
Nguồn: Dalia Dassa Kaye, “The Israel Netanyahu Made”, Foreign Affairs, 27/10/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu đã chi phối nền chính trị nước này trong suốt bốn thập kỷ qua, và ảnh hưởng của ông sẽ không chấm dứt ngay cả khi cử tri Israel bỏ phiếu loại ông khỏi vị trí lãnh đạo. Trong thời gian giữ cương vị thủ tướng lâu nhất lịch sử Israel, Netanyahu đã làm thay đổi sâu sắc những nguyên tắc định hình chính sách an ninh quốc gia. Việc ông kiên quyết bác bỏ quyền thành lập nhà nước của người Palestine đã góp phần đẩy vấn đề này ra khỏi các cuộc tranh luận chính trị chủ lưu. Đồng thời, những lời kêu gọi tiến hành chiến tranh chống Iran mà ông kiên trì đưa ra từ lâu hiện đã trở thành một định hướng chính sách được chấp nhận rộng rãi trong giới chính trị và an ninh Israel.
Ngay từ trước nhiệm kỳ thủ tướng đầu tiên, Netanyahu đã là một nhân vật gây chia rẽ sâu sắc. Năm 1993, trên cương vị lãnh đạo phe đối lập, ông so sánh thỏa thuận Oslo giữa Thủ tướng Yitzhak Rabin và lãnh đạo Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) Yasser Arafat với chính sách nhân nhượng Hitler của Thủ tướng Anh Neville Chamberlain trước Thế chiến II. Những phát ngôn mang tính kích động của Netanyahu đã tiếp thêm sự liều lĩnh cho những người Israel coi mọi hình thức thỏa hiệp lãnh thổ với Palestine là hành động phản quốc, trong đó có cả kẻ đã ám sát Rabin vào năm 1995. Ngày nay, những chính sách và lập trường cực đoan đã dần trở thành điều bình thường dưới thời Netanyahu. Ông đã lãnh đạo chiến dịch tàn phá và cưỡng bức di dời quy mô lớn kéo dài ba năm tại Gaza, khiến hơn 70.000 người Palestine thiệt mạng. Chính phủ của ông có Bộ trưởng An ninh Quốc gia Itamar Ben-Gvir, người từng bị cấm phục vụ trong quân đội khi còn trẻ vì có liên hệ với các nhóm khủng bố, và Bộ trưởng Tài chính Bezalel Smotrich, người từng tuyên bố Israel cần “xóa sổ Gaza” và nên lặp lại những gì nước này “đã làm tại Gaza” ở Bờ Tây. Bộ trưởng Quốc phòng Israel Katz cũng đưa ra những lời kêu gọi tương tự về việc áp dụng “mô hình Gaza” tại Bờ Tây, thậm chí cả ở miền nam Lebanon.
Netanyahu có thể sớm mất quyền lực. Những cuộc công kích của ông nhằm vào hệ thống tư pháp Israel, các phiên tòa xét xử cáo buộc tham nhũng và việc ông từ chối chịu trách nhiệm về những sơ hở an ninh trước cuộc tấn công khủng bố của Hamas nhằm vào Israel ngày 7/10/2023 đã làm dấy lên sự phản đối đáng kể trong xã hội Israel. Việc thay đổi người lãnh đạo có thể tạo ra những hệ quả sâu rộng đối với chính sách đối nội. Tuy nhiên, dù Netanyahu rời chính trường trong tuần này hay nhiều năm nữa, tầm nhìn của ông về an ninh quốc gia vẫn sẽ tồn tại lâu hơn sự nghiệp chính trị của chính ông. Netanyahu đã đạt được thành công mang tính thảm họa trong việc triệt tiêu sự ủng hộ trong nước đối với khát vọng dân tộc của người Palestine, đồng thời đưa quan điểm duy trì trạng thái sẵn sàng chiến tranh thường trực nhằm đối đầu với Iran trở thành lập trường được giới chính trị chủ lưu chấp nhận. Ông đã thay đổi nền tảng tư duy của người Israel về an ninh đất nước và biến những lập trường không khoan nhượng của bản thân thành một thực tế được thể chế hóa. Các nhà lãnh đạo tương lai có thể mang đến những phong cách riêng trong chính sách an ninh Israel, nhưng ít nhất trong tương lai có thể dự đoán được, họ vẫn sẽ phải hành động trong những giới hạn mà Netanyahu đã vạch ra.
ẢO TƯỞNG VỀ GIẢI PHÁP HAI NHÀ NƯỚC
Netanyahu không phải thủ tướng Israel đầu tiên bác bỏ khát vọng dân tộc của người Palestine. Trong một cuộc phỏng vấn năm 1969, Golda Meir từng đưa ra tuyên bố nổi tiếng rằng “không hề tồn tại” một dân tộc Palestine riêng biệt. Menachem Begin chấp nhận Hiệp định Camp David năm 1978 với Ai Cập chỉ vì thỏa thuận này không buộc ông phải đạt được một giải pháp với người Palestine. Yitzhak Shamir từ chối cho phép người Palestine có đại diện độc lập tại Hội nghị Hòa bình Madrid năm 1991.
Điểm khác biệt hiện nay là ý tưởng thành lập một nhà nước Palestine thậm chí không còn được đưa ra tranh luận. Sự thay đổi này không diễn ra chỉ sau một đêm. Vụ ám sát Rabin đã dẫn đến sự tan rã của mô hình Oslo, vốn được xây dựng với mục tiêu hình thành một nhà nước Palestine nhưng trên thực tế chỉ tạo ra quyền tự quản hạn chế cho người Palestine, trong khi Israel tiếp tục kiểm soát phần lớn Bờ Tây. Những cuộc tấn công do các nhóm khủng bố Palestine thực hiện trong suốt thập niên 1990 càng làm sâu sắc thêm sự hoài nghi của người Israel về triển vọng hòa bình, góp phần đưa Netanyahu lên nắm quyền năm 1996.
Dẫu vậy, khi nhiệm kỳ thủ tướng đầu tiên của Netanyahu kết thúc năm 1999, một số chính trị gia vẫn tìm cách duy trì khả năng đạt được một giải pháp chính trị. Cử tri Israel đã bầu những nhà lãnh đạo như Ehud Barak và Ehud Olmert, những người sẵn sàng nhượng bộ lãnh thổ cho Palestine và tham gia các cuộc đàm phán hòa bình nghiêm túc do Mỹ hậu thuẫn, dù cuối cùng không thành công. Barak còn dẫn đầu quyết định đơn phương rút quân Israel khỏi miền nam Lebanon vào tháng 5/2000. Ngay cả Ariel Sharon, một nhân vật có lập trường cứng rắn, người có chuyến thăm gây tranh cãi tới Núi Đền ở Jerusalem vào cuối năm đó, góp phần châm ngòi cho cuộc Intifada lần thứ hai của người Palestine, cũng đã sơ tán khoảng 9.000 người định cư Israel và khởi động việc rút lực lượng bộ binh khỏi Gaza vào năm 2005.
Tuy nhiên, khi không đạt được một giải pháp thông qua đàm phán, xung đột tiếp tục trở nên nghiêm trọng hơn trên mọi mặt trận. Hamas giành chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 2006 tại Gaza và nắm toàn quyền kiểm soát vùng lãnh thổ này vào năm 2007. Xung đột quân sự giữa Israel và Hamas trở thành hiện tượng thường xuyên, với các cuộc chiến lớn bùng phát vào các năm 2008, 2012, 2014 và 2021. Netanyahu trở lại cương vị thủ tướng năm 2009, sau cuộc chiến đầu tiên trong số đó. Khi Israel phải đối phó với các đợt phóng rocket thường xuyên từ Gaza và những cuộc tấn công bằng tên lửa của Hezbollah, lực lượng đặt căn cứ tại Lebanon ở phía bắc, Netanyahu đã liên hệ tình trạng an ninh ngày càng xấu đi với những quyết định rút quân trước đây của Israel khỏi các khu vực này, qua đó củng cố lập luận phản đối mọi hình thức thỏa hiệp lãnh thổ.
Các chính sách của Netanyahu cũng làm thay đổi thực tế trên thực địa tại Bờ Tây. Ngay cả trước khi ông trở lại nắm quyền, sau khi phong trào Intifada lần thứ hai bùng phát, Israel đã xây dựng một bức tường bê tông ngăn cách Israel với Bờ Tây, lấn sâu đáng kể vào phần lãnh thổ Palestine được quốc tế công nhận. Những trạm kiểm soát của Israel trên khắp Bờ Tây cũng hạn chế nghiêm trọng quyền tự do đi lại của người Palestine và khả năng tiếp cận Đông Jerusalem. Khi nắm quyền, Netanyahu đẩy nhanh các chính sách này, bao gồm tiếp tục mở rộng các khu định cư, đe dọa tính khả thi của một nhà nước Palestine trong tương lai. Ông còn khuyến khích sự chia rẽ ngày càng lớn giữa Hamas tại Gaza và Chính quyền Palestine ở Bờ Tây bằng cách tạo điều kiện cho Qatar chuyển tiền đến Gaza do Hamas quản lý trong hơn một thập kỷ, qua đó tiếp tục làm suy yếu sự nghiệp xây dựng quốc gia của người Palestine.
Ngay cả liên minh do Naftali Bennett và Yair Lapid lãnh đạo, từng khiến Netanyahu tạm thời mất quyền lực trong giai đoạn 2021–2022 và cam kết mang lại sự thay đổi, cũng không thực sự đi chệch đáng kể khỏi những lập trường của ông. Đáng chú ý, liên minh này, lực lượng duy nhất có thể gạt Netanyahu khỏi quyền lực trong một thập kỷ rưỡi qua, lại có nền tảng quan điểm an ninh cánh hữu rất rõ rệt. Bản thân Bennett từ lâu đã phản đối việc thành lập nhà nước Palestine. Thay vì thực hiện những bước đi thúc đẩy hòa bình với người Palestine, Bennett và Lapid tập trung vào Hiệp định Abraham, những thỏa thuận được đàm phán dưới thời chính quyền Trump đầu tiên, trong đó một số quốc gia Arab cam kết bình thường hóa quan hệ với Israel mà không đòi hỏi phải có tiến triển cụ thể hướng tới việc thành lập nhà nước Palestine.
Trước ngày 7/10/2023, trong giới chính trị Israel chỉ còn rất ít người công khai và mạnh mẽ ủng hộ việc thành lập nhà nước Palestine. Những cuộc tấn công diễn ra hôm đó gần như bảo đảm rằng thái độ phản đối một nhà nước Palestine sẽ trở thành quan điểm phổ biến. Không còn nhà lãnh đạo chính trị Israel nào, kể cả trong phe đối lập, nói đến việc chấm dứt sự chiếm đóng của Israel tại Gaza và Bờ Tây. Sau khi phá hủy phần lớn Gaza và khiến hàng chục nghìn người Palestine thiệt mạng, Israel đã giành lại quyền kiểm soát quân sự đối với gần 70% dải đất này. Những người định cư Israel tại Bờ Tây, với số lượng đã tăng hơn gấp đôi kể từ khi Hiệp định Oslo được ký kết, đang tấn công người Palestine với tần suất đáng báo động. Họ tàn phá các ngôi làng Palestine trong khi chính phủ và quân đội Israel làm ngơ, thậm chí có những trường hợp công khai dung túng bạo lực. Vì vậy, người Palestine hiện tập trung vào việc sinh tồn hơn là mục tiêu xây dựng nhà nước. Dù Netanyahu thắng hay thua trong cuộc bầu cử này, vẫn chưa có con đường rõ ràng nào dẫn tới tương lai hai nhà nước mà ông đã kiên quyết tìm cách ngăn cản.
LỜI KÊU GỌI SỬ DỤNG VŨ LỰC
Lập trường cứng rắn của Netanyahu đối với Iran cũng nhất quán không kém thái độ của ông đối với người Palestine. Ngay từ năm 1992, khi còn là nghị sĩ Quốc hội Israel, ông đã cảnh báo rằng Iran đang “gấp rút phát triển vũ khí hạt nhân” và “mối đe dọa này phải được loại bỏ tận gốc”. Hơn ba thập kỷ sau, Netanyahu cuối cùng đã tìm được ở Donald Trump một tổng thống Mỹ sẵn sàng phát động chiến dịch quân sự chống Iran mà ông theo đuổi từ lâu. Cuộc tấn công đầu tiên diễn ra vào tháng 6/2025, khi Mỹ và Israel không kích các cơ sở hạt nhân trọng yếu của Iran. Sau đó, ngày 28/2, hai nước phát động một cuộc chiến quy mô lớn hơn, nhắm trực tiếp vào giới lãnh đạo Iran. Như Netanyahu tuyên bố trong một thông điệp video khi chiến sự bắt đầu: “Cùng với Mỹ, chúng ta sẽ giáng những đòn mạnh vào chế độ khủng bố và tạo điều kiện để người dân Iran dũng cảm có thể thoát khỏi ách thống trị của chế độ sát nhân này”.
Công chúng và giới chính trị Israel gần như đồng loạt ủng hộ cuộc chiến trong những tháng đầu tiên. Lapid, lãnh đạo phe đối lập, tuyên bố đây là một “cuộc chiến chính nghĩa”. Đến tháng 6, các cuộc thăm dò cho thấy công chúng ngày càng chỉ trích cách Netanyahu điều hành chiến tranh. Tuy nhiên, rất ít chính trị gia Israel đặt câu hỏi về sự cần thiết phải duy trì sức ép quân sự đối với Iran, và những kế hoạch tích cực chuẩn bị cho các đợt tấn công mới vẫn tiếp tục. Khi Yair Golan, lãnh đạo đảng Dân chủ cánh tả, gọi việc Israel sát hại Lãnh tụ Tối cao Iran Ali Khamenei là một “sai lầm” dẫn đến sự xuất hiện của một ban lãnh đạo Iran còn cực đoan hơn, các chính trị gia trên khắp phổ chính trị Israel đã đồng loạt lên án ông.
Trước đây, giới tinh hoa quân sự, tình báo và chính trị Israel từng tranh luận nhiều hơn về cách ứng phó với Iran. Chẳng hạn, khi chính phủ Netanyahu bắt đầu nghiêm túc cân nhắc tiến hành một cuộc tấn công quân sự bằng vũ khí thông thường nhằm vào các cơ sở hạt nhân Iran năm 2012, một diễn biến khiến Washington lo ngại, giới lãnh đạo Israel đã không lập tức đồng thuận với phương án tấn công. Những nhân vật có ảnh hưởng như Meir Dagan, cựu giám đốc cơ quan tình báo Mossad của Israel, đã phản đối một cuộc tấn công quân sự và đặt câu hỏi về những gì hành động ấy thực sự có thể đạt được. Tuy nhiên, cuộc tranh luận về các phương án quân sự trở nên không còn cần thiết khi chính quyền Obama công bố một thỏa thuận hạt nhân tạm thời với Tehran, được đàm phán năm 2013 thông qua kênh ngoại giao bí mật với sự trung gian của Oman. Thỏa thuận này khiến Netanyahu vừa bất ngờ vừa tức giận. Ông đã tìm cách phá hoại thỏa thuận hạt nhân cuối cùng được ký kết năm 2015, nhưng không thành công.
Sự phản đối gay gắt của Netanyahu đối với những nỗ lực ngoại giao của Tổng thống Mỹ Barack Obama cũng không nhận được sự ủng hộ của tất cả các chính trị gia Israel. Nhiều người lo ngại rằng việc vận động chống thỏa thuận hạt nhân sẽ làm tổn hại quan hệ Israel – Mỹ, đồng thời sự gắn bó ngày càng chặt chẽ giữa Netanyahu với Đảng Cộng hòa Mỹ có nguy cơ làm suy yếu sự ủng hộ dành cho Israel từ cả hai đảng. Mặc dù chính phủ Israel chính thức phản đối thỏa thuận, một số nhà lãnh đạo chính trị có ảnh hưởng và thành viên giới an ninh vẫn lập luận rằng thỏa thuận có thể mang lại những lợi ích nhất định. Benny Gantz, cựu Tổng tham mưu trưởng Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF), gọi thỏa thuận là một “thành tựu” có thể trì hoãn năng lực hạt nhân của Iran từ 10 đến 15 năm. Một số quan chức Israel thậm chí còn phản đối việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận khi Trump, với sự ủng hộ nhiệt tình của Netanyahu, đe dọa thực hiện bước đi này mà chưa thiết lập được một phương án thay thế. Ngay cả Barak, người từng ủng hộ tấn công quân sự nhằm vào Iran và chỉ trích thỏa thuận hạt nhân khi nó được ký kết, cũng đặt câu hỏi liệu quyết định rút khỏi thỏa thuận của Trump có phải là cách thức “tối ưu” để đối phó với Iran hay không.
Tuy nhiên, những cuộc tranh luận ấy phần lớn đã lắng xuống sau khi Trump rút Mỹ khỏi thỏa thuận năm 2018. Khi Iran nối lại chương trình làm giàu hạt nhân và các nỗ lực ngoại giao rơi vào ngõ cụt, Netanyahu nắm lấy cơ hội để tái khởi động cuộc chiến trong bóng tối của Israel chống Tehran. Những vụ nổ tại cơ sở hạt nhân Natanz của Iran vào tháng 7/2020 và tháng 4/2021 được nhiều người cho là do tình báo Israel thực hiện. Tương tự là vụ ám sát nhà khoa học hạt nhân hàng đầu Iran vào tháng 11/2020, sau khi Joe Biden đắc cử tổng thống Mỹ với cam kết khôi phục thỏa thuận hạt nhân trong chiến dịch tranh cử. Ngay cả khi liên minh Bennett – Lapid lên nắm quyền, lập trường của Israel đối với Iran vẫn không thay đổi. Chính phủ mới ít đối đầu hơn chính phủ Netanyahu, nhưng vẫn phản đối việc Mỹ quay lại thỏa thuận hạt nhân. Bennett lập luận, tương tự Netanyahu trước đó, rằng một thỏa thuận như vậy sẽ đưa nguồn tài chính vào “cỗ máy khủng bố Iran”.
Sau ngày 7/10, khi Netanyahu đã trở lại nắm quyền, Israel leo thang các cuộc tấn công nhằm vào Iran và những lực lượng ủy nhiệm của nước này. Các hoạt động này bao gồm những cuộc không kích tại Tehran và Beirut khiến các lãnh đạo Hamas và Hezbollah thiệt mạng, cùng những đợt tấn công tên lửa qua lại với Iran vào tháng 4 và tháng 10/2024. Ngoài những lời chỉ trích cho rằng Netanyahu lựa chọn thời điểm tấn công nhằm phục vụ lợi ích chính trị cá nhân, các nhân vật đối lập như Lapid và Gantz vẫn ủng hộ hành động của ông, trong khi công chúng Israel cũng hậu thuẫn cuộc đối đầu quân sự công khai giữa Israel và Iran.
Giới lãnh đạo Israel đã tập hợp ủng hộ lựa chọn của Netanyahu là ưu tiên đối đầu quân sự thay vì ngoại giao, và điều này không chỉ giới hạn trong quan hệ với Iran. Quan niệm rằng phải sử dụng các hành động quân sự mang tính phòng ngừa để kiểm soát mọi mối đe dọa tiềm tàng đã định hướng những chiến dịch của Israel không chỉ tại các vùng lãnh thổ Palestine, mà còn ở miền nam Lebanon và Syria sau khi chế độ Assad sụp đổ. Israel liên tục vượt qua những giới hạn mới: tháng 9/2025, nước này lần đầu tiên tiến hành một cuộc tấn công quân sự vào một quốc gia Arab vùng Vịnh bằng đòn không kích tại Doha nhằm vào các lãnh đạo Hamas. Chiến tranh đã trở thành trạng thái bình thường của Israel.
MỌI THỨ VẪN SẼ NHƯ CŨ
Ngay cả khi Netanyahu mất quyền lực, cách tiếp cận của Israel đối với an ninh quốc gia nhiều khả năng cũng sẽ không thay đổi. Phe đối lập đã thể hiện những khác biệt rõ ràng so với chính phủ hiện tại trong các vấn đề chính sách đối nội, nhưng những rạn nứt lớn về xung đột Palestine, Iran và các chiến dịch quân sự rộng lớn hơn của Israel trong khu vực lại không rõ rệt. Như nhiều nhà phân tích Israel đã nhận xét, phổ chính trị của phe đối lập về bản chất chỉ là “50 sắc thái cánh hữu”.
Gadi Eisenkot, người nổi lên như đối thủ chính của Netanyahu, có thể làm chậm quá trình mở rộng các khu định cư tại Bờ Tây và trấn áp bạo lực do những người định cư gây ra nếu ông trở thành thủ tướng. Tuy nhiên, những bước đi này chỉ là điều chỉnh chiến thuật chứ không phải thay đổi chiến lược. Eisenkot không đề xuất Israel chấm dứt chiếm đóng Bờ Tây hay thực hiện nỗ lực nghiêm túc nhằm thúc đẩy giải pháp hai nhà nước. Sau sự kiện ngày 7/10, ông đã gọi ý tưởng thành lập nhà nước Palestine là “ảo tưởng”. Những nhân vật đối lập hàng đầu khác, chẳng hạn Bennett, không chỉ phản đối một nhà nước Palestine mà còn nhiệt tình ủng hộ việc mở rộng các khu định cư.
Một chính phủ mới cũng sẽ không cải tổ toàn diện chính sách của Israel tại Gaza. Trong giới chính trị đối lập và công chúng Israel đang tồn tại sự bất mãn rộng rãi đối với cách Netanyahu tiến hành chiến tranh, đặc biệt là việc ông phản đối các thỏa thuận ngừng bắn vốn có thể cứu sống thêm nhiều con tin. Nhiều người tin rằng Netanyahu đã cố tình kéo dài chiến tranh để duy trì quyền lực. Tuy nhiên, những lo ngại về tác động của cuộc chiến đối với người Palestine lại ít hơn đáng kể. Chỉ một số ít tổ chức nhân quyền Israel cho rằng nước này đã thực hiện hành vi diệt chủng tại Gaza. Một chính phủ do Eisenkot lãnh đạo có thể sẵn sàng thúc đẩy kế hoạch hòa bình dành cho Gaza của Trump, vốn đang đình trệ và chưa đạt được tiến triển đáng kể về tái thiết, quản trị của người Palestine hay những mục tiêu then chốt khác. Tuy nhiên, giống Netanyahu, Eisenkot không ủng hộ việc Israel từ bỏ quyền kiểm soát Gaza nếu Hamas chưa bị giải giáp hoàn toàn.
Ở cấp độ căn bản hơn, các nhà lãnh đạo Israel thuộc mọi phe phái hiện đều coi việc kiểm soát lãnh thổ là yếu tố thiết yếu đối với an ninh quốc gia, dù tại Gaza, Bờ Tây, miền nam Lebanon hay Syria. Như học giả Trung Đông Nathan Brown đã nhận xét, chừng nào những cuộc tranh luận về học thuyết an ninh Israel còn tồn tại, chúng “ngày càng tập trung vào cách thức thực thi vị thế vượt trội của Israel, chứ không phải liệu có nên duy trì vị thế ấy hay không”. Một chính phủ mới có thể sẵn sàng, với sự hậu thuẫn của Washington, ký kết thỏa thuận không xâm lược với Syria, trong đó yêu cầu lực lượng Israel rút khỏi các khu vực biên giới. Tuy nhiên, nhiều chính trị gia hàng đầu Israel phản đối việc rút quân như vậy, khiến khả năng đạt được thỏa thuận trở nên thấp hơn. Và khả năng Israel từ bỏ quyền kiểm soát lãnh thổ ở những nơi khác còn thấp hơn nữa.
Không có chính trị gia lớn nào tại Israel đang kêu gọi thay đổi đường lối đối với Iran. Những lời chỉ trích đáng kể duy nhất trong nước nhằm vào chính sách Iran của Netanyahu chủ yếu liên quan đến việc ông không thể ngăn chặn các thỏa thuận ngoại giao, chẳng hạn bản ghi nhớ có hiệu lực ngắn ngủi mà chính quyền Trump đạt được với Tehran vào tháng 6. Phần lớn người Israel coi thỏa thuận này là có lợi cho Iran và không thể loại bỏ mối đe dọa từ chương trình hạt nhân và tên lửa của Tehran. Giới lãnh đạo quân sự Israel đã bắt đầu lên kế hoạch cho vòng chiến tranh tiếp theo, bao gồm cả kịch bản Israel phải tự mình chiến đấu chống Iran. Việc duy trì trạng thái sẵn sàng chiến tranh này dường như cũng nhận được sự ủng hộ rộng rãi về mặt chính trị. Lapid từng lập luận rằng Israel cần tiến xa hơn nữa trong các cuộc tấn công nhằm vào Iran, bao gồm ném bom “toàn bộ cơ sở năng lượng” để bảo đảm “nền kinh tế Iran bị phá hủy”.
CHỜ ĐỢI SỰ THAY ĐỔI
Netanyahu hẳn sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc đưa tầm nhìn cứng rắn của mình trở thành quan điểm chủ lưu nếu phải đối mặt với một đối thủ chính trị có khả năng mạnh mẽ vận động cho một tầm nhìn hoàn toàn khác về vị thế của Israel trong khu vực và con đường dẫn tới hòa bình. Trong hàng ngũ đối lập Israel đã không xuất hiện một nhân vật nào như Rabin, không có nhà lãnh đạo nào sẵn sàng thay đổi lập trường trước đây của chính mình, nói với công chúng sự thật về những gì một nền hòa bình thực sự đòi hỏi và đầu tư công sức vào quá trình ngoại giao đầy khó khăn, đòi hỏi sự kiên trì. Thay vào đó, phong cách cầm quyền của Netanyahu đã bóp nghẹt những cuộc tranh luận sâu sắc về các vấn đề an ninh quốc gia, đồng thời khiến giới lãnh đạo quốc phòng Israel tập hợp quanh thế giới quan không khoan nhượng của thủ tướng, vốn ưu tiên liên tục sử dụng sức mạnh quân sự.
Netanyahu cũng không phải đối mặt với sự phản đối đáng kể từ Washington khi theo đuổi những chính sách làm tiêu tan mọi hy vọng hòa bình với người Palestine, bao gồm chiến dịch tàn phá Gaza không ngừng nghỉ. Mặc dù thái độ của công chúng Mỹ đối với Israel ngày càng trở nên tiêu cực ở cả hai phía của sự chia rẽ chính trị, các tổng thống Mỹ lại ngày càng ít sẵn sàng sử dụng đòn bẩy ngoại giao và kinh tế để gây sức ép buộc giới lãnh đạo Israel chấm dứt những hoạt động nguy hiểm như mở rộng khu định cư. Việc thiếu sức ép từ Mỹ, cùng với sự sẵn sàng của một số quốc gia Ả Rập trong việc bình thường hóa quan hệ với Israel mà không đòi hỏi tiến triển nghiêm túc hướng tới hòa giải với người Palestine, đã tạo điều kiện để Netanyahu dễ dàng theo đuổi các chính sách cứng rắn mà không cần nhượng bộ. Điều này cũng làm suy yếu những tiếng nói bất đồng trong nội bộ Israel, bởi họ không thể thuyết phục công chúng rằng các chính sách ấy sẽ gây tổn hại đến an ninh Israel hoặc quan hệ của nước này với những đối tác quan trọng nhất.
Dĩ nhiên, những thực tế trong khu vực khiến thế giới quan của Netanyahu trở nên phức tạp hơn. Hoàn cảnh khốn khó của người Palestine tiếp tục gây tiếng vang trong dư luận quốc tế, hạn chế mức độ mà những quốc gia có vai trò then chốt như Ả Rập Saudi sẵn sàng tiến tới trong quá trình bình thường hóa quan hệ với Israel. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Israel trong tương lai có thể không quá lo ngại vấn đề này, bởi họ tin rằng sức mạnh quân sự và lợi thế công nghệ giúp Israel có quá nhiều điều để mang lại cho các đối tác tiềm năng, khiến nước này không thể bị phớt lờ hay cô lập. Nhiều chính trị gia Israel hiện nay cũng xem nhẹ quan điểm ngày càng phổ biến trong khu vực rằng Israel là một mối đe dọa an ninh lớn không kém Iran.
Việc đảo ngược một cách căn bản những chính sách an ninh của Netanyahu sẽ không thể xảy ra cho đến khi xuất hiện một nhà lãnh đạo Israel mới, có kế hoạch thay thế táo bạo về cách thức giúp Israel đạt được hòa bình lâu dài, đồng thời có khả năng thuyết phục công chúng Israel ủng hộ kế hoạch ấy. Và chừng nào Mỹ vẫn là đối tác chính trị và an ninh thân cận nhất của Israel, việc thúc đẩy sự chuyển biến này sẽ đòi hỏi Washington phải thay đổi chính sách, ngừng tạo điều kiện và bắt đầu gây sức ép phản đối việc Israel mở rộng khu định cư, chiếm đóng lãnh thổ và leo thang quân sự một cách liều lĩnh.
Không điều nào trong số đó đang diễn ra trong mùa bầu cử hiện nay tại Israel. Trên thực tế, khả năng những thay đổi ấy xuất hiện trong tương lai gần cũng rất thấp. Netanyahu đã thành công trong việc bóp nghẹt sự ủng hộ của người Israel đối với khát vọng dân tộc của người Palestine và bình thường hóa đối đầu quân sự với Iran. Đó là một di sản có ảnh hưởng sâu rộng. Nhưng đây không phải là di sản sẽ mang lại tương lai tốt đẹp hơn cho Israel, khu vực hay thế giới.
DALIA DASSA KAYE là nghiên cứu viên thỉnh giảng cao cấp xuất sắc tại Trung tâm Perry World House thuộc Đại học Pennsylvania, đồng thời là nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Quan hệ Quốc tế Burkle thuộc Đại học California, Los Angeles (UCLA).
