AI vẫn chưa phải là một cuộc cách mạng

Nguồn: Priya Satia, “AI Isn’t a Revolution—Yet,” Foreign Policy, 30/10/2026

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Giống như những gì người Anh từng làm với động cơ hơi nước, công chúng Mỹ có thể định hình cách công nghệ mới lan truyền.

Đã có lúc, vào những năm 1980, Cách mạng Công nghiệp đánh mất vị thế là một “cuộc cách mạng.” Các thước đo định lượng mới khi ấy có thể giáng cấp cuộc chuyển đổi kinh tế thế kỷ 18 của nước Anh xuống thành một “quá trình” dài hạn, kém hào quang hơn. Đơn giản là vì nó diễn ra quá chậm và trong quá ít lĩnh vực, không đủ để dùng một thuật ngữ mang hàm ý về sự lột xác hoàn toàn chỉ sau một đêm.

Cuối cùng, Cách mạng Công nghiệp vẫn được phục hồi danh xưng “cách mạng” – dù người ta cũng thừa nhận rằng nó diễn ra từ từ và không đồng đều hơn so với ý nghĩa truyền thống của từ này. Trọng tâm của cuộc tranh luận học thuật này chưa bao giờ là liệu động cơ hơi nước có mang tính cách mạng hay không, bởi chính con người và các thể chế mới là yếu tố quyết định liệu một phát minh có tiềm năng thay đổi cuộc chơi có thực sự tạo ra tác động mang tính cách mạng hay không. Một yếu tố then chốt khiến Cách mạng Công nghiệp diễn ra chậm chạp chính là sự phản kháng mạnh mẽ của người Anh trước những thay đổi do động cơ hơi nước và hệ thống nhà máy gây ra – đến mức làm lung lay cả niềm tin của các thế hệ sau về vị thế “cách mạng” của nó.

Các CEO của các công ty AI thường kêu ca rằng công nghệ của họ đã quá mang tính cách mạng để có thể kiểm soát, và do đó họ phải được miễn trừ trách nhiệm trước các quy định về chống độc quyền và trách nhiệm sản phẩm. Họ đang lợi dụng việc công chúng Mỹ chưa nắm rõ sự thật lịch sử này: rằng chính công chúng (cùng với cộng đồng toàn cầu) mới đóng vai trò to lớn trong việc định đoạt xem một công nghệ có mang tính cách mạng hay không.

Dù tầng lớp lao động Anh không có quyền bầu cử và các công đoàn còn chưa hợp pháp khi động cơ hơi nước xuất hiện, nhưng bằng nỗ lực tổ chức, họ đã vừa làm chậm sự lan rộng của công nghệ này, vừa đảm bảo mình có tiếng nói trong việc thiết lập các điều kiện sử dụng nó thông qua các luật quy định về giờ làm việc, an toàn, và độ tuổi của công nhân. Họ nổi dậy và phá hủy máy móc, thành lập các công đoàn ngầm, tổ chức các cuộc biểu tình lớn, kiến nghị và tuần hành, viết và in ấn các tờ rơi. Họ tạo ra mối đe dọa lớn đối với giới tài phiệt đầu sỏ đến mức chính phủ phải điều động một lượng lớn quân đội để đàn áp họ ngay khi còn đang phải chiến đấu với Napoleon trên khắp thế giới.

Họ kiên trì vì những thứ phải đánh đổi là quá lớn: cả một lối sống. Một lối sống trong đó công việc và đời sống không bị phân định rạch ròi, nơi các tập quán giao thương đảm bảo cho tiêu chuẩn tay nghề, giá cả hợp lý, và mức lương công bằng, và nơi những người dù không giàu có vẫn giữ được lòng tự trọng và ý thức tự lập. Nhiều người Anh bình thường đã xem mối đe dọa của Cách mạng Công nghiệp đối với lối sống này như một sự chà đạp lên bản ngã con người, điều đáng để họ đổ máu bảo vệ.

Dù thuật ngữ “Luddite” ngày nay thường bị gán cho việc chối bỏ công nghệ mới một cách vô lý, nhưng những thành viên nhóm Luddite đập phá máy móc vào những năm 1810 không chống lại bản thân máy dệt bằng điện, mà là chống lại những quan hệ bóc lột và áp bức chi phối việc các chủ nhà máy đưa chúng vào sử dụng. Chẳng hạn, một khoản thuế đánh vào máy dệt bằng điện lẽ ra có thể giúp cân bằng cạnh tranh và tạo nguồn quỹ hỗ trợ cho những thợ dệt thủ công bị mất việc.

Nhà sử học E. P. Thompson từng giải thích vào những năm 1960 rằng: “Vấn đề cốt lõi nằm ở ‘sự tự do’ của các nhà tư bản trong việc phá hủy các tập quán giao thương, dù là thông qua máy móc mới, hệ thống nhà máy, hay qua sự cạnh tranh không giới hạn, o ép tiền lương, chèn ép đối thủ, và phá hoại các tiêu chuẩn tay nghề… Bởi thế, ‘những ông chủ nhà máy tự do’… những người xây dựng cơ đồ bằng các phương thức này, bị cho… là những kẻ tham gia vào các hành vi phi đạo đức và bất hợp pháp.” Đối với dân thường Anh, chủ nghĩa tư bản tự do (laissez-faire capitalism) không phải là sự tự do mà là một “sự áp đặt tồi tệ”: chẳng có “quy luật tự nhiên” nào lại cho phép một người thực hiện các hành vi gây tổn hại cho đồng loại. Những người Luddite không chỉ nhìn về quá khứ mà còn hướng tới một xã hội công nghiệp mới, dân chủ, nơi việc theo đuổi lợi nhuận phải nhường bước cho các ưu tiên đạo đức và nhu cầu tập thể.

Việc các CEO mô tả AI như một sức mạnh không thể cản phá, tất yếu sẽ thay đổi mọi thứ chỉ sau một đêm chính là đang lợi dụng cách hiểu phổ biến về Cách mạng Công nghiệp như một sự lột xác chớp nhoáng khi những thiên tài không bị bó buộc phát minh ra động cơ hơi nước – một câu chuyện hoang đường do lý thuyết kinh tế chính trị tự do và tân tự do thêu dệt nên. Khi những người sùng bái lý thuyết này thừa nhận sự chậm chạp của Cách mạng Công nghiệp, họ xem tốc độ đó là bản chất tự nhiên của sự kiện, chứ không phải là kết quả ngẫu nhiên từ hành động của hàng triệu người dân mất trắng tài sản. Vì vậy, nhà kinh tế học Daron Acemoglu xem thời đại của chúng ta là “chưa từng có tiền lệ,” bởi vì “giai đoạn đầu của Cách mạng Công nghiệp kéo dài tới 80 năm. Ngày nay, nó đang diễn ra chỉ trong một hoặc hai năm… trên nhiều lĩnh vực cùng một lúc.” Dù ông đưa ra cảnh báo rất hữu ích về những rủi ro do AI gây ra, Acemoglu lại phớt lờ đi tiền lệ quý giá về sự phản kháng ẩn sau những khác biệt tưởng chừng như không liên quan của Cách mạng Công nghiệp.

Chúng ta không hề đột ngột rời bỏ các chuẩn mực đã được thiết lập của quá trình chuyển đổi kinh tế; không có quy luật lịch sử nào như vậy dẫn dắt bước tiến của sự phát triển kinh tế và công nghệ. Trên thực tế, Cách mạng Công nghiệp của Anh phụ thuộc rất nhiều vào các hợp đồng quân sự của chính phủ, tương tự như cách các hợp đồng quân sự đã thúc đẩy sự trỗi dậy của Thung lũng Silicon thời Chiến tranh Lạnh và chứng minh được vai trò quyết định đối với sự phát triển của chính AI. Những bước nhảy vọt về công nghệ không phải là kết quả của một quá trình lịch sử tất yếu nào đó; chúng là sản phẩm của sự đầu tư có chủ đích, rủi ro cao vào đổi mới sáng tạo, nhờ vào nguồn lực khổng lồ của các chính phủ hùng mạnh. Sự thụ động của chính phủ Mỹ trước những tác hại từ sản phẩm của các công ty AI – việc họ liên tục thất bại trong việc thực thi các luật hiện hành chống lại sự phân phối các sản phẩm lỗi và độc hại – là một cách khác để họ đẩy nhanh sự lan truyền của AI.

Vì lẽ đó, các công ty AI, chính phủ Mỹ, và những lầm tưởng của chủ nghĩa tự do về lịch sử đã biến AI thành một thứ có tác động mang tính đột phá, cách mạng. Và nó sẽ đúng là như vậy, chừng nào công chúng Mỹ còn tin vào những tuyên bố của các CEO về cách thức các cuộc cách mạng công nghệ diễn ra và không nhận ra khả năng của chính mình trong việc kiềm chế chúng – giống như cách những người Anh bình thường đã ghìm cương Cách mạng Công nghiệp. Cách các CEO mô tả AI như một thứ vốn dĩ đã mang tính cách mạng giúp họ kêu gọi được những đặc ân từ chính phủ và làm nhụt chí sự phản kháng của công chúng. Quan hệ đối tác giữa chính phủ với các công ty này cho đến nay có nghĩa là chính phủ sẽ không tự mình bắt họ phải chịu trách nhiệm. Sức ép từ công chúng là điều bắt buộc.

Thật vậy, công chúng đã tham gia ngay từ đầu với tư cách là những người nộp thuế tài trợ cho các hợp đồng của chính phủ; họ có thể và nên đòi hỏi tiếng nói trong sự phát triển của AI trong tương lai, đồng thời lặp lại vai trò trước đây của mình trong việc thiết lập sự giám sát dân chủ đối với các công nghệ đột phá.

Đây không phải là tình huống “thần đèn đã ra khỏi chai thì không thể nhét lại được.” Năm 2024, Liên minh Châu Âu từng thông qua các luật cấm các hệ thống AI đe dọa sự an toàn và quyền lợi của con người, theo đó làm chậm lại quá trình triển khai các sản phẩm AI tại đây. Các nhà hoạch định chính sách Mỹ chí ít cũng nên áp dụng các quy định hiện hành về bảo vệ môi trường khỏi các sản phẩm độc hại và bị lỗi do AI. Những người nộp thuế cũng phải yêu cầu chính phủ sử dụng lợi thế từ các hợp đồng nâng tầm danh tiếng của mình để buộc các công ty AI phải ưu tiên sự an toàn của sản phẩm thay vì mở rộng tính năng một cách liều lĩnh.

Việc đặt ra những yêu cầu như vậy không đồng nghĩa với tự động trao sức mạnh đột phá cho Trung Quốc, vì các sản phẩm AI của nước này cũng sẽ bị áp dụng chung các tiêu chuẩn và quy định khi sử dụng tại Mỹ (nơi nhiều công ty đã và đang sử dụng các mô hình nguồn mở của Trung Quốc). Các hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân mà Mỹ đã ký với kẻ thù không đội trời chung của mình là Liên Xô ở giai đoạn đỉnh điểm của Chiến tranh Lạnh là minh chứng lịch sử cho thấy hoàn toàn có thể hạn chế sự lan truyền của các công nghệ nguy hiểm thông qua hợp tác toàn cầu.

Tuy nhiên, để phản kháng một cách hiệu quả thì cần có sự tổ chức và nỗ lực vượt xa những gì một cộng đồng cư dân vốn chỉ quen bày tỏ ý kiến thông qua lá phiếu từng làm. Điều này đòi hỏi những hình thức công đoàn mới ở những loại hình nơi làm việc mới, và cả những hình thức hành động quần chúng kiểu cũ. Nó đòi hỏi phải rút các khoản đầu tư hưu trí khỏi các công ty này. Nó đòi hỏi việc ủng hộ các liên minh gồm những nhà khoa học AI có lương tâm – và đảm bảo rằng không một CEO công ty AI nào có thể cướp diễn đàn trong các lời kêu gọi ban hành quy định mới, để đề xuất các luật lệ nhằm miễn trừ sản phẩm của họ khỏi các trách nhiệm pháp lý thông thường (ví dụ là dự luật dự thảo của Anthropic, vốn chỉ cho phép chính phủ ngăn chặn mô hình của họ nếu có khả năng gây thiệt hại 1 tỷ USD, hoặc có hơn 50 người có nguy cơ tử vong hay bị thương). Nó cũng có nghĩa là khởi kiện các công ty phát hành sản phẩm AI không an toàn khi các đồng minh kinh doanh của họ phớt lờ, giống như cách mà một tổ chức phi lợi nhuận hiện đã làm đối với vụ OpenAI tấn công vào Hugging Face.

Thái độ kiên quyết đòi hỏi tính minh bạch của công chúng rõ ràng là có hiệu quả – OpenAI đã tạm dừng phát hành mô hình mới nhất của mình do các lo ngại về bảo mật. Nhưng công chúng vẫn phải tổ chức lực lượng ngay cả khi không có gì đảm bảo nỗ lực của họ sẽ thành công. Hành động phản kháng không ngăn được Cách mạng Công nghiệp, nhưng nó đã làm quá trình này chậm lại, và điều đó có ý nghĩa to lớn với những thế hệ đã sống qua thời kỳ đó. Nó cũng đảm bảo rằng mức sống của công nhân Anh cuối cùng đã được nâng lên. Quan trọng hơn, thông qua các tổ chức tập thể của mình, những người Anh bình thường đã giành lại được phẩm giá và tính người mà họ đấu tranh để bảo vệ. Bất chấp những đau khổ thảm khốc mà họ phải gánh chịu trong thời kỳ Cách mạng Công nghiệp, những người thợ thủ công chống lại các tác hại của cuộc cách mạng đã tạo ra thứ mà Thompson gọi là “nền văn hóa đại chúng xuất chúng nhất mà nước Anh từng biết đến,” sản sinh ra vô số nhà phát minh, nhà tổ chức, nhà báo, và các nhà lý luận chính trị, cùng một tầm nhìn về một xã hội dân chủ kiểu mới.

Tương tự, trong lúc tiếp tục cuộc đấu tranh lịch sử chống lại sự bóc lột của giới tài phiệt, người dân Mỹ sẽ đạt được nhiều thành tựu về văn hóa và xã hội, hoàn toàn tách biệt với tác động mà họ có thể tạo ra trong việc ngăn chặn sự lan truyền của các sản phẩm AI độc hại: Chính những hoạt động này mang lại cơ hội để phục hồi phẩm giá, sự công bằng, tính độc lập – và chính cả tính người.

Chính công chúng Mỹ sẽ là người quyết định liệu có một “cuộc cách mạng AI” hay không.

Priya Satia là giáo sư lịch sử quốc tế tại Đại học Stanford và là tác giả từng đoạt giải thưởng của các cuốn sách “Spies in Arabia: The Great War and the Cultural Foundations of Britain’s Covert Empire in the Middle East” và “Empire of Guns: The Violent Making of the Industrial Revolution.” Cuốn sách mới nhất của bà là “Time’s Monster: How History Makes History.”