
Nguồn: Franz-Stefan Gady, “Europe’s Dangerous Hesitation on Its Own Air Defense”, Foreign Policy, 03/08/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Tổng thống Mỹ Donald Trump hiện đã rút lại những gợi ý trước đó về khả năng cấp phép cho Ukraine sản xuất tên lửa đánh chặn Patriot. Washington dường như cũng đã từ chối đề nghị của Kyiv về việc cung cấp 300 tên lửa đánh chặn loại này nhằm tăng cường năng lực phòng không. Tuy nhiên, ngay cả khi cả hai đề xuất trên được thực hiện, chúng vẫn không thể giải quyết vấn đề cấp bách trước mắt của Ukraine: đơn giản là không có đủ tên lửa đánh chặn để bảo vệ các thành phố trước các cuộc tấn công bằng tên lửa đạn đạo của Nga.
Sẽ mất nhiều năm để xây dựng những cơ sở sản xuất mới, trong khi chính quyền Trump hiện dường như không muốn chia sẻ với Ukraine các công nghệ tên lửa đánh chặn nhạy cảm, bao gồm đầu dò, động cơ tên lửa nhiên liệu rắn và phần mềm dẫn đường. Việc cấp phép sản xuất cũng không thể giải quyết bài toán số lượng cốt lõi. Mỹ hiện chỉ sản xuất hơn 600 tên lửa đánh chặn PAC-3 mỗi năm, dù đặt mục tiêu tăng gấp ba con số này trong những năm tới. Trong khi đó, chỉ riêng Ukraine có thể tiêu thụ từ 150 đến 180 quả trong một tháng Nga tiến hành các cuộc tấn công dồn dập.
Trong tương lai gần, năng lực phòng thủ tên lửa đạn đạo của Ukraine vẫn sẽ phụ thuộc vào việc rút tên lửa từ kho dự trữ của các đồng minh và sử dụng những giải pháp tạm thời, kết hợp với các dự án đang được Ukraine và châu Âu triển khai nhằm phát triển các phương án thay thế Patriot.
Vấn đề phòng không của Ukraine lẽ ra phải dẫn đến một cuộc tranh luận nghiêm túc giữa Mỹ và các đối tác NATO tại châu Âu, đồng thời buộc họ xem xét lại cách thức đối phó với các cuộc tấn công tên lửa đạn đạo quy mô lớn. Điều này không chỉ liên quan đến việc đẩy nhanh sản xuất hàng loạt tên lửa đánh chặn, điều mà thật khó hiểu là họ vẫn chưa làm được khi cuộc chiến ở Ukraine đã bước sang năm thứ năm.
Do số lượng tên lửa đánh chặn khó có thể sớm bắt kịp năng lực tên lửa đạn đạo của Nga và những đối thủ tiềm tàng khác, các nhà lãnh đạo chính trị cũng phải quyết định liệu họ có sẵn sàng sử dụng một hình thức phòng thủ thứ hai hay không: tấn công năng lực phóng tên lửa đạn đạo của đối phương ngay tại nguồn.
Trong thuật ngữ quân sự, cách tiếp cận này được gọi là “bắn hạ người bắn cung”, thay vì chỉ cố gắng đánh chặn những mũi tên đang lao tới. Nó đòi hỏi các loại vũ khí khác nhau và kéo theo những lo ngại về nguy cơ leo thang. Chính vì vậy, các nhà hoạch định quân sự và lãnh đạo chính trị cần xem xét nghiêm túc vấn đề này ngay từ bây giờ.
Đối với Ukraine, vấn đề mang tính cấp bách tức thời. Liệu Mỹ và các đối tác châu Âu có sẵn sàng ngầm hỗ trợ một cách tiếp cận chủ động hơn, có khả năng thành công cao hơn nhưng cũng nhiều rủi ro hơn, nhằm bảo vệ các thành phố Ukraine hay không? “Bắn hạ người bắn cung” đồng nghĩa với việc phá hủy các bệ phóng tên lửa nằm sâu trong hậu phương Nga và, quan trọng hơn cả, những cơ sở sản xuất tên lửa đạn đạo.
Với sự hỗ trợ tình báo của châu Âu và Mỹ, Ukraine đã sử dụng drone và tên lửa tầm xa để tấn công các nhà máy lọc dầu, kho chứa nhiên liệu, tàu hậu cần, cơ sở hạ tầng cảng biển, nhà máy công nghiệp quốc phòng cùng nhiều mục tiêu quân sự và hạ tầng khác.
Chẳng hạn, Ukraine đã sử dụng bốn tên lửa FP-5 Flamingo để tấn công nhà máy Titan-Barrikady tại Volgograd, cách biên giới Ukraine khoảng 400 km, tương đương 250 dặm, cũng như nhà máy VNIIR-Progress ở Cheboksary. Cả hai cơ sở đều sản xuất linh kiện cho nhiều loại tên lửa khác nhau của Nga. Mục tiêu của chiến dịch này rõ ràng là làm suy giảm có hệ thống năng lực tiến hành chiến tranh của Nga và, cụ thể hơn, giảm số tên lửa được phóng vào Ukraine.
Một ví dụ khác của cách tiếp cận “bắn hạ người bắn cung” là các chiến dịch gần đây của Mỹ và Israel nhằm vào Iran. Những cuộc tấn công vào bệ phóng và trung tâm chỉ huy của Iran đã làm gián đoạn và suy giảm, dù chưa thể triệt tiêu hoàn toàn, khả năng Tehran tiến hành các đợt tấn công tiếp theo với quy mô lớn.
Việc trấn áp lực lượng tên lửa Iran ngay tại nguồn có lẽ đã góp phần giảm áp lực lên hệ thống phòng thủ của Israel nhiều hơn lượng tên lửa đánh chặn dự trữ, vốn theo nhiều nguồn tin truyền thông đã giảm xuống mức nguy hiểm. Sự thiếu hụt tên lửa đánh chặn tại Israel và những nơi khác cũng trở thành một hạn chế thực tế đối với khả năng Mỹ tiếp tục một cuộc chiến cường độ cao chống Iran.
Câu hỏi lớn hơn đối với Mỹ và các nước NATO là liệu giới lãnh đạo chính trị của họ có sẵn sàng theo đuổi cách tiếp cận tương tự trong trường hợp xảy ra chiến tranh với một đối thủ sở hữu vũ khí hạt nhân hay không.
Dựa trên những cuộc trao đổi gần đây của tôi với các nhà hoạch định chính sách dân sự Đức, vấn đề này được xem là vô cùng rủi ro và có nguy cơ leo thang cao. Tuy nhiên, đây lại chính là điều NATO dự kiến sẽ làm nếu xảy ra chiến tranh với Nga, ít nhất về mặt lý thuyết. Trong một cuộc chiến tranh thông thường chống Nga hoặc các đối thủ tiềm tàng khác, học thuyết tác chiến đa miền mới của NATO kêu gọi tiến hành các cuộc tấn công sâu nhằm vào hệ thống phòng không, cơ sở hạ tầng trọng yếu và những nền tảng sản xuất công nghiệp cốt lõi của đối phương.
Chiến tranh cường độ cao giữa các cường quốc trong tương lai nhiều khả năng sẽ được đặc trưng bởi các cuộc tấn công chính xác tầm xa. Nga cũng đang theo đuổi một phương thức chiến tranh hệ thống nhằm làm suy giảm cơ sở công nghiệp quốc phòng, hậu cần hậu phương và hạ tầng trọng yếu của NATO.
Tuy nhiên, vẫn chưa rõ liệu các nhà lãnh đạo chính trị của Mỹ và châu Âu có thực sự chấp thuận việc tấn công những mục tiêu nằm sâu trong lãnh thổ nước Nga có vũ khí hạt nhân hay không. Qua những gì đã chứng kiến, Nga gần như chắc chắn sẽ đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân nếu chiến tranh nổ ra.
Ngoài các tuyên bố đe dọa, Moscow còn có thể xem những cuộc tấn công tầm xa là mối đe dọa trực tiếp đối với tính toàn vẹn của kho vũ khí hạt nhân, hệ thống phòng thủ tên lửa và mạng lưới cảnh báo sớm của mình.
Câu hỏi về việc sử dụng các đòn tấn công tầm xa như một công cụ phòng thủ càng trở nên cấp bách khi Đức có ý định mua tên lửa hành trình Tomahawk từ Mỹ. Những vũ khí này sẽ có rất ít giá trị răn đe nếu Nga tin rằng Berlin, vì sợ leo thang như các nhà hoạch định chính sách Đức mà tôi từng trao đổi, sẽ không bao giờ dám sử dụng chúng.
Quả thực, Nga rất có thể sẽ khoét sâu và phóng đại nỗi sợ này bằng cách đan xen các năng lực hạt nhân và thông thường, tương tự cách Trung Quốc bố trí vũ khí hạt nhân, phi hạt nhân và các hệ thống liên quan đan xen với nhau, khiến bất kỳ cuộc tấn công nào cũng có nguy cơ đánh trúng một thành phần liên quan đến hạt nhân.
Kinh nghiệm của phương Tây trong việc đánh giá một cách tỉnh táo nguy cơ leo thang và tác động của những cuộc tấn công sâu vào lãnh thổ Nga không mang lại nhiều lý do để lạc quan. Nỗi lo về leo thang hạt nhân đã nhiều lần làm chậm việc cung cấp các loại vũ khí cho Kyiv, từ HIMARS đến ATACMS, cũng như hạn chế việc sử dụng chúng để tấn công sâu trong lãnh thổ Nga, kể cả khi mục tiêu là những cơ sở quân sự rõ ràng nằm ngay bên kia biên giới.
Phần lớn các quyết định trì hoãn cuối cùng đều được đảo ngược, và những lằn ranh đỏ của Moscow hóa ra linh hoạt hơn nhiều so với những gì Nga công khai tuyên bố. Đây là một dữ kiện quan trọng đối với cuộc tranh luận về leo thang.
Tuy nhiên, đến nay Đức vẫn từ chối chuyển giao tên lửa hành trình Taurus cho Ukraine, còn công ty SpaceX của Mỹ không cho phép Kyiv sử dụng hệ thống vệ tinh Starlink trên lãnh thổ Nga. Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky được cho là đã đề nghị Trump giúp thay đổi chính sách đó.
Hơn nữa, các cuộc tranh luận công khai kéo dài về từng loại vũ khí đã giúp Nga có thời gian chuẩn bị trước, qua đó làm giảm tác động của những loại vũ khí này khi cuối cùng chúng được chuyển tới Ukraine.
Cho rằng sự do dự ấy sẽ tự động biến mất nếu xảy ra một cuộc đối đầu quân sự trực tiếp với Nga, khi các mối đe dọa và nguy cơ leo thang lớn hơn gấp bội, vừa ngây thơ vừa viển vông.
Trong những cuộc trao đổi của tôi với các quan chức quân sự NATO và lãnh đạo chính trị tại nhiều thủ đô châu Âu, tồn tại một khoảng cách rõ ràng giữa những gì các chỉ huy quân sự cho rằng họ được phép làm theo các khái niệm và học thuyết của NATO, với những gì lãnh đạo chính trị tại từng quốc gia thực sự sẵn sàng phê chuẩn.
Vì vậy, đã quá muộn để tiếp tục trì hoãn một cuộc tranh luận thực tế hơn về những điều châu Âu sẵn sàng làm và sẵn sàng mạo hiểm trong một cuộc chiến với Nga. Nhu cầu cấp bách của Ukraine về một cách tiếp cận phòng không chủ động hơn có thể tạo cơ hội để giới hoạch định chính sách và quân sự NATO hiểu rõ hơn lập trường của các nhà lãnh đạo chính trị trong việc kiểm soát nguy cơ leo thang hạt nhân thời chiến.
Các nhà lãnh đạo phương Tây cần hiểu một chiến dịch tấn công các mục tiêu trong lãnh thổ Nga sẽ đòi hỏi điều gì, đặt ra những yêu cầu nào đối với họ và có ý nghĩa ra sao đối với năng lực răn đe cũng như nguy cơ leo thang.
Một NATO phát đi tín hiệu đáng tin cậy rằng họ không chỉ cố gắng phòng thủ trước các tên lửa đang lao tới, mà còn sẵn sàng “bắn hạ người bắn cung”, sẽ củng cố năng lực răn đe và qua đó giúp ngăn chặn chiến tranh ngay từ đầu.
Ngược lại, nếu giới lãnh đạo chính trị công khai thể hiện sự do dự, họ có thể vô tình khiến Moscow tin rằng Nga có thể duy trì các cuộc tấn công ồ ạt nhằm vào những thành phố châu Âu mà không phải gánh chịu hậu quả tương xứng. Các đợt oanh kích Kyiv hằng đêm hiện nay đã cho thấy viễn cảnh đó sẽ trông như thế nào.
Franz-Stefan Gady là nghiên cứu viên về sức mạnh không gian mạng và xung đột tương lai tại Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS), nghiên cứu viên cấp cao kiêm nhiệm về quốc phòng tại Trung tâm An ninh Mới của Mỹ (CNAS), đồng thời là tác giả cuốn How the United States Would Fight China: The Risks of Pursuing a Rapid Victory.
