đối với thương mại với Trung Quốc đã thay đổi đáng kể.
Bắc Kinh hiện đang tìm cách xử lý các hệ quả của tình trạng mất cân đối kinh tế trong nước bằng các biện pháp ngoại giao, thay vì cải cách chính hệ thống của mình. Nếu các nỗ lực ngoại giao cùng sự kết hợp giữa cây gậy và củ cà rốt thất bại, Bắc Kinh có thể sẽ phải viện đến những công cụ điều hành kinh tế quyết liệt hơn để duy trì các thị trường xuất khẩu mở cửa. Điều đó sẽ tạo ra công thức cho những gián đoạn kinh tế toàn cầu lớn hơn và các cuộc xung đột liên quan đến chuỗi cung ứng. Việc ngăn Bắc Kinh theo đuổi những chiến thuật này đòi hỏi Mỹ và các đồng minh phải tập hợp quanh một chiến lược khác.
VÁN CƯỢC SAI LẦM
Thách thức kinh tế cốt lõi từ Trung Quốc đang nổi lên ngay lúc này, chứ không phải trong thập kỷ tới. Tuy nhiên, một phản ứng do Mỹ dẫn dắt nhằm thiết lập các biện pháp phòng vệ thương mại, bảo vệ nguồn cầu của phương Tây và phát triển các cụm công nghiệp mới bên ngoài Trung Quốc sẽ không chỉ đối phó với mối đe dọa hiện tại, mà còn tạo ra những lợi thế tích lũy và dài hạn cho Mỹ cùng các đồng minh. Nói cách khác, hành động ngay từ bây giờ để hạn chế xuất khẩu của Trung Quốc và thực hiện những khoản đầu tư mới có ý nghĩa sẽ mang lại lợi ích chiến lược trong việc đối phó với Bắc Kinh trong nhiều năm tới.
Sự phối hợp giữa Mỹ và các đồng minh G-7 sẽ giúp đẩy nhanh quá trình này. Dù vậy, một phản ứng tập thể như thế không dễ thực hiện. Các mức thuế quan mà chính quyền Trump áp lên đồng minh đã thu hẹp không gian kinh tế và chính trị cho một nỗ lực phối hợp nhằm đối phó với Bắc Kinh. Những người hoài nghi sẽ lập luận rằng Bắc Kinh hiện có đòn bẩy đàm phán mạnh hơn phương Tây và một phản ứng phối hợp sẽ không mang lại kết quả. Theo quan điểm này, các biện pháp kiểm soát xuất khẩu và hạn chế đối với hàng hóa trung gian của Trung Quốc, chẳng hạn nam châm đất hiếm, mạnh hơn thuế quan và các hạn chế thương mại của phương Tây, bởi chúng tạo ra tác động kinh tế tức thì và liên quan đến những linh kiện khó thay thế. Việc dựng lên rào cản đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc bị coi là kém hiệu quả hơn vì Trung Quốc luôn có thể tìm thị trường mới cho hàng xuất khẩu.
Ngoài việc mang tâm lý đầu hàng, quan điểm này còn bỏ qua những giới hạn hiện nay đối với các công cụ chính sách của Bắc Kinh, cũng như áp lực đang đè nặng lên nền kinh tế nước này. Trung Quốc vốn đã là nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới. Việc đa dạng hóa sang các thị trường mới sẽ vô cùng khó khăn đối với doanh nghiệp Trung Quốc, đặc biệt khi phương Tây vẫn chiếm phần lớn mức tăng trưởng toàn cầu về nhu cầu tiêu dùng cuối cùng. Xuất khẩu xe điện tăng nhanh của Trung Quốc đang thu hút sự chú ý trên các mặt báo toàn cầu, nhưng toàn bộ ngành công nghiệp này thực chất gần như không tăng trưởng vì thị trường ô tô nội địa Trung Quốc đã chững lại, với doanh số giảm 20% trong năm nay. Lợi ích từ việc tăng xuất khẩu đối với các doanh nghiệp Trung Quốc và toàn bộ nền kinh tế đang dần thu hẹp.
Chiến lược kiểm soát xuất khẩu của Bắc Kinh cũng không mạnh như nhiều người tưởng. Mỹ đã học được rằng việc thực thi những biện pháp kiểm soát như vậy là vô cùng khó khăn. Nếu Trung Quốc muốn duy trì hoặc mở rộng chế độ kiểm soát xuất khẩu, nước này sẽ phải giám sát chặt chẽ hoạt động thương mại, nhất là khi giá thế giới đối với các mặt hàng bị kiểm soát tăng lên và khuyến khích hành vi lách luật. Ngay cả việc kiểm soát thương mại trong một ngành duy nhất cũng đòi hỏi một bộ máy quan liêu đồ sộ để giám sát toàn bộ các nhà sản xuất và xuất khẩu. Chẳng hạn, Trung Quốc chỉ có thể áp đặt quyền kiểm soát đối với đất hiếm vì đã cưỡng chế sáp nhập ngành này và trong suốt hai thập kỷ tập trung hoạt động sản xuất vào chỉ hai công ty. Các biện pháp kiểm soát xuất khẩu của Trung Quốc chỉ thực sự hiệu quả khi nước này kiểm soát từ 90 đến 100% nguồn cung toàn cầu của một sản phẩm cụ thể. Nhưng mức độ thống trị như vậy rất hiếm, đặc biệt khi phần còn lại của thế giới đang khẩn trương xây dựng các chuỗi cung ứng thay thế. Chỉ cần thế giới tìm được nguồn thay thế tương đương 10–20% nguồn cung toàn cầu, mức độ đe dọa từ các biện pháp kiểm soát của Trung Quốc sẽ giảm đi đáng kể.
Bắc Kinh đang đặt cược rằng họ có thể ngăn chặn một phản ứng thương mại phối hợp từ phương Tây đủ lâu để thiết lập các nút thắt chuỗi cung ứng mới trong những ngành khác. Chẳng hạn, nhằm đáp trả kế hoạch tăng cường quốc phòng của châu Âu, Trung Quốc đang siết chặt các biện pháp kiểm soát xuất khẩu đối với sản phẩm “lưỡng dụng” và đưa các công ty quốc phòng vào danh sách kiểm soát. Tuy nhiên, nếu Trung Quốc phải đối mặt với những hạn chế đáng kể đối với chính hàng xuất khẩu của mình, các nền kinh tế phát triển sẽ nhận thấy đòn bẩy của họ đối với Bắc Kinh gia tăng. Một nền kinh tế phụ thuộc vào nhu cầu toàn cầu để tăng trưởng không thể duy trì tình trạng xung đột thương mại vĩnh viễn với chính khách hàng của mình.
ĐÒN BẨY TỪ NHU CẦU
Nhiều nhà quan sát coi cuộc cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc là một cuộc chạy đua phát triển năng lực nhằm làm suy yếu đòn bẩy của đối phương: Mỹ đang cố gắng nhanh chóng phát triển các nguồn đất hiếm và khoáng sản thiết yếu, trong khi Trung Quốc tìm cách phát triển chất bán dẫn tiên tiến. Nhưng phép so sánh này dễ gây hiểu lầm, bởi “cuộc đua” đó sẽ không bao giờ kết thúc, trong khi hoạt động thương mại giữa hai bên vẫn tiếp tục trong suốt quá trình. Trong một cuộc cạnh tranh chiến lược dài hạn, các công cụ điều hành kinh tế sẽ luôn tìm thấy mục tiêu mới. Điều này đặc biệt đúng trong quan hệ giữa G-7 cùng các nền kinh tế phát triển khác, vốn nhìn chung đang thâm hụt thương mại, và Trung Quốc, nước đang có thặng dư thương mại lớn. Với cấu trúc kinh tế đó, các điểm yếu trong chuỗi cung ứng của Mỹ và các đồng minh sẽ luôn tồn tại.
Vì vậy, cuộc cạnh tranh chiến lược hiện nay nên được hiểu không phải như một cuộc chạy đua phát triển năng lực, mà là một quá trình đàm phán liên tục về cách quản lý tốc độ và phạm vi tách rời các dòng chảy thương mại giữa Trung Quốc và phần còn lại của thế giới. Bắc Kinh muốn làm chậm và thu hẹp tiến trình tách rời, trong khi Mỹ và các đồng minh muốn đẩy nhanh quá trình này. Thách thức đối với Mỹ và các đồng minh trong hình thái cạnh tranh này là giảm thiểu tác động từ những lời đe dọa của Trung Quốc về việc giữ lại các nguyên liệu thô và hàng hóa trung gian thiết yếu như một công cụ gây sức ép chính trị. Bước đi đầu tiên rõ ràng là phát triển các nguồn cung thay thế. Việc vận hành các chuỗi cung ứng độc lập với ảnh hưởng của Trung Quốc tự thân đã là một năng lực hữu ích, vừa cải thiện khả năng chống chịu và an ninh, vừa làm suy giảm quyền lực đàm phán của Bắc Kinh.
Tuy nhiên, biện pháp then chốt hơn là tận dụng các cuộc đàm phán để đáp trả Bắc Kinh bằng những động thái leo thang có trọng tâm tương tự, thông qua việc siết chặt quyền tiếp cận nhu cầu tiêu dùng. Hạn ngạch nhập khẩu, thuế quan, tiêu chuẩn kỹ thuật và các hạn chế khác đối với hàng xuất khẩu của Trung Quốc sẽ tạo áp lực giảm giá lên các ngành công nghiệp nước này, làm suy giảm lợi nhuận, nguồn thu ngân sách và khả năng hỗ trợ các lĩnh vực bằng các ưu đãi chính sách công nghiệp của Bắc Kinh. Bản thân Trung Quốc từng sử dụng các biện pháp hạn chế nhu cầu, chẳng hạn hạn chế nhập khẩu từ Litva vì lý do chính trị hoặc đóng mở dòng nhập khẩu đậu nành từ Mỹ, chính vì những biện pháp này có tác động tức thời đến doanh thu doanh nghiệp.
Chính quyền Trump đã đánh mất đòn bẩy cốt lõi trong vòng đàm phán gần nhất với Trung Quốc khi đáp trả các mối đe dọa về nguồn cung của Bắc Kinh bằng cách tiếp tục tập trung vào nguồn cung. Để đạt được thỏa thuận về quyền tiếp cận đất hiếm, chính quyền Mỹ đã đồng ý thu hẹp phạm vi mở rộng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu đối với chất bán dẫn do Bộ Thương mại đề xuất, qua đó mở đường cho nhiều doanh nghiệp Trung Quốc hơn được mua chip và thiết bị liên quan của Mỹ. Nhưng cách tiếp cận này đã trao quyền chủ động leo thang cho Bắc Kinh. Với mức thặng dư thương mại khổng lồ, Trung Quốc luôn có nhiều mặt hàng xuất khẩu để hạn chế hơn Mỹ. Ngược lại, nước này không có lựa chọn thay thế thực sự nào cho các thị trường tiêu dùng của Mỹ và đồng minh.
Thay vào đó, Mỹ nên chủ động dẫn dắt các đồng minh đưa Trung Quốc vào một tiến trình đàm phán chính thức hoặc không chính thức kéo dài. Trong đó, các biện pháp kiểm soát xuất khẩu đất hiếm của Trung Quốc sẽ được đáp trả bằng các biện pháp phòng vệ thương mại có mục tiêu đối với những lĩnh vực mà hàng xuất khẩu Trung Quốc đang tăng nhanh nhất, chẳng hạn máy công cụ, robot công nghiệp, hóa chất và tàu thuyền. Washington cũng có thể áp dụng các rào cản phi thuế quan, như các tiêu chuẩn kỹ thuật mà nhiều công nghệ Trung Quốc không thể đáp ứng, nhằm định lượng một cách đáng tin cậy và bền vững quyền tiếp cận của Trung Quốc đối với nhu cầu tại Mỹ và các nước đồng minh.
Hình thức đàm phán này sẽ đặt Bắc Kinh trước hàng loạt sự đánh đổi bất lợi. Việc rút khỏi một cuộc đàm phán đang diễn ra và giữ lại các nguồn cung thiết yếu đối với Mỹ hoặc phần còn lại của thế giới chỉ có thể là một chiến lược có thời hạn, bởi một cuộc chiến thương mại toàn diện sẽ nhanh chóng tước đi những nguồn tăng trưởng cốt lõi của Trung Quốc. Hơn nữa, Trung Quốc càng áp dụng các hạn chế chuỗi cung ứng trong nhiều ngành, phản ứng từ phần còn lại của thế giới sẽ càng mạnh mẽ.
Tuy nhiên, việc tiếp tục sa vào một tiến trình đàm phán mà trong đó quyền tiếp cận các thị trường G-7 bị đặt lên bàn cân cũng đi ngược lại lợi ích lâu dài của Bắc Kinh. Để khôi phục quyền tiếp cận thị trường, Trung Quốc sẽ phải duy trì dòng cung ứng thiết yếu cho các nhà sản xuất tại các nước đồng minh. Tăng trưởng đang diễn ra bên ngoài Trung Quốc chứ không phải bên trong nước này, và phần còn lại của thế giới sẽ có thời gian cần thiết để nới lỏng sự kiểm soát của Bắc Kinh đối với các nguồn cung then chốt. Nói cách khác, các hạn chế về nhu cầu của phương Tây sẽ mạnh dần theo thời gian, trong khi các hạn chế về nguồn cung của Trung Quốc sẽ yếu đi. Bắc Kinh dường như đã nhận thức được thế gọng kìm này. Nước này đang theo đuổi các biện pháp kiểm soát xuất khẩu có mục tiêu hơn, nhằm hạn chế đầu tư mới bên ngoài Trung Quốc, thay vì áp dụng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu diện rộng có nguy cơ bóp nghẹt chính tăng trưởng của mình.
CÓ THỂ NGĂN CHẶN, KHÔNG PHẢI LÀ TẤT YẾU
Cuộc cạnh tranh chiến lược hiện nay giữa Mỹ và Trung Quốc không phải là điều tất yếu. Nó nổi lên như hệ quả của các lựa chọn chính sách trong suốt thập niên 2010, phần lớn trong số đó được đưa ra tại Bắc Kinh. Tuy nhiên, cuộc cạnh tranh kinh tế chiến lược Mỹ–Trung đã thay đổi sâu sắc do sự giảm tốc của kinh tế Trung Quốc. Các mối đe dọa từ Trung Quốc giờ đây mang tính nhất thời, có giới hạn thời gian và dễ bị răn đe hơn, thay vì là điều không thể tránh khỏi. Khả năng thực hiện các kế hoạch kinh tế và công nghiệp dài hạn của Bắc Kinh đang bị suy yếu bởi sự xuống cấp bên trong hệ thống tài chính và tài khóa. Quyết định bám giữ một mô hình kinh tế đang suy thoái thay vì thay đổi hướng đi cũng khiến tầm nhìn chiến lược của Trung Quốc ngày càng ngắn lại.
Do đó, Mỹ đang nắm giữ một cơ hội thực sự nhưng hết sức cấp bách để tập trung vào mối đe dọa trước mắt của tình trạng phi công nghiệp hóa và qua đó làm giảm cường độ cạnh tranh chiến lược trong thập kỷ tới. Sự đồng thuận ở Washington rằng Trung Quốc đặt ra một thách thức lâu dài đối với vị thế dẫn đầu kinh tế của Mỹ sẽ không thể thay đổi trong một sớm một chiều. Nhưng sự đồng thuận đó thay đổi càng sớm, vị thế của nước Mỹ sẽ càng vững chắc.
Logan Wright là Đối tác tại Rhodium Group, đồng thời là Trưởng bộ phận nghiên cứu về kinh tế và thị trường tài chính Trung Quốc của công ty. Ông cũng là tác giả cuốn Broken China: How the Economic Miracle Shattered and What It Means for the World.
