
Nguồn: Shoumitro Chatterjee và Arvind Subramanian, “China Is Pulling Up the Ladder Behind It”, Foreign Affairs, 18/06/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Trung Quốc đang ngày càng chủ động gánh vác vị thế đi kèm với tư cách một siêu cường toàn cầu. Sự trỗi dậy của Trung Quốc đang buộc phần còn lại của thế giới phải đánh giá năng lực của họ với tư cách là một bá quyền tiềm năng lẫn một bên cung cấp các lợi ích công. Và trong một lĩnh vực quan trọng, sức mạnh của họ có thể lại chính là một điểm yếu chí mạng. Nhiều quốc gia nghèo hơn lo ngại rằng sự bứt phá kinh tế của Trung Quốc sẽ không để lại khoảng trống cho họ công nghiệp hóa. Không giống như Mỹ và các quốc gia châu Âu — những bên trong quá khứ từng giúp tạo điều kiện cho quá trình công nghiệp hóa của các nước nghèo hơn (bao gồm cả Trung Quốc) — Bắc Kinh hiện tại lại đang trên đà tạo ra hiệu ứng ngược lại.
Trung Quốc không chỉ đơn thuần là đang leo lên nấc thang công nghiệp; họ còn đang kéo đổ chiếc thang mình từng leo. Trung Quốc đang thống trị những đỉnh cao mới của ngành sản xuất — xe điện, tấm pin mặt trời, pin, drone — nhưng lại không hề rút lui khỏi các lĩnh vực thâm dụng lao động cũ kỹ, vốn là con đường giúp chính họ và các quốc gia có thu nhập cao cũng như trung bình khác thoát khỏi nghèo đói. Về mặt hiệu quả, Trung Quốc đang cố gắng làm một điều mà lý thuyết kinh tế cho rằng không một quốc gia nào có thể làm được: duy trì lợi thế so sánh trong hầu như mọi lĩnh vực.
Canh bạc đó lại càng nổi bật hơn trong một kỷ nguyên mà tình trạng mất cân bằng toàn cầu đang một lần nữa nới rộng. Thặng dư thương mại của Trung Quốc tính trên tỷ trọng GDP thế giới đang ở mức cao lịch sử. Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã cảnh báo rằng tình trạng mất cân bằng đối ngoại và các hệ lụy thương mại đi kèm đang tạo ra những tác động lan tỏa tiêu cực cho các đối tác thương mại. Như Brad Setser và Shahin Valée đã viết gần đây trên tạp chí Foreign Affairs, hành vi thao túng tiền tệ của Trung Quốc đang làm suy yếu hệ thống thương mại toàn cầu. Kỷ nguyên thặng dư lớn gần đây nhất của Trung Quốc, rơi vào khoảng thập kỷ đầu tiên của thế kỷ này, đã tạo ra điều mà nhiều học giả gọi là “cú sốc Trung Quốc” đầu tiên: một làn sóng xuất khẩu ồ ạt vào nước Mỹ đã xóa sổ hàng loạt ngành sản xuất của Mỹ. Cú sốc đó đã tái định hình chính trường Mỹ và góp phần tạo nên một sự đồng thuận lưỡng đảng hiếm hoi chống lại thương mại tự do và chống lại Trung Quốc.
Cú sốc mới này lại mang một sắc thái khác. Nó ít tác động hơn đến nước Mỹ, nơi mà các lệnh áp thuế, cấm vận và các biện pháp hạn chế an ninh quốc gia đã chặn đứng sự cạnh tranh từ hàng nhập khẩu Trung Quốc bằng các sắc lệnh hành chính. Nó đang ảnh hưởng rõ rệt hơn đến châu Âu, đặc biệt là Đức — quốc gia có mô hình công nghiệp vốn được xây dựng quanh động cơ đốt trong và hệ sinh thái kỹ thuật cao cấp đi kèm. Sự vươn lên của Trung Quốc trong lĩnh vực xe điện và công nghệ xanh đã biến một thách thức thương mại thành một mối đe dọa sinh tồn cho nhiều ngành công nghiệp châu Âu.
Thế nhưng việc quá tập trung vào cách thức chiến lược kinh tế của Trung Quốc tác động đến Mỹ và châu Âu đã làm lu mờ một vấn đề lớn hơn. Những nạn nhân chịu hậu quả nặng nề nhất từ cú sốc Trung Quốc hiện tại không phải là công nhân ở Detroit hay Stuttgart, mà là lực lượng lao động tương lai ở những nơi như Addis Ababa, Dhaka, Lagos, Nairobi, Phnom Penh, Surat và Tirupur. Tổn thất của họ không thể đo đếm chủ yếu bằng số việc làm bị cắt giảm hay các nhà máy bị đóng cửa, mà phải nhìn từ khía cạnh những nhà máy không bao giờ được xây dựng, những thị trường xuất khẩu không bao giờ có thể tiếp cận, những năng lực không bao giờ được tích lũy và những con đường phát triển không bao giờ được mở ra. Đó mới là cái giá thực sự của cái gọi là “sự chèn ép từ Trung Quốc”.
Hệ lụy từ sự chèn ép của Trung Quốc là vô cùng lớn. Vấn đề không chỉ là hàng trăm tỷ USD thặng dư xuất khẩu bị bỏ lỡ, mà là liệu những quốc gia đi sau trong quá trình phát triển có còn tiếp cận được con đường chuyển dịch cơ cấu đáng tin cậy nhất mà thế giới từng biết hay không. Về mặt lịch sử, hầu như mọi quốc gia thoát nghèo để vươn lên thịnh vượng đều làm được điều đó nhờ dựa vào xuất khẩu chế tạo: quần áo, đồ chơi, giày dép, đồ nội thất, lắp ráp điện tử và các lĩnh vực khác giúp hấp thụ một lượng lớn lao động phổ thông, đồng thời xây dựng năng lực doanh nghiệp, logistics, bí quyết công nghệ và năng lực quản lý nhà nước. Trung Quốc đã hưởng lợi rất lớn từ một hệ thống thương mại mở, cho phép họ đưa hàng trăm triệu người thoát nghèo nhờ sản xuất cho thị trường toàn cầu. Giờ đây, chính sự trỗi dậy của Trung Quốc lại có thể đang chặn đứng con đường đó của các quốc gia nghèo hơn.
Tâm điểm chèn ép
Phần lớn thặng dư thương mại ngành chế tạo của Trung Quốc — tức khoảng chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu — lại nằm chính xác ở nơi mà các quốc gia nghèo hơn đáng lẽ phải có cơ hội lớn nhất. Trong tổng số thặng dư chế tạo khoảng 2,2 nghìn tỷ USD của Trung Quốc, có tới từ 700 tỷ đến 1,4 nghìn tỷ USD tập trung vào các lĩnh vực thâm dụng lao động tay nghề thấp như may mặc, giày dép, đồ chơi, đồ nội thất và lắp ráp điện tử — những lĩnh vực mà các nước có thu nhập thấp và trung bình với nguồn lao động dồi dào đang cạnh tranh trực tiếp nhất với Trung Quốc.
Thước đo đơn giản nhất cho động lực này là tỷ trọng của Trung Quốc trong xuất khẩu hàng tay nghề thấp toàn cầu. Tỷ trọng xuất khẩu thô của Trung Quốc — bao gồm cả các thành phẩm như áo sơ mi hay giày dép — đã tăng mạnh từ đầu những năm 1990, đạt đỉnh ở mức hơn 60% vào năm 2014, và sau đó giảm dần. Xu hướng đó gợi ý rằng áp lực chèn ép có vẻ đã hạ nhiệt.
Thế nhưng xuất khẩu thô lại bỏ sót phần lớn câu chuyện. Một chiếc áo sơ mi không đơn thuần chỉ là một chiếc áo sơ mi. Nó bao gồm vải, sợi, khóa kéo và cúc áo, nhưng cũng bao gồm cả đóng gói, logistics và thiết kế. Khi tính đến tổng giá trị nội địa hóa trong xuất khẩu — điều mà các nhà kinh tế gọi là “xuất khẩu giá trị gia tăng” — một thước đo chính xác hơn cho số lượng việc làm và năng lực được tạo ra dọc theo chuỗi cung ứng — tỷ trọng hàng tay nghề thấp của Trung Quốc không hề giảm đi một cách đáng kể.
Nó đã tiếp tục tăng lên, ngoại trừ một đợt sụt giảm ngắn hạn. Trung Quốc không chỉ thống trị công đoạn lắp ráp cuối cùng mà còn ngày càng nắm giữ thế độc tôn trong việc sản xuất các yếu tố đầu vào thượng nguồn phục vụ công đoạn lắp ráp đó: ít áo sơ mi thành phẩm hơn nhưng lại nhiều sợi, khóa kéo, cúc áo và các phụ liệu tương tự hơn.
Các nhà kinh tế có thể xác định xem sự thống trị này có ở mức thái quá hay không. Họ có thể đặt câu hỏi liệu tỷ trọng xuất khẩu hàng tay nghề thấp của Trung Quốc có tương xứng với tỷ trọng lao động tay nghề thấp của nước này trên thế giới hay không. Và họ có thể so sánh Trung Quốc với các nền kinh tế tiên tiến ngày nay khi các nước này ở mức thu nhập tương đương. Cùng với nhau, các thước đo này có thể giúp đánh giá mức độ mà Trung Quốc đang làm biến dạng nền kinh tế toàn cầu.
Trong ngành chế tạo thâm dụng lao động, tỷ trọng xuất khẩu thế giới của một quốc gia về cơ bản phải bám sát tỷ trọng lao động tay nghề thấp của nước đó trên toàn cầu, hoặc ít nhất hai chỉ số này không được lệch nhau quá lớn ngay cả khi công nghệ và năng suất giữa các quốc gia có sự tương đồng. Vào đầu thế kỷ XXI, trong số tất cả các nước có thu nhập thấp và trung bình, tỷ trọng lao động tay nghề thấp và tỷ trọng xuất khẩu giá trị gia tăng của Trung Quốc về cơ bản là khớp nhau. Kể từ đó, hai chỉ số này đã phân tách một cách sâu sắc. Giữa năm 2013 và 2023, tỷ trọng xuất khẩu giá trị gia tăng của Trung Quốc vẫn duy trì ở mức khoảng 64%, ngay cả khi tỷ trọng lực lượng lao động của nước này giảm ba điểm phần trăm. Theo tiêu chuẩn này, lượng xuất khẩu “vượt ngưỡng” của Trung Quốc đã tăng từ 33% lên 36% tổng xuất khẩu toàn cầu từ các nền kinh tế có thu nhập thấp và trung bình.
Quy mô của con số này là rất lớn. Đối với ngành may mặc, dệt may, da giày, lượng vượt ngưỡng này tương đương khoảng 110 tỷ USD xuất khẩu giá trị gia tăng vào năm 2022. Trên tất cả các lĩnh vực tay nghề thấp, chúng tôi ước tính lượng xuất khẩu giá trị gia tăng vượt ngưỡng là hơn 355 tỷ USD vào năm 2022. Khoảng trống xuất khẩu đó đáng lẽ đã có thể nuôi sống hàng chục triệu việc làm chế tạo tại các nền kinh tế nghèo hơn. Dữ liệu giá trị gia tăng sau năm 2022 hiện vẫn chưa có sẵn, nhưng dữ liệu về xuất khẩu thô tính đến năm 2024 cho thấy một xu hướng tương tự.
Việc so sánh với quá khứ cũng mang lại một cảm nhận tương tự về quy mô của sự biến dạng hiện tại. Khi các quốc gia giàu có ngày nay ở mức giàu tương đương Trung Quốc bây giờ, họ đã nhường lại phần lớn không gian chế tạo tay nghề thấp cho các nước khác. Sau khi điều chỉnh theo mức thu nhập và thực tế là hàng hóa ngày nay dễ giao thương hơn nhờ chi phí vận tải và rào cản thương mại thấp hơn, chúng tôi tính toán được rằng các nền kinh tế tiên tiến ở mức GDP đầu người hiện tại của Trung Quốc chỉ có tỷ trọng xuất khẩu toàn cầu khoảng 8% trong các lĩnh vực tương đương. Tỷ trọng của Trung Quốc ngày nay cao hơn nhiều, ở mức 27%. Khoảng cách đó, khi nhân với tổng xuất khẩu thô toàn cầu hiện tại, cho thấy lượng xuất khẩu vượt ngưỡng của Trung Quốc là khoảng 140 tỷ USD trong bốn lĩnh vực thâm dụng lao động gồm may mặc, dệt may, da và giày dép — con số gần sát với mức ước tính 110 tỷ USD từ góc nhìn tỷ trọng lao động tay nghề thấp.
Hai cách so sánh rất khác nhau do đó lại dẫn đến cùng một kết luận: Sự thống trị bền bỉ của Trung Quốc trong ngành chế tạo tay nghề thấp là một hiện tượng bất thường trong lịch sử và mang lại những hệ lụy kinh tế rõ rệt. Những quốc gia được hưởng lợi lớn nhất tính theo tỷ lệ từ việc giảm bớt áp lực chèn ép này có khả năng sẽ là khu vực châu Phi cận Sahara, nơi xuất khẩu hàng tay nghề thấp hiện tại chỉ ở mức khoảng 12 tỷ USD. Nếu các quốc gia trong khu vực có thêm không gian trên thị trường toàn cầu — và ban hành các chính sách quốc nội tốt hơn, như cải cách thể chế kinh tế và giảm thiểu chi phí cũng như rủi ro kinh doanh — họ có thể tăng lượng xuất khẩu đó lên gấp vài lần. Các nền kinh tế Đông Á và Nam Á cũng có thể chứng kiến những mức tăng lớn, với xuất khẩu hàng tay nghề thấp tăng từ 75% đến 175%.
Không thể đổ hết mọi cơ hội bị lãng phí của các nước nghèo hơn cho một mình Trung Quốc. Các điểm nghẽn nội tại vẫn đóng vai trò cực kỳ lớn. Nhưng sự thống trị của Trung Quốc làm thu hẹp các khả năng sẵn có cho các quốc gia nghèo hơn và khiến họ khó khăn hơn trong việc vạch ra một lộ trình tiến lên đáng tin cậy.
Tác động từ sự chèn ép của Trung Quốc đối với các nước có thu nhập thấp và trung bình là quá lớn để có thể phớt lờ. Nhưng các nguyên nhân cốt lõi cũng quan trọng không kém. Nếu sự thống trị của Trung Quốc phản ánh những thành tựu thực chất trong việc nâng cao năng suất — thông qua lợi thế về quy mô, logistics, tự động hóa và chất lượng quản lý, cũng như sự cạnh tranh nội địa khốc liệt — thì các quốc gia nghèo hơn nên phản ứng bằng cách tìm cách cải thiện năng lực cạnh tranh của chính mình. Nếu sự thống trị đó phản ánh các khoản trợ cấp, sự chèn ép tài chính hoặc biến dạng tỷ giá hối đoái, thì đó là một lời cáo buộc đối với hệ thống thương mại toàn cầu.
Sự thống trị của Trung Quốc vẫn duy trì ngay cả khi tiền lương của nước này đã tăng mạnh. Dữ liệu từ Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc cho thấy tiền lương ngành chế tạo của Trung Quốc hiện đã vượt xa mức lương ở hầu hết các quốc gia đối thủ và vẫn đang tiếp tục tăng. Trong ngành may mặc, tiền lương hàng năm ở Trung Quốc trung bình khoảng 10.000 USD — cao gấp khoảng năm lần so với mức lương tương đương ở Bangladesh và bốn lần so với ở Ấn Độ. Các lý thuyết truyền thống về thương mại cho rằng những khoảng cách về tiền lương như vậy đáng lẽ phải cho phép các nền kinh tế có mức lương thấp hơn giành lấy một miếng bánh lớn hơn trong thị phần xuất khẩu toàn cầu. Thực tế lại không như vậy. Trung Quốc vẫn tỏ ra vô cùng đáng gờm ngay cả trong các lĩnh vực mà lợi thế chi phí lao động của họ đã biến mất từ lâu.
Một khả năng đặt ra là lợi thế về năng suất của Trung Quốc đơn giản là đủ lớn để bù đắp cho bất lợi về tiền lương của họ. Công nhân của họ có thể lao động 15 giờ một ngày và các doanh nghiệp của họ vận hành với lợi thế từ tự động hóa, mạng lưới nhà cung ứng sâu rộng, các cụm công nghiệp dày đặc, hệ thống logistics đẳng cấp thế giới và một hệ sinh thái có thể mở rộng quy mô sản xuất với tốc độ phi thường. Những lợi thế này là có thật. Nhưng việc phân biệt giữa năng lực cạnh tranh thực chất và sự biến dạng chính sách đòi hỏi phải có dữ liệu chi tiết ở cấp độ doanh nghiệp về năng suất, tiền lương, trợ cấp, tín dụng, quyền sở hữu và hiệu quả xuất khẩu. Trong hơn một thập kỷ qua, những dữ liệu như vậy phần lớn đã không được tiếp cận bởi các nhà nghiên cứu ngoài Trung Quốc, khiến việc đưa ra một chẩn đoán nghiêm túc — bao gồm cả việc đánh giá tác động của tự động hóa — trở nên vô cùng khó khăn.
Chính sách công nghiệp là một lời giải thích khả dĩ khác. Trung Quốc từ lâu đã sử dụng các khoản trợ cấp, tín dụng chỉ định, các phương thức mua sắm chính phủ và sự hỗ trợ của chính quyền địa phương để củng cố ngành chế tạo. Tuy nhiên, nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Cục Dự trữ Liên bang gợi ý rằng Trung Quốc tập trung trợ cấp mạnh mẽ hơn vào các lĩnh vực công nghệ cao thay vì các ngành thâm dụng lao động truyền thống. Điều đó có thể giúp giải thích thành công của Trung Quốc trong lĩnh vực xe điện, pin, tấm pin mặt trời và máy bay không người lái, nhưng lại ít có giá trị giải thích cho sự thống trị bền bỉ của nước này trong ngành may mặc, giày dép, đồ chơi và lắp ráp cơ bản.
Điều đó đổ dồn sự chú ý vào tỷ giá hối đoái. Nhiều nhà phân tích đã lập luận rằng đồng nhân dân tệ vẫn đang bị định giá thấp từ 15% đến 25%. Hành vi can thiệp ngoại hối của Trung Quốc bám sát tỷ trọng thị trường toàn cầu của nước này đối với hàng tay nghề thấp: giữa năm 2013 và 2018, tỷ trọng xuất khẩu toàn cầu của họ giảm song song với tần suất can thiệp nhằm giữ cho đồng nhân dân tệ tương đối yếu; sau đó, tỷ trọng xuất khẩu toàn cầu của họ tăng lên, và xu hướng can thiệp nhằm thao túng đồng nhân dân tệ cũng tăng theo. Nếu đồng nhân dân tệ được giữ ở mức rẻ một cách nhân tạo, hiệu ứng mang lại sẽ tương đương với một khoản trợ cấp trên diện rộng cho các nhà xuất khẩu Trung Quốc và một khoản thuế đánh vào các nhà sản xuất nước ngoài. Nó sẽ làm cho hàng hóa Trung Quốc rẻ hơn trên thị trường toàn cầu và hàng hóa nước ngoài đắt hơn ở Trung Quốc — chính xác là sự kết hợp giúp duy trì sự chèn ép từ Trung Quốc.
Món hời cho Bắc Kinh
Có thể làm gì để khắc phục tình trạng chèn ép từ Trung Quốc? Các quốc gia nghèo có thể tìm kiếm sự giúp đỡ từ các đối tác thương mại khác. Chẳng hạn, Liên minh Châu Âu và Nhật Bản có thể đàm phán và làm sâu sắc thêm các thỏa thuận thương mại tự do với các nước nghèo hơn để họ có được các điều khoản tiếp cận ưu đãi hơn, giúp bù đắp một phần lợi thế của Trung Quốc. Các quốc gia lớn và Quỹ Tiền tệ Quốc tế có thể gây áp lực lên Trung Quốc để giải quyết vấn đề đồng tiền bị định giá thấp của nước này.
Đáng tiếc là các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình chỉ có đòn bẩy đàm phán rất hạn chế với Trung Quốc. Xét cho cùng, Bắc Kinh tương đối thờ ơ trước các yêu cầu ngay cả từ phía Washington về việc mở cửa thị trường của mình. Tổng thống Mỹ Donald Trump đã phải lùi bước trong việc áp thuế cao đối với Trung Quốc khi nước này đe dọa hạn chế xuất khẩu các khoáng sản quan trọng.
Bất kỳ hành động khắc phục nào, do đó, sẽ phải đến từ chính Trung Quốc. Nếu họ đánh giá một cách chính xác rằng nước Mỹ đã trở thành một cường quốc bá chủ không đáng tin cậy và bất ổn, họ có thể thấy được giá trị trong việc đưa ra một giải pháp thay thế cho Washington — với tư cách là một tác nhân có khả năng giúp ngăn chặn sự sụp đổ của trật tự thương mại quốc tế. Nhưng điều đó đòi hỏi phải từ bỏ các hành động gây tổn hại cho các quốc gia nghèo hơn. Họ đã thực hiện một số bước đi mang tính biểu tượng tiến bộ, từ bỏ vị thế quốc gia đang phát triển tại Tổ chức Thương mại Thế giới — điều mà về nguyên tắc khiến họ khó khăn hơn trong việc cấp các khoản trợ cấp cho doanh nghiệp của mình. Họ cũng đã hạ thấp các rào cản thuế quan đối với một số quốc gia nghèo hơn. Nhưng họ có thể và phải làm nhiều hơn thế.
Chẳng hạn, họ có thể mở rộng quyền tiếp cận miễn thuế cho tất cả các mặt hàng nhập khẩu thâm dụng lao động vào Trung Quốc từ tất cả các quốc gia đang phát triển. Một phương án táo bạo — nhất quán với nỗ lực thúc đẩy tiêu dùng nội địa tại Trung Quốc — là tiến xa hơn và trợ cấp cho việc nhập khẩu hàng hóa thâm dụng lao động từ các nước nghèo để các nhà nhập khẩu nhận được một khoản thanh toán từ chính phủ Trung Quốc, khoản tiền mà họ sẽ chuyển lại cho người tiêu dùng Trung Quốc dưới hình thức giá cả thấp hơn. Ít nhất, họ không nên ngăn cản việc chuyển giao các chuyên môn giá trị sang các quốc gia khác như họ đã làm vào năm 2025, khi Bắc Kinh gây áp lực buộc nhà sản xuất Foxconn phải rút 300 nhà quản lý và kỹ sư từ Ấn Độ về nước.
Bên cạnh thương mại, Trung Quốc có thể chủ động khuyến khích các doanh nhân của mình xây dựng nhà máy sản xuất tại các quốc gia nghèo có tiềm năng lớn nhất. Điều này sẽ bổ khuyết cho Sáng kiến Vành đai và Con đường — chương trình đầu tư khổng lồ vốn đang tập trung vào cơ sở hạ tầng và hàng hóa cơ bản. Ngay cả đối với tỷ giá hối đoái, hiện tại cũng có thể có một cơ hội mở ra. Trung Quốc, giống như các quốc gia khác, từ lâu đã cảm thấy khó chịu dưới sự thống trị tài chính của đồng USD. Sự thống trị đó đang bị xói mòn do các hành động của Mỹ và sự hoài nghi ngày càng tăng về mức độ đáng tin cậy của các tổ chức tài chính Mỹ. Việc Bắc Kinh tăng tốc quốc tế hóa đồng nhân dân tệ vào lúc này là hoàn toàn hợp lý. Điều đó sẽ đi kèm với những chi phí thực tế xét từ khía cạnh làm mạnh thêm đồng tiền và có khả năng gây tổn hại cho xuất khẩu của Trung Quốc, nhưng nó có thể mang lại một phần thưởng lớn hơn nhiều: một cơ hội thực tế để cạnh tranh với sự thống trị của đồng đô la. Và một sự điều chỉnh trong việc định giá thấp đồng nội tệ sẽ tạo ra nhiều tác động lan tỏa tích cực cho các quốc gia nghèo.
Cùng với nhau, các biện pháp như vậy có thể mang lại một số hệ lụy tiêu cực, chủ yếu là đánh vào các ngành xuất khẩu tay nghề thấp hơn của Trung Quốc. Nhưng chúng lại là một món hời cho Bắc Kinh theo một cách khác. Nếu các nhà lãnh đạo Trung Quốc muốn gánh vác nhiều hơn vị thế lãnh đạo toàn cầu, họ phải hiểu rằng sự lãnh đạo không đơn thuần vận hành thông qua sự thống trị, mà bằng cách tạo điều kiện cho sự trỗi dậy của những bên khác. Để thực sự tận dụng lợi thế từ sự suy giảm vị thế bá chủ của Mỹ, Trung Quốc không chỉ phải tạo ra sự khác biệt với phiên bản bảo hộ và thất thường hiện tại của nước Mỹ; họ còn phải đoạn tuyệt với lịch sử trọng thương của chính mình.
SHOUMITRO CHATTERJEE là Giáo sư Trợ lý ngành Kinh tế Quốc tế tại Trường Nghiên cứu Quốc tế Cấp cao thuộc Đại học Johns Hopkins, đồng thời là Học giả Không thường trú tại Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế.
ARVIND SUBRAMANIAN là Nghiên cứu viên Cao cấp tại Viện Kinh tế Quốc tế Peterson. Từ năm 2014 đến năm 2018, ông từng giữ chức vụ Cố vấn Kinh tế trưởng cho Chính phủ Ấn Độ.
