
Nguồn: James Leibold và Tenzin Dorjee, “The Next Phase of China’s Minority Crackdown,” Foreign Affairs, 30/07/2026
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Đồng hóa cưỡng bức giờ đây đã được luật hóa.
Khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập vào năm 1949, nước này được xác định rõ là một quốc gia đa dân tộc. Dù người Hán chiếm hơn 90% dân số, hiến pháp cùng các đạo luật ban hành sau đó vẫn trao cho các dân tộc thiểu số quyền tự trị tại một số khu vực cụ thể, đồng thời hứa hẹn để họ làm chủ tập thể như những “người chủ trong chính ngôi nhà của mình”.
Trong nhiều thập kỷ, thỏa thuận chính thức của đảng-nhà nước, dù được thực hiện không đồng đều và thường xuyên bị vi phạm, vẫn dựa trên quan niệm rằng sự thống nhất quốc gia sẽ được bảo đảm tốt hơn bằng cách công nhận khác biệt và trao cho các nhóm thiểu số quyền tự trị hạn chế về lãnh thổ, ngôn ngữ và chính trị, thay vì buộc họ phải hòa nhập vào văn hóa Hán.
Tuy nhiên, kể từ ngày 01/07 vừa qua, hội nhập quốc gia thông qua đồng hóa văn hóa cưỡng bức đã chính thức trở thành luật tại Trung Quốc. Hiến pháp vẫn định nghĩa nước này là một quốc gia đa dân tộc, nhưng việc thông qua Luật Thúc đẩy Tiến bộ và Đoàn kết Dân tộc đánh dấu một bước ngoặt quyết định, khi Bắc Kinh từ bỏ lời hứa về quyền tự trị lãnh thổ.
Đạo luật này thể chế hóa một dự án mang tính cưỡng ép nhằm kiến tạo một cộng đồng dân tộc Trung Hoa, trong đó các dân tộc thiểu số chỉ được phép tồn tại nếu phục vụ tầm nhìn của nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình về đất nước. Tầm nhìn đó bắt nguồn từ niềm tin rằng sự tương đồng tốt hơn tính đa dạng, và sự gắn kết quốc gia đòi hỏi một bản sắc văn hóa cùng một ngôn ngữ chung duy nhất.
Đạo luật mới không đánh dấu sự khởi đầu của chính sách đồng hóa. Trong hơn một thập kỷ qua, Tập đã thay thế giáo dục bằng tiếng dân tộc thiểu số bằng chương trình giảng dạy bằng tiếng Quan Thoại, siết chặt sự kiểm soát của đảng đối với tôn giáo và tái định hình lịch sử của các dân tộc thiểu số như những nhánh của một nền văn minh Trung Hoa thống nhất, liền mạch.
Điểm khác biệt là cách tiếp cận ấy giờ đây đã được củng cố trong luật pháp quốc gia do Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc ban hành. Điều đó cho thấy Bắc Kinh coi đây là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt đối với nhà nước và bảo vệ nó bằng thẩm quyền pháp lý cao nhất. Đạo luật cũng phân bổ trách nhiệm thực thi các chính sách đồng hóa xuống mọi cấp của bộ máy nhà nước và lan rộng ra toàn xã hội.
Chiến dịch tước đoạt văn hóa của Bắc Kinh vì thế sẽ bám rễ sâu hơn vào thực tiễn hành chính và cơ cấu thể chế, những nền tảng vốn rất khó bị tháo gỡ hoặc thay đổi. Ngay cả nếu một nhà lãnh đạo cởi mở hơn kế nhiệm Tập trong tương lai, việc khôi phục quyền tự trị cũng sẽ đòi hỏi một cuộc đại tu toàn diện đối với bộ máy hành chính, chính trị và văn hóa.
Nói cách khác, trong tương lai gần, Bắc Kinh đã đóng cánh cửa chung sống hòa bình và tự trói mình vào một mối quan hệ thù địch, mang tính “một mất một còn”, với các nhóm thiểu số mà trước đây nhà nước ít nhất còn chấp nhận phần nào ngôn ngữ và văn hóa riêng của họ.
ĐỒNG HÓA TRÊN TOÀN QUỐC
Chính sách chính thức của Trung Quốc, được xây dựng theo mô hình tự trị lãnh thổ dân tộc của Liên Xô, công nhận 56 dân tộc bình đẳng về mặt hình thức. Hiến pháp cam kết bảo vệ quyền và lợi ích của mọi dân tộc thiểu số, đồng thời trao cho họ quyền tự trị lãnh thổ tại những khu vực họ sinh sống tập trung.
Một đạo luật ban hành năm 1984 chính thức hóa các biện pháp bảo vệ và nhượng bộ dành cho các nhóm thiểu số như một phần của cơ chế tự trị lãnh thổ này. Tại nhiều khu vực, từ Tân Cương ở cực tây bắc đến Vân Nam ở phía tây nam, các nhóm thiểu số có quyền sử dụng ngôn ngữ riêng làm ngôn ngữ giảng dạy trong trường học, đồng thời duy trì truyền thống, văn hóa và thực hành tôn giáo của mình.
Ngay cả khi những bảo đảm ấy thường xuyên bị vi phạm, pháp luật vẫn duy trì nguyên tắc rằng các dân tộc không phải người Hán có những quyền tập thể riêng.
Tuy nhiên, Tập bắt đầu tháo dỡ có hệ thống các nền tảng của cơ chế này ngay sau khi trở thành Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm 2012. Việc ông hủy hoại quyền tự trị lãnh thổ thường được lý giải như phản ứng trước các đợt bất ổn nổ ra tại những khu vực dân tộc thiểu số ngay trước khi ông lên nắm quyền.
Năm 2008, các cuộc biểu tình bắt đầu ở Lhasa, thủ phủ Tây Tạng, đã leo thang thành một cuộc nổi dậy trên khắp cao nguyên. Năm 2009, một cuộc biểu tình của người Duy Ngô Nhĩ tại Urumqi, Tân Cương, biến thành bạo loạn và bạo lực trả đũa, khiến gần 200 người thiệt mạng theo số liệu chính thức.
Tuy nhiên, nguồn gốc chiến dịch của Tập xuất hiện từ trước đó rất lâu. Sự sụp đổ của Liên Xô trong thập niên 1990 đã thúc đẩy một số học giả và quan chức hàng đầu Trung Quốc xem xét lại việc trao quyền tự trị lãnh thổ cho các dân tộc thiểu số.
Từ khoảng thập niên đầu của thế kỷ XXI, những người ủng hộ cái gọi là chính sách dân tộc thế hệ thứ hai lập luận rằng cách tiếp cận theo mô hình Liên Xô của Trung Quốc đã củng cố ranh giới sắc tộc và tạo điều kiện cho chủ nghĩa ly khai.
Họ cảnh báo rằng các bản sắc, thể chế và ngôn ngữ riêng biệt của các nhóm thiểu số đang cản trở nỗ lực xây dựng một quốc gia gắn kết. Dù hoàn cảnh Trung Quốc khác căn bản với Liên Xô, bởi các khu tự trị bị chính quyền trung ương kiểm soát chặt chẽ hơn nhiều, không có chủ quyền và cũng không tồn tại con đường pháp lý dẫn đến độc lập, những tiếng nói có ảnh hưởng này vẫn cho rằng ngay cả quyền tự trị hạn chế cũng là một mối nguy.
Theo lập luận của họ, chính sách hiện hành có thể đẩy Trung Quốc đi vào vết xe đổ của Liên Xô, quốc gia đã tan rã dọc theo ranh giới của các nước cộng hòa được tổ chức trên cơ sở dân tộc.
Dự án xây dựng quốc gia của Tập phát triển từ chính luận điểm cấp tiến đó. Ông chủ trương làm suy yếu các ngôn ngữ thiểu số, phá bỏ cơ sở tôn giáo và xóa mờ ký ức lịch sử của các cộng đồng, những yếu tố có thể khuyến khích họ đòi hỏi quyền tự quản tập thể.
Tập cũng tìm cách tái định hình đời sống nội tâm của các dân tộc không phải người Hán, khiến việc hình dung, huy động hoặc truyền đạt những yêu sách về một bản sắc chính trị riêng biệt trở nên khó khăn hơn.
Học giả người Mông Cổ Uradyn Bulag gọi đây là “sự diệt vong về mặt chính trị” (politicide), tức phá hủy khả năng của một dân tộc trong việc tự nhận thức và hành động như một cộng đồng chính trị riêng biệt.
Chiến dịch đồng hóa nhắm vào mọi nhóm thiểu số, nhưng tập trung đặc biệt vào ba dân tộc khác biệt nhất về văn hóa so với người Hán: người Mông Cổ, người Tây Tạng và người Duy Ngô Nhĩ.
Từ năm 2017, chính quyền Tân Cương đã giam giữ khoảng một triệu người Duy Ngô Nhĩ và các cộng đồng Hồi giáo gốc Turk khác trong những trại cải tạo chính trị.
Bắc Kinh cũng đưa gần một triệu trẻ em Tây Tạng vào các trường nội trú do nhà nước quản lý, kể cả trẻ ở độ tuổi mầm non. Việc tách các em khỏi gia đình và áp dụng chương trình giáo dục chủ yếu bằng tiếng Quan Thoại làm suy yếu khả năng truyền lại văn hóa giữa các thế hệ.
Năm 2020, khi Nội Mông yêu cầu các môn học chính phải được giảng dạy bằng tiếng Quan Thoại, học sinh và phụ huynh người Mông Cổ tổ chức tẩy chay và biểu tình. Đáp lại, chính quyền bắt giữ người biểu tình, gây áp lực buộc các gia đình đưa con trở lại trường, trừng phạt giáo viên và thanh trừng các quan chức người Mông Cổ khỏi những vị trí lãnh đạo của đảng.
Tác động của các nỗ lực này đã rất rõ ràng. Ngay từ năm 2016, tờ Thời báo Hoàn Cầu theo chủ nghĩa dân tộc đã đưa tin rằng một số trẻ em Tây Tạng đang mất dần khả năng trò chuyện trôi chảy với cha mẹ và ông bà.
Những đoạn video được chia sẻ trên mạng xã hội trong các tháng gần đây còn cho thấy trẻ em gặp khó khăn khi phát âm chính tên của mình bằng tiếng Tây Tạng.
Đối với Bắc Kinh, những dấu hiệu ấy cho thấy tiến trình đồng hóa cưỡng bức đang phát huy tác dụng như dự kiến. Theo logic của Tập và những trí thức đi trước, việc xóa bỏ bản sắc văn hóa và ngôn ngữ riêng biệt sẽ khiến các phong trào ly khai dựa trên lãnh thổ khó tích lũy động lực hơn.
RÀNG BUỘC BẰNG PHÁP LUẬT
Tuy nhiên, cho đến trước ngày 01/07 vừa qua, các chính sách đồng hóa này vẫn gặp một trở ngại: chúng đi ngược lại những cam kết pháp lý mà nhà nước Trung Quốc đã đưa ra với công dân.
Giờ đây, Tập đã thu hẹp khoảng cách bất tiện giữa luật pháp và chính sách. Ông không bãi bỏ khuôn khổ hiện hành vốn bảo đảm quyền tự trị; về mặt hình thức, khuôn khổ đó vẫn còn hiệu lực. Thay vào đó, ông áp đặt một hệ thống pháp lý mới nhằm thể chế hóa đồng hóa văn hóa, qua đó tước bỏ mọi ý nghĩa thực chất của quyền tự trị.
Đạo luật đoàn kết dân tộc mới biến tiếng Quan Thoại thành ngôn ngữ nền tảng trong giáo dục và đời sống hành chính trên khắp Trung Quốc.
Nó quy định rằng bảo tàng, di sản, công trình công cộng và tên địa danh phải thể hiện “các biểu tượng văn hóa chung của Trung Quốc”, đồng thời yêu cầu các cơ quan nhà nước sử dụng công nghệ mới, bao gồm cả trí tuệ nhân tạo, để quảng bá hình ảnh đã được chuẩn hóa về dân tộc Trung Hoa.
Ngay cả đời sống gia đình cũng bị lôi vào dự án này. Cha mẹ và người giám hộ của trẻ em dân tộc thiểu số được yêu cầu giáo dục các em yêu đảng, yêu tổ quốc và yêu dân tộc Trung Hoa.
Những người vi phạm đạo luật, bao gồm cả cá nhân và tổ chức bên ngoài Trung Quốc, có thể bị cáo buộc gây “chia rẽ sắc tộc” và đối mặt với các hình phạt hành chính, giam giữ hoặc thậm chí truy tố hình sự.
Đạo luật được trình bày như một biện pháp củng cố sự gắn kết quốc gia. Trọng tâm của nó là một trong những công thức đặc trưng của Tập: “rèn giũa ý thức cộng đồng mạnh mẽ cho dân tộc Trung Hoa”.
Trong các ngôn ngữ khác, cụm từ này có thể nghe tương đối ôn hòa, như một hình thức chủ nghĩa dân tộc công dân mang màu sắc Trung Quốc. Nhưng trong tiếng Trung, nó mang sắc thái chủ động và quyết liệt hơn nhiều. Từ “rèn giũa” được dùng để mô tả quá trình đúc quặng nóng chảy thành thứ sắt không thể bẻ gãy.
Theo cách sử dụng của Tập, mục tiêu không chỉ là khuyến khích lòng trung thành với đảng-nhà nước, mà còn là định hình ý thức của từng cá nhân.
Nói cách khác, đây là một dự án rèn đúc tâm hồn, tái cấu trúc thói quen, sự gắn bó và ký ức lịch sử mà các dân tộc thiểu số dựa vào để hiểu mình là ai và thuộc về nơi nào.
Những lợi ích và hệ quả của đạo luật có thể được lý giải thông qua sự phân biệt của nhà lý luận chính trị Will Kymlicka giữa các dân tộc thiểu số bị thực dân hóa và các cộng đồng nhập cư.
Trong nhiều xã hội tự do, người nhập cư mong muốn được hưởng quyền công dân bình đẳng, được bảo vệ khỏi phân biệt đối xử và được tạo điều kiện duy trì tập quán văn hóa hoặc tôn giáo.
Ngược lại, các dân tộc thiểu số bị sáp nhập vào những quốc gia mới một cách không tự nguyện. Họ dựa vào lãnh thổ tổ tiên, ngôn ngữ và các thể chế được truyền lại để khẳng định sự tồn tại liên tục của cộng đồng và yêu cầu quyền tự quản.
Điều họ đòi hỏi không chỉ là được hòa nhập với tư cách cá nhân, mà còn là quyền gìn giữ và truyền lại bản sắc tập thể qua nhiều thế hệ.
Nhiều người Mông Cổ, Tây Tạng và Duy Ngô Nhĩ không sẵn lòng đánh đổi sự đồng hóa để lấy bình đẳng cơ hội. Những cuộc biểu tình đường phố lặp đi lặp lại của các cộng đồng này, ngay cả khi phải đối mặt với trấn áp dữ dội, cho thấy họ chí ít mong muốn có một mức độ tự trị thực chất trong lòng Trung Quốc hoặc một cách thức bảo tồn nền văn hóa riêng.
Dưới vỏ bọc hòa nhập công dân, điều mà đạo luật mới thực sự áp đặt là yêu cầu họ phải trở thành một phần của bản sắc Trung Quốc thống nhất do đảng định nghĩa.
Thông điệp được gửi đi là ngôn ngữ, lịch sử và bản sắc của các công dân không phải người Hán chỉ được chấp nhận nếu có thể lồng ghép vào câu chuyện quốc gia thống nhất của Trung Quốc.
MẶT TRÁI CỦA SỰ THỐNG NHẤT
Đạo luật không cấm mọi biểu hiện đa dạng. Các quan chức nhiều khả năng vẫn hoan nghênh trang phục, ẩm thực và âm nhạc của các dân tộc thiểu số, ít nhất tại những nơi chúng có thể được thương mại hóa thành các màn trình diễn nhiều màu sắc phục vụ du khách người Hán và quan chức đảng, hoặc được trưng bày như bằng chứng cho chủ nghĩa đa nguyên hài hòa của Trung Quốc.
Nhưng đây là một dạng đa dạng đã bị hạ cấp thành trình diễn. Nó sẽ được kiểm duyệt nghiêm ngặt và gần như bị tách khỏi chính những cộng đồng đã tạo ra nó.
Nếu những biểu hiện ấy thách thức chuẩn mực Hán, gợi nhắc đến một bản sắc tập thể riêng biệt hoặc hậu thuẫn cho yêu sách tự quản có ý nghĩa, chúng sẽ không được dung thứ.
Các cộng đồng thiểu số muốn gìn giữ văn hóa của mình sẽ bị đẩy vào một cuộc sống hai mặt: công khai tuân thủ nhưng âm thầm bảo tồn.
Việc giảng dạy ngôn ngữ, thực hành tôn giáo và lưu giữ ký ức lịch sử nhiều khả năng sẽ phải lùi sâu hơn vào trong gia đình, phụ thuộc nhiều hơn vào các mạng lưới phi chính thức và ngày càng dựa vào những thể chế hải ngoại nằm ngoài Trung Quốc đại lục.
Điều đó sẽ tiếp tục nới rộng khoảng cách giữa hình ảnh đoàn kết được nhà nước phô bày với trải nghiệm cưỡng ép mà các cộng đồng thực sự phải đối mặt.
Tập có thể tin rằng đạo luật mới sẽ bảo đảm ổn định chính trị cho nhiều thế hệ bằng cách làm giảm nguy cơ ly khai. Nhưng việc luật hóa một dự án đồng nhất văn hóa vẫn có thể phản tác dụng.
Trong nhiều thập kỷ, những nhân vật nổi bật như Đạt Lai Lạt Ma, nhà văn người Hán Vương Lực Hùng và nhà kinh tế học người Duy Ngô Nhĩ Ilham Tohti từng đứng trên một nền tảng chính trị trung dung ngày càng thu hẹp giữa đồng hóa và độc lập.
Theo những cách khác nhau, họ lập luận rằng quyền tự trị thực chất, chứ không phải độc lập, là con đường thực tế nhất để hòa giải giữa các dân tộc.
Họ tin rằng nếu được trao đủ quyền tự trị, các nhóm thiểu số có thể chung sống hòa bình với nhà nước Trung Quốc mà không phải hy sinh văn hóa của mình hay thách thức quyền lực của Bắc Kinh.
Bằng cách làm cho lời hứa tự trị trở nên rỗng tuếch, Bắc Kinh đang đóng cánh cửa dẫn đến một thỏa hiệp như vậy.
Đảng tuyên bố mình là bên duy nhất có quyền lựa chọn và công nhận người kế vị Đạt Lai Lạt Ma. Các tác phẩm của Vương Lực Hùng bị cấm xuất bản tại Trung Quốc, còn bản thân ông bị cấm rời khỏi đất nước từ năm 2015. Ilham Tohti đang thụ án chung thân trong nhà tù Trung Quốc với những cáo buộc ly khai mang tính ngụy tạo.
Thay vì bảo đảm ổn định, chương trình hội nhập cưỡng bức có thể củng cố chính những yêu sách chính trị vẫn tồn tại ngoài tầm kiểm soát của nhà nước.
Trong giai đoạn cuối của Liên Xô, làn sóng phản đối chính sách Nga hóa đã thúc đẩy sự huy động trên cơ sở dân tộc, đặc biệt tại các nước cộng hòa Baltic, nơi các phong trào cải cách cuối cùng phát triển thành phong trào đòi độc lập.
Tương tự, tại Nam Tư, việc cựu lãnh đạo Serbia Slobodan Milošević tước bỏ quyền tự trị của Kosovo vào năm 1989 trở thành biểu tượng của xu hướng tập quyền Serbia, đồng thời phá hủy niềm tin vào cơ chế liên bang vốn hứa hẹn bảo đảm dung hòa văn hóa và ngôn ngữ.
Năng lực cưỡng chế mạnh hơn của Trung Quốc khiến những cuộc huy động tương tự khó xảy ra, ít nhất vào lúc này.
Tuy nhiên, khi Bắc Kinh xóa bỏ triển vọng về một quyền tự trị có ý nghĩa cho các dân tộc thiểu số trong lòng Trung Quốc, những lời kêu gọi độc lập có thể xuất hiện nhiều hơn trong cộng đồng các nhà hoạt động Mông Cổ, Tây Tạng và Duy Ngô Nhĩ lưu vong.
Ngày 02/07, một ngày sau khi đạo luật mới có hiệu lực, nhà hoạt động Tây Tạng ủng hộ độc lập Lobga Rangzen đã tự thiêu bên ngoài trụ sở Liên Hiệp Quốc tại New York để phản đối sự cai trị của Trung Quốc đối với Tây Tạng.
Một hành động bi thảm đơn lẻ chưa tạo thành xu hướng. Tuy nhiên, vụ tự thiêu cho thấy rõ tác động phân cực của việc phá hủy khoảng không trung dung giữa đồng hóa và ly khai.
Sau khi tước bỏ quyền tự trị của các dân tộc thiểu số, Tập có thể sẽ nhận ra rằng lựa chọn duy nhất còn lại để duy trì sự thống nhất quốc gia là một trạng thái cưỡng bức vĩnh viễn.
James Leibold là Giáo sư Danh dự tại Đại học La Trobe.
Tenzin Dorjee là Giám đốc Nghiên cứu và Vận động tại Viện Hành động Tây Tạng.
