Chiến tranh Iran là một chiến thắng cho Trung Quốc

Nguồn: Andrew P. Miller và Michael Clark, “The Iran War Is a Win for China,” Foreign Affairs, 17/04/2026

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Tại cuộc gặp với Tập vào tháng tới, Trump sẽ ở thế bất lợi.

Tổng thống Donald Trump đáng lẽ đã gặp người đồng cấp Trung Quốc, Tập Cận Bình, vào cuối tháng 3 vừa qua để ổn định mối quan hệ song phương quan trọng nhất thế giới. Nhưng giữa lúc Trung Đông chìm trong biển lửa, giá năng lượng tăng vọt, và thi thể của các quân nhân Mỹ được đưa trở về Mỹ, Trump đã đi đến kết luận rằng chuyến đi tới Bắc Kinh cho một cuộc họp cấp cao sẽ không mấy tốt đẹp. Vào ngày 16/03, ông chính thức hoãn chuyến đi đến tháng 5. Việc ông không lường trước được sự đụng độ của các cuộc khủng hoảng này khi lần đầu tiên thông báo về thượng đỉnh Mỹ-Trung – chỉ tám ngày trước khi ông phát động cuộc chiến do ông lựa chọn nhắm vào Iran – bộc lộ sự bất lực của chính quyền trong việc quản lý nhiều thách thức toàn cầu, ngay cả khi chúng là những thách thức do chính họ tạo ra.

Chính quyền Trump đã đề ra một số mục tiêu cho cuộc chiến ở Iran, bao gồm thay đổi chế độ và phá hủy chương trình hạt nhân của nước này. Một số người ủng hộ Trump thậm chí còn lập luận rằng việc ném bom Iran sẽ có lợi cho Mỹ trong cuộc cạnh tranh với Trung Quốc. Matt Pottinger, người từng là phó cố vấn an ninh quốc gia trong nhiệm kỳ đầu của Trump, lập luận trong một cuộc phỏng vấn với Bloomberg rằng cuộc chiến Iran thách thức “trục hỗn loạn” (axis of chaos) của Trung Quốc, cũng bao gồm Iran, Triều Tiên và Nga. Về phần mình, Thượng nghị sĩ Cộng hòa và người trung thành với Trump, Lindsey Graham, cho biết trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 3 với Fox News rằng các can thiệp quân sự của Mỹ vào những nước giàu dầu mỏ như Iran và Venezuela, những nước vốn thân thiện với Bắc Kinh, chính là “cơn ác mộng của Trung Quốc.”

Tuy nhiên, thực tế lại khác xa. Dù phụ thuộc vào nguồn năng lượng nhập khẩu đi qua Eo biển Hormuz, Trung Quốc đã tự bảo vệ mình trước sự gián đoạn nguồn cung năng lượng trong ngắn hạn. Và xét đến việc quân đội Mỹ sa lầy ở Trung Đông, Trung Quốc có thể rảnh tay hơn ở Đông Á. Trong lúc Trump hành xử thất thường và vi phạm luật pháp quốc tế, Trung Quốc có thể tự thể hiện mình như một nhà kiến tạo hòa bình có trách nhiệm. Ngay cả khi lệnh ngừng bắn Mỹ-Iran – đạt được vào ngày 07/04 – được duy trì, Mỹ vẫn làm tổn hại danh tiếng của mình do lối hành xử khó đoán, phản bội các đồng minh, và việc phát động một cuộc chiến gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế toàn cầu.

Vào thời điểm hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Trung cuối cùng cũng diễn ra, Tập sẽ bước vào các cuộc đàm phán với lợi thế đáng kể. Trong khi Mỹ phung phí nguồn lực quân sự và chính trị quý giá ở Trung Đông, Trung Quốc đã chuẩn bị để đạt được những gì họ muốn trên bàn đàm phán. Một Trump đang lúng túng có thể đánh đổi các tài sản giá trị của Mỹ để lấy những chiến thắng thương mại ngắn hạn – và một thỏa thuận nghiêng hẳn về một phía với đối thủ lớn nhất của Mỹ, thứ có thể làm suy yếu an ninh và sự thịnh vượng của Mỹ suốt hàng thập kỷ.

SAI LẦM KHÔNG ĐÁNG CÓ

Cuộc chiến do Trump lựa chọn ở Iran đã phải trả giá bằng chiếc ô an ninh của Mỹ ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, mang đến một cơ hội cho Bắc Kinh. Mỹ đã di chuyển khí tài từ Đông Á sang Trung Đông, bao gồm cả tàu USS Abraham Lincoln, một trong số năm tàu sân bay của Mỹ đang hoạt động trên toàn cầu, và các hệ thống phòng thủ tên lửa mạnh mẽ. Nhiều khẩu đội trong số này đã được lấy đi từ Hàn Quốc, đất nước mà trong nhiều năm đã phải chịu áp lực kinh tế hung hăng của Trung Quốc nhằm trả đũa việc tiếp nhận các hệ thống chống tên lửa của Mỹ – vốn được cho là để bảo vệ nước này vĩnh viễn khỏi một cuộc tấn công từ đối tác của Trung Quốc là Triều Tiên. Việc Mỹ thu hồi những tài sản đó bất chấp sự phản đối của Seoul cho thấy Washington quan tâm ít ỏi ra sao đến những hy sinh của đồng minh – và sự sẵn lòng chuyển hướng các nguồn lực quan trọng của họ đã gửi một thông điệp tới tất cả các đối tác của Mỹ ở châu Á rằng khu vực này không phải là ưu tiên. Ngay cả khi Mỹ đưa các tài sản chủ chốt trở lại Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương ngay khi cuộc chiến kết thúc, thì điều đó vẫn thiết lập một tiền lệ rằng chúng có thể bị rút đi bất cứ lúc nào, và quân đội Mỹ sẽ mất nhiều năm để thay thế số đạn dược mà họ đã triển khai để chống lại Iran. Những câu hỏi được đặt ra về sức mạnh duy trì của Mỹ đã làm suy yếu khả năng răn đe đối với cả Triều Tiên và Trung Quốc.

Cuộc chiến ở Iran cũng mang đến cho Trung Quốc một màn trình diễn thực tế về các năng lực quân sự của Mỹ, điều mà Bắc Kinh giờ đây có thể sử dụng để mài giũa và điều chỉnh các chiến thuật của riêng mình. Chỉ bằng cách quan sát, quân đội Trung Quốc đã thu thập được một kho tàng thông tin về vũ khí, chu kỳ ra quyết định, và việc sử dụng trí tuệ nhân tạo của Mỹ, mà họ có thể áp dụng vào các cuộc xung đột trong tương lai ở Đài Loan hoặc những nơi khác. Ví dụ, Trung Quốc có thể đã học được rất nhiều về cách Mỹ đánh chặn tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo. Trong một cuộc xung đột với Mỹ, Trung Quốc có thể điều chỉnh mật độ tấn công để áp đảo hệ thống phòng thủ của Mỹ, hoặc sửa đổi trình tự các cuộc tấn công để khai thác các khoảng thời gian chờ nạp lại đạn.

Trung Quốc cũng được hưởng lợi từ cuộc chiến theo những cách ít hữu hình hơn. Suốt nhiều tuần, Iran về cơ bản đã phong tỏa Eo biển Hormuz, gây ra sự gián đoạn lớn nhất đối với xuất khẩu dầu mỏ trong lịch sử và tàn phá nền kinh tế toàn cầu. Trong khi đó, Trump lại kêu gọi Trung Quốc và các quốc gia khác cử tàu chiến đến để giữ cho eo biển “mở và an toàn” – thực chất là mời gọi Bắc Kinh đóng chính cái vai trò mà họ đang tìm kiếm, đó là một người cung cấp sự ổn định toàn cầu có trách nhiệm, còn Mỹ lại cho thấy sự bất lực trong việc quản lý hậu quả từ quyết định tấn công Iran đơn phương của mình.

Để tận dụng sự hỗn loạn, Bắc Kinh có thể sẽ định vị mình như một nhà hòa giải, năng lực mà họ đã từng thể hiện trong các cuộc tranh chấp giữa Iran và Ả Rập Saudi và giữa Campuchia và Thái Lan. Thực tế, theo tờ New York Times, Trung Quốc đã giúp thuyết phục Iran chấp nhận lệnh ngừng bắn vào ngày 07/04. Và trong lúc Mỹ đang bị phân tâm, Trung Quốc sẽ chạy đua hướng tới các mục tiêu quốc gia của mình – giảm sự phụ thuộc vào phần còn lại của thế giới đối với nhu cầu năng lượng và công nghệ để tăng sức mạnh thương lượng, đặc biệt là trước Mỹ.

TỰ BẢO VỆ ĐỂ THỐNG TRỊ

Chắc chắn, cuộc chiến ở Iran đã gây ra một số vấn đề cho Trung Quốc. Lĩnh vực sản xuất-chế tạo của nước này đã bị bóp nghẹt bởi giá năng lượng cao hơn, và nông dân Trung Quốc đã phải đối phó với giá phân bón cao hơn trong mùa gieo trồng mùa xuân. (Phần lớn urê của thế giới, một thành phần trong phân bón, được vận chuyển qua Eo biển Hormuz.)

Nhưng nền kinh tế Trung Quốc rất dẻo dai và nguồn cung năng lượng của họ tương đối an toàn. Bắc Kinh đã làm việc suốt nhiều năm để bảo vệ mình khỏi các cú sốc giá và sự biến động trên thị trường dầu mỏ toàn cầu bằng cách phát triển các nguồn năng lượng tái tạo và sản lượng điện than dư thừa khổng lồ. Kể từ năm 2008, tỷ trọng năng lượng tái tạo trong cơ cấu năng lượng của Trung Quốc đã tăng hơn gấp đôi và hiện cung cấp hơn một phần ba lượng điện của cả nước. Trên thực tế, Trung Quốc chiếm một phần ba tổng công suất năng lượng gió và năng lượng mặt trời của thế giới. Các nhà sản xuất pin và xe điện của Trung Quốc đã chứng kiến định giá thị trường của họ tăng vọt kể từ đầu cuộc chiến, điều mà các nhà đầu tư xem là chất xúc tác cho việc đón nhận năng lượng xanh rộng rãi hơn. Bởi vì Trung Quốc đã thống trị việc sản xuất pin, tấm pin mặt trời, turbine gió, và xe hơi điện, cuộc chiến này có khả năng sẽ thúc đẩy sự áp dụng toàn cầu đối với công nghệ của quốc gia này như một vùng đệm chống lại các cú sốc năng lượng hiện tại và tương lai.

Dù Trung Quốc không thể sánh với Mỹ về năng lực sản xuất dầu mỏ, nhưng kho dự trữ khổng lồ của họ, hiện ước tính khoảng 1,4 tỷ thùng, vượt xa Kho Dự trữ Dầu mỏ Chiến lược đã bị cạn kiệt của Mỹ. Đối với Trung Quốc, điều này có thể đóng vai trò như một nguồn bù đắp cho hơn sáu tháng gián đoạn hoàn toàn ở Eo biển Hormuz. Và ngay cả khi nguồn cung năng lượng của Trung Quốc bị căng thẳng hơn nữa, nước này vẫn có các lựa chọn khác, chẳng hạn như mua thêm dầu của Nga. Theo tờ Financial Times, một số tàu đã trả phí qua eo biển cho Iran bằng đồng nhân dân tệ của Trung Quốc – đây là một thành công đối với Bắc Kinh, quốc gia vốn đang cố gắng thúc đẩy vị thế quốc tế cho đồng tiền của mình. Do đó, một sự gián đoạn ngắn hạn đối với Eo biển Hormuz còn lâu mới là một kịch bản ác mộng đối với Bắc Kinh.

Tại Mỹ, sự gia tăng sản lượng dầu mỏ của nước này cũng có thể giúp bảo vệ đất nước trước những hậu quả tồi tệ nhất của tình trạng thiếu hụt năng lượng toàn cầu, nhưng người tiêu dùng Mỹ vẫn phải hứng chịu những gián đoạn trên thị trường dầu mỏ quốc tế. Do bản chất toàn cầu của thị trường dầu mỏ, sự sụt giảm nguồn cung dầu ở bất kỳ đâu trên thế giới đều đồng nghĩa với việc giá cả tăng ở khắp mọi nơi, bao gồm cả ở Mỹ. Và, khác với giới lãnh đạo Trung Quốc, chính quyền Trump đã tìm cách phá hoại quá trình chuyển đổi trong nước sang các nguồn năng lượng thay thế, khiến các hộ gia đình Mỹ phải phụ thuộc vào những biến động của giá cả.

Cho đến nay, người tiêu dùng Mỹ dường như bị ảnh hưởng bởi việc tăng chi phí vận tải và lạm phát tổng thể nhiều hơn so với người tiêu dùng Trung Quốc. Do Trung Quốc đang trải qua một chu kỳ giảm phát gây tổn hại, giá năng lượng cao hơn thậm chí có thể giúp ích bằng cách đẩy giá hàng tiêu dùng lên cao.

TẬP TRUNG VÀO MỤC TIÊU?

Sự can thiệp quân sự của Mỹ vào Iran, cũng giống như ở Venezuela, sẽ không giúp ích gì cho Mỹ trong cuộc cạnh tranh với Trung Quốc bằng cách cô lập Bắc Kinh khỏi hai đối tác này. Trung Quốc là một người bạn điển hình chỉ xuất hiện lúc thuận lợi. Nước này có tính thực dụng cao và sẽ không hy sinh các lợi ích cốt lõi của mình để cứu Tehran hay Caracas. Nếu mục tiêu là làm suy yếu Bắc Kinh, các chiến dịch của Mỹ ở Iran và Venezuela do đó mang lại lợi tức đầu tư không đáng kể, nếu không muốn nói là bằng không, chỉ phục vụ cho việc làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên của Mỹ, hủy hoại danh tiếng của nước này, và làm tăng giá nhiên liệu.

Nếu có thì, chủ nghĩa quân phiệt bốc đồng của Trump đã làm suy yếu vị thế của Mỹ so với vị thế của Trung Quốc. Nó đã kích động các cuộc tấn công của Iran vào các quốc gia Vùng Vịnh, chia rẽ Washington và một số đối tác thân cận nhất của họ trong khu vực. Các chính phủ này khó có thể hoàn toàn từ bỏ Mỹ trong những năm tới. Nhưng khi độ tin cậy của Mỹ giảm dần, các quốc gia Vùng Vịnh sẽ ngày càng chơi trò kích động các siêu cường chống lại nhau. Chẳng hạn, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất đã tăng cường hợp tác với quân đội Trung Quốc kể từ nhiệm kỳ đầu của Trump, ngay cả khi họ có các căn cứ của Mỹ trên lãnh thổ.

Trung Quốc không cần phải thay thế Mỹ với tư cách là người cung cấp an ninh để hưởng lợi từ quan hệ đang xấu đi của Washington với các nước Vùng Vịnh. Đối với Bắc Kinh, chỉ cần trở thành một đối tác có thể dự đoán được là đủ. Một khi khói bụi tan đi ở Iran và các quốc gia Vùng Vịnh, Bắc Kinh có thể sẽ can thiệp bằng các hợp đồng tái thiết các cảng hoặc cơ sở năng lượng bị hư hại và các khoản đầu tư dài hạn vào cơ sở hạ tầng. Kết quả có khả năng là một Trung Đông thực dụng hơn, ít chịu ơn Mỹ hơn, và sẵn sàng hợp tác với Trung Quốc hơn. Nói một cách đơn giản, Bắc Kinh có thể thực hiện được những gì Mỹ đã tìm kiếm từ lâu: ảnh hưởng đáng kể ở Trung Đông với một cái giá có thể chấp nhận được.

BẾN ĐỖ TRONG CƠN BÃO

Bất chấp khẩu hiệu “Nước Mỹ trên hết” của Trump, cuộc chiến bốc đồng với Iran đã trở thành bài học tiêu biểu cho việc đặt nước Mỹ xuống cuối cùng. Vì sự kiêu ngạo của mình, Mỹ lại rơi vào một vũng lầy khác mà không có chiến lược rút lui. Chính quyền Trump đã đánh đổi an ninh quốc gia lấy một màn phô trương sức mạnh quân sự ngắn hạn, và giờ đây họ đang yêu cầu công chúng Mỹ phải trả hóa đơn. Người chiến thắng thực sự trong cuộc xung đột có thể tránh được này sẽ không phải là Washington hay Tehran; đó sẽ là Bắc Kinh.

Như Zongyuan Zoe Liu đã quan sát một cách sắc sảo trên tờ Foreign Affairs, Trung Quốc xem trọng sự ổn định và không muốn tiếp quản mọi vai trò mà Mỹ đã đảm nhận trong nhiều thập kỷ, chẳng hạn như làm cảnh sát của Trung Đông. Dù vậy, Trung Quốc có khả năng được nhiều hơn mất từ cuộc chiến này. Khi Mỹ trở nên phân tâm, làm tha hóa các đồng minh của mình và tạo ra những lỗ hổng trong vai trò lãnh đạo toàn cầu, Bắc Kinh có thể cải thiện vị thế tương đối của mình đơn giản bằng cách luôn là một tác nhân dễ đoán hơn trong một thế giới ngày càng khó đoán.

Trước khi hội nghị thượng đỉnh Trump-Tập được lên lịch lại, Trung Quốc có khả năng đang giăng một cái bẫy cho chính quyền Trump. Theo Bloomberg, Tập có thể đưa ra cam kết mua 500 máy bay Boeing như một chiến thắng kinh tế lớn cho Trump, người đang háo hức với bất cứ thứ gì ông có thể biến thành một chiến thắng. Đổi lại, Tập có thể lấy được một nhượng bộ quan trọng từ Trump, chẳng hạn như việc nới lỏng các hạn chế đối với xuất khẩu các công nghệ tiên tiến của Mỹ, bao gồm chip AI và turbine phản lực. Một thỏa thuận như vậy sẽ là một họa đối với Mỹ. Trung Quốc sẽ có được các công cụ để tự lực hơn trong dài hạn, còn Mỹ chỉ kiếm được một món hời ngắn hạn. Trung Quốc thậm chí có thể nuốt lời trong đơn đặt hàng máy bay, vốn sẽ mất nhiều năm để hoàn thành.

Khi Mỹ tự đẩy nhanh sự suy tàn của mình, Trung Quốc đang tăng tốc khả năng tự túc về công nghệ, xây dựng sức mạnh quân sự, và nâng cấp chính sách công nghiệp của mình. Mục tiêu cuối cùng của họ là cái gọi là sự phục hưng quốc gia. Vào ngày Trump cuối cùng đặt chân đến Bắc Kinh, ông sẽ đại diện cho nước Mỹ từ một vị thế yếu kém do chính mình gây ra. Ông sẽ phải đối mặt với một đối thủ đáng gờm là Tập, người đã dành nhiều năm chuẩn bị cho chính khoảnh khắc với tay quá mức này của nước Mỹ. Đã đến lúc Mỹ ngừng chiến đấu trong những cuộc chiến mà Trung Quốc muốn họ tham gia, và thay vào đó hãy hướng sự tập trung trở lại vào đối thủ lớn nhất của mình: Trung Quốc.

Andrew P. Miller là nghiên cứu viên cấp cao về an ninh quốc gia và chính sách quốc tế tại Trung tâm Tiến bộ Mỹ. Ông từng là Phó Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách các vấn đề Israel-Palestine dưới thời chính quyền Biden và Giám đốc các vấn đề Quân sự Ai Cập và Israel thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia dưới thời chính quyền Obama.

Michael Clark là cộng tác viên nghiên cứu về an ninh quốc gia và chính sách quốc tế tại Trung tâm Tiến bộ Mỹ.