Tại sao Ấn Độ vẫn sẽ phụ thuộc vào Mỹ trong thời gian này?

Nguồn: C. Raja Mohan, “India Is Sticking With America—for Now”, Foreign Affairs, 27/08/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Trong nhiệm kỳ thứ hai, Tổng thống Donald Trump đã đặt quan hệ Mỹ – Ấn trước một phép thử nghiêm trọng. Ông áp thuế lên hàng hóa Ấn Độ, đe dọa áp dụng các biện pháp trừng phạt thứ cấp, xích lại gần Pakistan một cách đáng kể, đồng thời nhiệt tình thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc — quốc gia mà Ấn Độ coi là mối đe dọa quân sự lâu dài lớn nhất. Tuy nhiên, những căng thẳng này không dẫn tới sự đổ vỡ quan hệ như một số nhà quan sát từng dự đoán, cũng không buộc Ấn Độ phải định hướng lại nền tảng chính sách đối ngoại của mình. Thay vào đó, New Delhi đã áp dụng một chiến lược có thể gọi là “Mỹ cộng”: tìm cách duy trì quan hệ đối tác với Mỹ, đồng thời mở rộng quan hệ với các cường quốc khác, đặc biệt là các đồng minh của Washington.

Thủ tướng Narendra Modi đã phản ứng trước những động thái khiêu khích của Trump bằng một sự kiềm chế khác thường, đồng thời chống lại những sức ép trong nước đòi xa rời Washington. Với Mỹ, Ấn Độ tiếp tục đàm phán thương mại, tăng cường hợp tác quốc phòng và mở rộng quan hệ về công nghệ cũng như thương mại. New Delhi vẫn duy trì Nhóm Bộ Tứ (Quad) — cơ chế an ninh khu vực gồm Ấn Độ, Australia, Nhật Bản và Mỹ — đồng thời xích lại gần hơn với các đồng minh của Washington, duy trì quan hệ với Nga và tìm cách hạ nhiệt căng thẳng với Trung Quốc. Những nỗ lực này không phải là dấu hiệu cho thấy Ấn Độ đang tách khỏi Mỹ hay chuyển hẳn sang một chiến lược đa liên kết. New Delhi đang cố gắng giảm mức độ dễ bị tổn thương trước tính bất ổn trong chính sách của Mỹ, nhưng vẫn thừa nhận rằng Washington là đối tác quan trọng nhất của mình. Xét cho cùng, nếu cần một cường quốc làm chỗ dựa chiến lược, Ấn Độ hiện không có lựa chọn nào tốt hơn. Trung Quốc và Nga sẽ không bao giờ mua hàng hóa và dịch vụ của Ấn Độ ở quy mô tương đương Mỹ, còn Nga cũng không đủ khả năng giúp Ấn Độ cân bằng sức mạnh với Trung Quốc. Chính những thực tế đó đã giúp bảo vệ quan hệ Mỹ – Ấn cho đến nay. Tuy nhiên, nếu Trump tiếp tục gia tăng sức ép, dư luận trong nước có thể buộc Modi phải từ bỏ cách tiếp cận kiềm chế hiện nay.

NGÀY CÀNG XA CÁCH

Cho đến năm 2024, Modi và Đảng Bharatiya Janata (BJP) cầm quyền tỏ ra rất hào hứng trước viễn cảnh Trump trở lại Nhà Trắng. Modi từng thiết lập một mối quan hệ cá nhân nồng ấm khác thường với Trump trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông. Trong các năm 2019 và 2020, hai nhà lãnh đạo cùng chủ trì những sự kiện quy mô lớn tại Houston và Ahmedabad, mở rộng hợp tác quốc phòng và phát triển một cách tiếp cận tương đối đồng thuận về an ninh châu Á. Những ngày đầu nhiệm kỳ thứ hai của Trump dường như cho thấy mối quan hệ cá nhân thân thiện đó sẽ tiếp tục. Tại cuộc gặp ở Nhà Trắng vào tháng 2/2025, hai bên công bố một chương trình nghị sự đầy tham vọng về thương mại, quốc phòng, năng lượng và công nghệ. Để thể hiện thiện chí, Modi nhượng bộ Trump bằng cách cắt giảm một số mức thuế của Ấn Độ đối với hàng hóa Mỹ và tiếp nhận một máy bay chở những người nhập cư bị Mỹ trục xuất.

Tuy nhiên, mối quan hệ nhanh chóng trở nên lạnh nhạt. Tháng 5/2025, Trump tự nhận công lao trong việc chấm dứt một cuộc xung đột quân sự ngắn giữa Ấn Độ và Pakistan. Trong khi Islamabad ca ngợi sự can thiệp của ông, New Delhi từ chối thừa nhận Trump đã đóng bất kỳ vai trò trung gian nào, kiên định với lập trường lâu nay rằng các tranh chấp với Pakistan là vấn đề song phương và không cần sự hòa giải từ bên ngoài. Sau đó, Trump lại thể hiện sự thiện cảm đối với Tổng tư lệnh quân đội Pakistan Syed Asim Munir, đồng thời nâng vị thế của Pakistan trong các ưu tiên ngoại giao của Nhà Trắng bằng cách sử dụng Islamabad làm trung gian trong các cuộc đàm phán với Iran và ủng hộ một thỏa thuận an ninh ba bên giữa Pakistan, Saudi Arabia và Thổ Nhĩ Kỳ.

Trump cũng trở nên gần gũi hơn với Trung Quốc, một đối thủ chiến lược khác của Ấn Độ. Trong nhiệm kỳ đầu tiên, ông từng tìm cách xây dựng các quan hệ đối tác mạnh hơn với Australia, Ấn Độ, Indonesia và Nhật Bản nhằm hình thành một kiến trúc khu vực mới ở châu Á để kiềm chế Trung Quốc. Nhưng sang nhiệm kỳ thứ hai, Trump lại dành nhiều thời gian vun đắp quan hệ với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, thậm chí từng đề cập sơ bộ tới khả năng thiết lập một cơ chế “G-2”, theo đó Mỹ và Trung Quốc sẽ thường xuyên gặp gỡ để giải quyết các vấn đề toàn cầu. Ông cũng không tổ chức hội nghị thượng đỉnh thường niên của Quad, làm dấy lên hoài nghi về việc liệu Mỹ còn cam kết với cơ chế an ninh này và với mục tiêu ngăn Trung Quốc chi phối châu Á hay không. Căng thẳng thương mại càng làm quan hệ Mỹ – Ấn xấu đi. Khi Trump áp mức thuế cao đối với Ấn Độ vì chính sách bảo hộ và vì nước này mua dầu của Nga, nhiều người Ấn Độ cảm thấy đất nước họ bị nhắm tới một cách bất công. Washington đã tự dành cho mình và một số quốc gia châu Âu các ngoại lệ để tiếp tục mua dầu của Nga, trong khi chính quyền Biden trước đó thậm chí còn khuyến khích Ấn Độ nhập dầu Nga theo cơ chế giá trần như một phần của nỗ lực ổn định thị trường dầu mỏ toàn cầu. Đến cuối năm 2025, Ấn Độ phải đối mặt với một số mức thuế cao nhất trong số các đối tác thương mại của Mỹ.

Chính vì vậy, dư luận Ấn Độ bắt đầu quay lưng với Trump từ năm 2025. Lãnh đạo phe đối lập Rahul Gandhi cáo buộc Modi đầu hàng trước sức ép của Mỹ. Những người vốn hoài nghi Washington từ lâu cho rằng Mỹ một lần nữa chứng minh mình là một đối tác không đáng tin cậy. Những người chỉ trích Modi vận động nông dân phản đối hiệp định thương mại Mỹ – Ấn bằng cách mô tả việc mở cửa thận trọng thị trường nông nghiệp Ấn Độ cho hàng hóa Mỹ là một sự nhượng bộ quá mức. Một số lực lượng chính trị thậm chí cho rằng Ấn Độ sẽ có lợi hơn nếu xây dựng quan hệ chặt chẽ hơn với Trung Quốc và Nga. Tuy nhiên, Modi phần lớn phớt lờ những lời kêu gọi đó và tránh đối đầu trực diện với Trump. Năm ngoái, Ấn Độ hoàn tất một khuôn khổ hợp tác quốc phòng mới kéo dài mười năm với Mỹ nhằm làm sâu sắc hơn hợp tác an ninh song phương và khu vực. Khi hội nghị thượng đỉnh thường niên của lãnh đạo Quad không thể diễn ra trong năm 2025 do Trump từ chối tham dự, New Delhi tìm cách duy trì cơ chế này bằng việc tổ chức một cuộc họp cấp ngoại trưởng thay thế. Modi cũng tiếp tục theo đuổi các cuộc đàm phán thương mại khó khăn và đầu tư đáng kể vốn chính trị để vượt qua sự kháng cự của bộ máy thương mại vốn mang nặng tư tưởng bảo hộ ở Ấn Độ. Về phần mình, Mỹ cũng có một số động thái khiêm tốn nhằm hàn gắn quan hệ. Chẳng hạn, vào tháng 8, đại sứ Mỹ tại New Delhi gọi khu vực Kashmir tranh chấp là “một phần quan trọng của Ấn Độ”, qua đó phát tín hiệu rằng Washington vẫn nhạy cảm với lập trường của New Delhi về vấn đề này.

VẠN SỰ KHỞI ĐẦU NAN

Sự kiềm chế của Modi phần lớn bắt nguồn từ thực tế rằng Ấn Độ đã mất nhiều năm mới xây dựng được một mối quan hệ vững chắc với Mỹ. Trong nhiều thập kỷ sau khi giành độc lập, sự nghi kỵ đối với Washington đã ăn sâu trong giới chính trị, bộ máy quốc phòng, giới quan liêu và cộng đồng khoa học Ấn Độ. Tâm lý đó càng được củng cố bởi liên minh giữa Mỹ và Pakistan, việc Washington bắt tay với Trung Quốc trong Chiến tranh Lạnh, khuynh hướng xã hội chủ nghĩa của Ấn Độ trong những thập kỷ sau năm 1947 và quan hệ gần gũi của New Delhi với Liên Xô. Sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh mở ra cơ hội hàn gắn quan hệ Mỹ – Ấn, nhưng tiến trình diễn ra chậm chạp. Hiệp định hạt nhân dân sự năm 2005 giữa Thủ tướng Manmohan Singh và Tổng thống George W. Bush là bước đột phá mang tính quyết định, chấm dứt tình trạng cô lập hạt nhân của Ấn Độ và mở đường cho một quan hệ đối tác chiến lược rộng hơn. Tuy nhiên, hiệp định cũng vấp phải sự phản đối quyết liệt từ BJP theo chủ nghĩa dân tộc Hindu, phe tả cộng sản và những bộ phận quan trọng trong chính Đảng Quốc đại của Singh.

Khi Modi trở thành thủ tướng năm 2014, ông quyết tâm củng cố quan hệ với Washington. Ông xây dựng quan hệ làm việc hiệu quả với ba đời tổng thống Mỹ liên tiếp: Barack Obama, Donald Trump và Joe Biden. Modi thúc giục giới chức, lực lượng vũ trang và cộng đồng khoa học Ấn Độ tăng cường hợp tác với các đối tác Mỹ. Chính phủ của ông ký những thỏa thuận quốc phòng nền tảng bị trì hoãn từ lâu, mở rộng hợp tác tình báo và quân sự, hồi sinh Quad và thúc đẩy quan hệ sâu sắc hơn với Mỹ trong các lĩnh vực công nghệ trọng yếu và mới nổi. Vị thế chính trị áp đảo của Modi trong nước cũng giúp ông kiềm chế những phản ứng tiêu cực trước quan hệ ngày càng gần gũi với Washington. Đến thời điểm Trump trở lại Nhà Trắng, hợp tác Mỹ – Ấn đã được củng cố bởi những mối liên hệ ngày càng sâu rộng giữa các doanh nghiệp, trường đại học và cộng đồng người Ấn tại Mỹ. Trong bài phát biểu trước Quốc hội Mỹ năm 2016, Modi tuyên bố rằng Ấn Độ đã vượt qua “sự do dự mang tính lịch sử” trong quan hệ với Mỹ. Ngày nay, quan hệ Mỹ – Ấn đã đạt được mức độ bền vững mà cả sự thất thường của Trump lẫn truyền thống bài Mỹ lâu đời ở Ấn Độ đều khó có thể dễ dàng xóa bỏ. Tham vọng kinh tế, kế hoạch quân sự và khát vọng công nghệ của Ấn Độ giờ đây đều gắn với Mỹ ở một mức độ đáng kể.

ĐA DẠNG HÓA, NHƯNG KHÔNG RỜI XA MỸ

Dĩ nhiên, kể từ khi lên nắm quyền, Modi cũng tăng cường quan hệ với nhiều cường quốc khác. Năm 2023, Nga trở thành nhà cung cấp dầu lớn nhất của Ấn Độ. Và mặc dù tỷ trọng của Nga trong nhập khẩu vũ khí của Ấn Độ đã giảm trong hai thập kỷ qua, Moscow vẫn là một nhà cung cấp quan trọng cho quân đội nước này. Những nỗ lực đa dạng hóa ngoại giao của Modi cũng mở rộng tới Trung Quốc. Khi mới nhậm chức, ông từng hy vọng có thể cải thiện quan hệ với Bắc Kinh, nhưng một loạt khủng hoảng quân sự vào các năm 2014, 2017 và 2020 đã làm gián đoạn kế hoạch đó. Hiện nay, New Delhi rất muốn hạ nhiệt căng thẳng với Bắc Kinh, nhằm giảm nguy cơ xung đột, tìm kiếm một thỏa thuận biên giới và phòng ngừa khả năng quan hệ Mỹ – Trung cải thiện đáng kể. Kể từ năm 2024, Ấn Độ đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho chuyên gia Trung Quốc xin thị thực, nối lại các chuyến bay thẳng giữa hai nước và dỡ bỏ một số hạn chế đối với đầu tư Trung Quốc. Tháng 9 tới, Tập Cận Bình dự kiến có chuyến thăm đầu tiên tới Ấn Độ kể từ năm 2019.

Nhiều nhà phân tích gọi những động thái hướng tới Bắc Kinh và Moscow này là một chiến lược “đa liên kết”, tức cân bằng quan hệ với nhiều đối tác mà không cam kết đi theo bất kỳ một khối hay quốc gia nào. Tuy nhiên, cách mô tả đó chưa hoàn toàn chính xác. Một khái niệm phù hợp hơn là “Mỹ cộng”. Ấn Độ vốn từ lâu đã có xu hướng phòng ngừa rủi ro bằng cách duy trì nhiều quan hệ song song, nhưng hiện nước này đã đặt khá nhiều kỳ vọng vào Mỹ. Khi đa dạng hóa các mối quan hệ, New Delhi chủ yếu hướng tới các đồng minh và đối tác của Mỹ như Australia, Canada, Nhật Bản, Anh và các nước châu Âu. Chiến lược tăng trưởng của Ấn Độ gắn với những đối tác này sâu sắc hơn bao giờ hết.

Ấn Độ hiểu rằng cả Trung Quốc lẫn Nga đều không thể thay thế Mỹ với tư cách đối tác kinh tế có giá trị tương đương. Mỹ là thị trường lớn nhất của Ấn Độ đối với hàng hóa và dịch vụ, đồng thời là nguồn cung vốn và công nghệ quan trọng. Tổng kim ngạch thương mại hàng hóa và dịch vụ Mỹ – Ấn đạt khoảng 240 tỷ USD trong năm 2025, với cán cân nghiêng về phía Ấn Độ. Trung Quốc cũng là một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ, nhưng quan hệ này mất cân đối nghiêm trọng: năm 2025, thâm hụt thương mại hàng hóa của Ấn Độ với Trung Quốc vượt 110 tỷ USD. Bắc Kinh là nguồn cung quan trọng về hàng chế tạo, nhưng không thể đem lại cho Ấn Độ một thị trường có quy mô tương đương Mỹ, cũng không thể cung cấp khả năng tiếp cận một phổ công nghệ tiên tiến rộng như Washington. Tương tự, Nga nhập khẩu rất ít hàng hóa Ấn Độ và hiện cũng không phải là nguồn cung đáng kể các công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo.

Ngoại giao thương mại gần đây của Ấn Độ phản ánh rõ chiến lược “Mỹ cộng” này. Sau khi từ chối tham gia Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) năm 2019 — một khuôn khổ mà New Delhi lo ngại Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng áp đảo — Ấn Độ đã ký các hiệp định thương mại tự do với New Zealand, Anh và Liên minh châu Âu, mở rộng hợp tác kinh tế với Australia và nối lại đàm phán thương mại với Canada. Mỹ và Ấn Độ cũng hoàn tất một thỏa thuận thương mại quan trọng vào tháng 2, thỏa thuận đầu tiên thuộc loại này giữa hai nước, với mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 500 tỷ USD vào năm 2030. Tuy nhiên, Trump vẫn chưa chính thức phê chuẩn thỏa thuận và tiếp tục tìm kiếm những biện pháp mới để áp thuế lên hàng hóa Ấn Độ.

Ấn Độ cũng dựa vào Mỹ và các đồng minh của Washington về an ninh. Căng thẳng dọc biên giới tranh chấp Trung – Ấn đã giảm sau những cuộc đụng độ chết người năm 2020, nhưng Trung Quốc vẫn là đối thủ chiến lược dài hạn lớn nhất của Ấn Độ. Cán cân quân sự thông thường dọc biên giới ngày càng nghiêng về phía Bắc Kinh. Trung Quốc chi tiêu quốc phòng gấp khoảng bốn lần Ấn Độ, đã xây dựng một hiện diện quân sự lớn ở Tây Tạng phía bên kia dãy Himalaya, tiếp tục mở rộng hoạt động hải quân tại Ấn Độ Dương và ngày càng tăng cường hợp tác quốc phòng với Pakistan. Washington mang lại cho New Delhi khả năng tiếp cận tình báo, công nghệ quân sự tiên tiến, các cuộc tập trận chung và một mạng lưới quan hệ đối tác an ninh rộng hơn. Quad tiếp tục có tiềm năng trở thành một cơ chế hàng hải khu vực giúp hạn chế khả năng Trung Quốc thống trị các vùng biển châu Á. Ấn Độ cũng mở rộng hợp tác với các đồng minh của Mỹ về sản xuất quốc phòng, công nghệ, chuỗi cung ứng có khả năng chống chịu và an ninh hàng hải.

Ngay cả nếu muốn, Ấn Độ cũng không thể quay sang Trung Quốc hoặc Nga để đáp ứng những nhu cầu đó. New Delhi vẫn phụ thuộc vào Moscow đối với một số loại vũ khí và linh kiện thay thế, nhưng khả năng Nga giúp kiềm chế Trung Quốc đã suy giảm mạnh. Kể từ khi phát động cuộc xâm lược toàn diện Ukraine năm 2022, Nga trở nên quá phụ thuộc vào Trung Quốc để có thể đóng vai trò cân bằng Bắc Kinh một cách thực chất. BRICS và Tổ chức Hợp tác Thượng Hải — hai cơ chế mà Trung Quốc có ảnh hưởng lớn và Nga hậu thuẫn — cũng không thể cung cấp một đối trọng chiến lược tương tự. Ấn Độ hiểu rằng Washington có những lý do kinh tế và chính trị riêng để ổn định quan hệ với Bắc Kinh, nhưng New Delhi cũng tin rằng sự cạnh tranh mang tính cấu trúc giữa Mỹ và Trung Quốc — về công nghệ, sức mạnh hàng hải, liên minh và trật tự khu vực — sẽ không biến mất. Vì thế, ngay cả khi Trump tạm thời mềm mỏng hơn với Bắc Kinh, nền tảng cấu trúc cho hợp tác Mỹ – Ấn nhiều khả năng vẫn tồn tại.

GIỚI HẠN CUỐI CÙNG CỦA SỰ KIỀM CHẾ

Cho đến nay, Modi đã cố gắng hạn chế thiệt hại mà chính sách của Trump gây ra cho quan hệ song phương. Nhưng khả năng làm điều đó của ông cũng có giới hạn. Một bộ phận ngày càng lớn trong giới chính trị Ấn Độ muốn thấy New Delhi cứng rắn hơn với Washington, ngay cả khi điều đó có thể gây tổn hại cho chính Ấn Độ. Mối đe dọa trực tiếp nhất đối với quan hệ Mỹ – Ấn hiện nay là một dự luật được đề xuất tại Mỹ, cho phép áp thuế lên tới 100% đối với những quốc gia mua năng lượng của Nga. Nếu dự luật trở thành luật và Trump không miễn trừ cho Ấn Độ, nó sẽ gây thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế nước này và củng cố cảm giác trong xã hội Ấn Độ rằng Mỹ không còn là một đối tác tự nhiên. Nếu Washington nhắm riêng vào Ấn Độ trong khi vẫn dành ngoại lệ cho các nước khác, tâm lý bài Mỹ vốn lâu nay chỉ âm ỉ có thể bùng phát trở lại.

Cho đến gần đây, vị thế chính trị áp đảo trong nước của Modi đã giúp ông bảo vệ chính sách đối với Mỹ khỏi những chỉ trích nội bộ. Tuy nhiên, các cuộc biểu tình gần đây của giới trẻ, khởi phát từ vụ rò rỉ đề thi, đã làm suy giảm phần nào hình ảnh bất khả xâm phạm của ông. Nếu quyền lực trong nước của Modi tiếp tục bị xói mòn, ông có thể phải đối mặt với sức ép lớn hơn từ cả cánh hữu lẫn cánh tả trước điều mà họ coi là thái độ quá nhún nhường với Trump, và cuối cùng có thể nhận thấy rằng việc công khai thách thức Washington mang lại lợi ích chính trị.

Tâm lý bài Mỹ gia tăng chưa chắc dẫn tới một sự đổ vỡ chính thức trong quan hệ song phương, nhưng có thể làm chậm hợp tác quốc phòng và công nghệ, đồng thời thúc đẩy New Delhi tăng cường chiến lược phòng ngừa bằng cách đa dạng hóa quan hệ. Trong kịch bản xấu nhất, Modi có thể chịu sức ép phải nhượng bộ Trung Quốc để ổn định biên giới và thu hút thêm đầu tư, công nghệ từ Bắc Kinh. New Delhi cũng có thể giảm động lực mua vũ khí Mỹ. Đồng thời, Ấn Độ có thể không còn đóng vai trò kiềm chế trong BRICS và Tổ chức Hợp tác Thượng Hải — chẳng hạn bằng cách ngừng làm loãng những nỗ lực nhằm thách thức vai trò thống trị toàn cầu của đồng USD.

Tuy nhiên, Ấn Độ vẫn chưa đi đến điểm đó. Những người chỉ trích cách Modi quản lý thận trọng quan hệ với Washington vẫn chưa đưa ra được một chiến lược thay thế thuyết phục về cách New Delhi nên xử lý khoảng cách quyền lực ngày càng lớn với Trung Quốc. Kêu gọi cải thiện quan hệ với Bắc Kinh là điều dễ dàng, nhưng những điều kiện mà Trung Quốc có thể đặt ra cho một nền hòa bình lâu dài với Ấn Độ — bao gồm một thỏa thuận lãnh thổ có lợi cho Bắc Kinh và việc New Delhi cắt giảm quan hệ an ninh với Mỹ — sẽ là cái giá quá lớn. Trung Quốc cũng chưa từng cho thấy họ sẵn sàng giúp một quốc gia khác vươn lên về kinh tế và công nghệ theo cách có thể đe dọa vị thế của chính mình. Nói một cách đơn giản, con đường hướng tới tăng trưởng kinh tế và hiện đại hóa công nghệ của Ấn Độ sẽ khó khăn hơn rất nhiều nếu thiếu Mỹ. Vì vậy, tăng cường quan hệ với các đồng minh của Washington và tiếp tục hợp tác với Trump, ít nhất trong thời điểm hiện tại, vẫn là lựa chọn chiến lược tốt nhất của Ấn Độ.

C. Raja Mohan là Giáo sư Danh dự tại Viện Nghiên cứu Châu Mỹ Motwani-Jadeja thuộc Đại học Toàn cầu Jindal.