Chế độ độc tài của Tập Cận Bình có phải là điều tất yếu?

Nguồn:  Steve Tsang, “Was Xi Jinping Inevitable?”, Project Syndicate, 15/06/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Giai đoạn chuẩn bị cho hội nghị thượng đỉnh kéo dài hai ngày giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và người đồng cấp Trung Quốc Tập Cận Bình đã phản ánh một giả định đang phổ biến trong chính quyền của ông, đó là có thể đối xử với Trung Quốc như một cường quốc đang lên khác sẵn sàng đàm phán các thỏa thuận thực dụng với cường quốc bá quyền toàn cầu đương nhiệm.

Nhưng một Trung Quốc dưới thời ông Tập lại đại diện cho một thứ hoàn toàn khác biệt: một quốc gia cận độc tài toàn trị với một chiến lược rõ ràng và đầy tham vọng nhằm vượt mặt Mỹ và định hình lại trật tự toàn cầu. Được dẫn dắt bởi “Giấc mơ Trung Hoa” về sự phục hưng dân tộc của ông Tập, Trung Quốc không đơn thuần mưu cầu tạo ra một thế giới lưỡng cực hay thay thế vị trí của Mỹ. Họ cũng không hề khao khát kế thừa những gánh nặng và nghĩa vụ vốn luôn đi kèm với vị thế dẫn đầu của Mỹ.

Thay vào đó, như Olivia Cheung và tôi đã lập luận trong cuốn sách sắp xuất bản có tựa đề Chiến lược Toàn cầu của Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình, Trung Quốc đang tìm kiếm vị thế độc tôn toàn cầu theo các điều khoản của riêng mình, tái định hình trật tự quốc tế theo những cách phản ánh hệ thống chính trị, giá trị và lợi ích của chính họ. Dù Trung Quốc nhận thức được tầm quan trọng của mối quan hệ song phương với Mỹ, chiến lược toàn cầu của họ không hề lấy đó làm trung tâm. Đúng hơn, nó được dẫn dắt bởi Tư tưởng Tập Cận Bình và được thực thi dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc (CPC).

Bản chất của hệ thống chính trị Trung Quốc — và cách nó được hòa quyện với ý thức hệ nhà nước — đã định hình sâu sắc cách tiếp cận của nước này đối với các vấn đề quốc tế. Nếu Trung Quốc chỉ đơn thuần là một cường quốc độc tài khác với những tham vọng mở rộng mang tính khu vực, họ có thể đã nghiêng về phương án bắt tay với nước Mỹ của Trump để chia chác thế giới thành các vùng ảnh hưởng. Nhưng chính sách đối ngoại của họ không mang tính đối phó; trước hết và trên hết, nó được thúc đẩy bởi sự theo đuổi một chế độ cai trị độc tài toàn trị.

Đối với Mỹ, điều này có nghĩa là cuộc cạnh tranh với Trung Quốc không thể chỉ được thấu hiểu đơn thuần qua lăng kính truyền thống của nền chính trị cường quốc. Để ứng phó với Trung Quốc một cách hiệu quả, các nhà hoạch định chính sách Mỹ phải nhận ra rằng những tham vọng địa chính trị của ông Tập không thể tách rời khỏi dự án độc tài toàn trị rộng lớn hơn của ông.

Hai cuốn sách lớn mới xuất bản của các học giả nổi tiếng đang làm việc tại Mỹ đã mang lại một sự thấu hiểu sâu sắc hơn về các lực lượng ý thức hệ và định chế đang định hình sự trỗi dậy của Trung Quốc. Cả hai đều lập luận rằng việc Trung Quốc dần quay trở lại chế độ độc tài toàn trị không phải là một sự cố lịch sử do việc ông Tập lên nắm quyền mang lại, mà là một đặc tính cấu trúc của hệ thống chính trị Trung Quốc, vốn có những hệ lụy sâu rộng vượt ra ngoài biên giới nước này.

Trong cuốn Gen Định chế: Nguồn gốc của các Định chế và Chủ nghĩa Toàn trị ở Trung Quốc, giáo sư Hứa Thành Cương của Đại học Stanford đã dựa trên lịch sử Trung Quốc, Nga và phương Tây để giải thích lý do tại sao Trung Quốc vẫn bị mắc kẹt trong các mô hình định chế vốn luôn tái sản sinh ra chế độ cai trị độc tài toàn trị. Cuốn Giấc mơ Trung Hoa tan vỡ: Cải cách đã hồi sinh Chủ nghĩa Toàn trị như thế nào? của Bùi Mẫn Hân lại tập trung thu hẹp hơn vào kỷ nguyên hậu Mao, truy tìm cội nguồn quỹ đạo ngày càng độc đoán của Trung Quốc từ cách tiếp cận “cải cách và mở cửa” của Đặng Tiểu Bình.

Mặc dù ông Hứa và ông Bùi tiếp cận vấn đề từ các góc độ khác nhau, họ lại đi đến những kết luận tương đồng một cách đáng ngạc nhiên. Trong khi ông Hứa lập luận rằng việc Trung Quốc quay trở lại chế độ độc tài toàn trị đã được cài sẵn vào DNA của chế độ, ông Bùi lại cho rằng yếu tố quyết định là quyết định của ông Đặng nhằm duy trì nhà nước độc đảng kiểu Lenin trong khi theo đuổi cải cách kinh tế. Bằng việc duy trì sự độc quyền chính trị của CPC, ông Bùi quả quyết, ông Đặng đã chặn đứng tiến trình dân chủ hóa và dọn đường cho sự xuất hiện tất yếu của một kẻ độc tài kiểu như ông Tập.

Liệu Trung Quốc của ông Tập có thực sự độc tài toàn trị?

Nằm ở trung tâm của cả hai cuốn sách là một câu hỏi nền tảng: chủ nghĩa độc tài toàn trị chính xác là gì? Ông Hứa định nghĩa nó là “một loại hình chuyên chế hiện đại cực đoan được đặc trưng bởi sự kiểm soát toàn diện đối với xã hội thông qua một đảng toàn trị,” vốn dựa vào “ý thức hệ, cảnh sát mật, lực lượng vũ trang, truyền thông và các tổ chức (bao gồm cả doanh nghiệp) trong toàn xã hội” để thống trị các nguồn lực và đời sống xã hội. Điều này phân biệt nó với chủ nghĩa độc tài thông thường, vốn không phụ thuộc vào một ý thức hệ bao trùm toàn diện hay mưu cầu sự kiểm soát chặt chẽ đối với xã hội và nền kinh tế.

Như ông Hứa đã chỉ ra, chủ nghĩa độc tài toàn trị hiện đại đã xuất hiện sau cuộc Cách mạng Bolshevik năm 1917. Theo quan điểm của ông, chủ nghĩa toàn trị cộng sản đã bén rễ ở Trung Quốc không chỉ vì sự hỗ trợ của Liên Xô dành cho CPC thời non trẻ và Mao Trạch Đông, mà còn vì chính các truyền thống định chế của Trung Quốc đã khiến xã hội nước này dễ tiếp nhận nó hơn.

Nhưng tôi không bị thuyết phục rằng Trung Quốc đương đại xứng đáng với nhãn mác “độc tài toàn trị.” Trong khi ông Hứa phân loại nó như vậy một cách dứt khoát, ông Bùi lại áp dụng một góc nhìn tinh tế hơn khi lập luận rằng ông Tập đã đưa Trung Quốc tiến gần đến chủ nghĩa độc tài toàn trị hơn là chủ nghĩa độc tài thông thường. Thay vào đó, tôi sẽ mô tả Trung Quốc ngày nay là đang khao khát tiến tới chủ nghĩa độc tài toàn trị, dẫu họ vẫn chưa chạm đến điểm đó.

Chắc chắn rằng, chương trình nghị sự “một quốc gia, một ý thức hệ, một nhân dân, một đảng và một nhà lãnh đạo” của ông Tập — vốn là trọng tâm trong “Giấc mơ Trung Hoa về sự phục hưng dân tộc” của ông — đã để lại rất ít nghi ngờ về ý đồ của ông. Nhưng dự án này vẫn chưa hoàn thành. Bất chấp bộ máy nhà nước khổng lồ của CPC, các hệ thống giám sát kỹ thuật số tinh vi, và yêu cầu công dân Trung Quốc phải học tập Tư tưởng Tập Cận Bình, chế độ này vẫn chưa thực thi quyền kiểm soát tổng lực đối với nền kinh tế, họ cũng chưa xóa bỏ được quyền tự do cá nhân bên ngoài lĩnh vực chính trị.

Việc tiếp cận thông tin là một trường hợp điển hình. Trung Quốc có thể không có một mạng internet tự do và cởi mở, nhưng mạng nội bộ khổng lồ do CPC xây dựng vẫn mang lại cho người dân quyền hạn đáng kể để duyệt web, mua sắm, giao tiếp và giải trí trực tuyến. Không có thứ gì tương tự như vậy tồn tại ở Trung Quốc thời Mao.

Ông Hứa tỏ ra bi quan hơn ông Bùi. Nếu chủ nghĩa độc tài toàn trị đã ăn sâu vào gen định chế của Trung Quốc như ông lập luận, thì tiến trình dân chủ hóa sẽ đòi hỏi phải thay thế các mô hình đã bám rễ sâu đó bằng các mô hình thân dân chủ — một triển vọng gần như là viển vông.

Những kết luận của ông Bùi thì mang tính điều kiện hơn. Phân tích của ông hàm ý rằng việc từ bỏ cấu trúc chính trị kiểu Lenin của Trung Quốc có thể mở ra một con đường dẫn đến dân chủ hóa, dù có gian nan đến mấy. Tuy nhiên, chính ông Bùi cũng coi một sự chuyển dịch như vậy là cực kỳ khó xảy ra.

Mặc dù ông Hứa và ông Bùi đã đúng khi cho rằng triển vọng ngắn hạn cho tự do và quyền lợi ở Trung Quốc vẫn rất ảm đạm, nhưng không phải là đã mất sạch hy vọng. Thật vậy, giá trị từ các cuốn sách của họ không nằm ở việc trình bày tương lai của Trung Quốc như một điều đã được định sẵn, mà ở việc mang lại nhiều cơ sở cho một sự lạc quan thận trọng hơn là những gì chính các tác giả thừa nhận.

Đọc vị sai kỷ nguyên cải cách của Trung Quốc

Mạch tư duy đồng điệu giữa hai cuốn sách là khả năng chống chịu của hệ thống chính trị kiểu Lenin ở Trung Quốc, vốn được giữ vững từ năm 1949 đến nay. Như cả hai cùng lưu ý, việc ông Đặng kiên quyết giữ vững “bốn nguyên tắc bản lề” — con đường xã hội chủ nghĩa, nền chuyên chính dân chủ nhân dân, sự lãnh đạo của CPC, và sự thống trị ý thức hệ của chủ nghĩa Mác-Lênin cùng Tư tưởng Mao Trạch Đông — đã đảm bảo sự sống sót của khuôn khổ định chế cần thiết cho việc khôi phục chế độ độc tài toàn trị sau này.

Vào thời điểm bắt đầu kỷ nguyên cải cách, Trung Quốc giống với Triều Tiên ngày nay hơn là một cường quốc phồn vinh, công nghiệp hóa và tiên tiến về công nghệ như hiện tại. Dù xét theo bất kỳ tiêu chuẩn nào, Trung Quốc đã chứng minh được sự thành công hơn so với các đối thủ độc tài toàn trị cộng sản của mình, xây dựng được một nền kinh tế năng động, đổi mới và hiệu quả hơn những gì Liên Xô từng đạt được — tất cả trong khi vẫn giữ nguyên bản chất kiểu Lenin.

Phần lớn các nghiên cứu học thuật về Trung Quốc hiển nhiên đã tập trung vào những biến đổi sâu rộng được dọn đường bởi bốn thập kỷ tăng trưởng kinh tế thần tốc. Nhưng sự chú trọng này đã che mờ đi một thực tế là chính hệ thống chính trị lại thay đổi quá ít trong cùng khoảng thời gian đó.

Về mặt này, ông Hứa và ông Bùi đã ngầm thách thức các cách giải thích trước đây về sự phát triển nền chính trị của Trung Quốc. Ví dụ, trong cuốn sách xuất bản năm 2010 mang tên Chủ nghĩa Khổng giáo mới của Trung Quốc: Chính trị và Đời sống thường nhật trong một Xã hội đang Biến đổi, nhà lý luận chính trị Daniel A. Bell đã gợi ý rằng CPC đã thay đổi đến mức nó cũng có thể được gọi là Đảng Khổng giáo Trung Quốc. Các phân tích của ông Hứa và ông Bùi rõ ràng là rất khó để dung hòa với các cách diễn giải thuộc loại này.

Việc hiểu về Trung Quốc theo cách tốt nhất là một quốc gia độc tài toàn trị, cận độc tài toàn trị, hay chỉ đơn thuần là độc tài thông thường sẽ có những hệ lụy sâu sắc đối với các chính phủ dân chủ đang tham gia vào cuộc cạnh tranh chiến lược với họ, cũng như đối với các doanh nghiệp, trường đại học và các định chế phi chính phủ. Để hiểu được Trung Quốc, điều cốt yếu là phải tập trung vào các cấu trúc chính trị nâng đỡ chế độ này, chứ không phải vào việc chế độ đó trông như thế nào ở một thời điểm cụ thể trong lịch sử.

Hãy xem xét việc Trung Quốc hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Nếu các chính phủ dân chủ nhận ra rằng công cuộc “cải cách và mở cửa” của ông Đặng được thiết kế không phải để phá bỏ hệ thống kiểu Lenin của Trung Quốc mà là để củng cố và hiện đại hóa nó, liệu họ có còn giả định rằng việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới sẽ thúc đẩy nước này hướng tới chủ nghĩa tự do kiểu phương Tây? Và liệu họ có nỗ lực đến vậy để tạo điều kiện cho sự hiện đại hóa kinh tế của Trung Quốc, từ đó cho phép nước này trở thành một cường quốc thế giới có khả năng thách thức và có khả năng che mờ chính mô hình tư bản-dân chủ của họ?

Khái niệm “gen định chế” của ông Hứa đã giải thích lý do tại sao sự biến đổi kinh tế của Trung Quốc lại thất bại trong việc tạo ra tiến trình tự do hóa chính trị. Thay vì chỉ đơn thuần làm sống lại dạng lập luận mang tính văn minh vốn thường nâng đỡ cho các tuyên bố về tính đặc thù của Trung Quốc, ông lập luận rằng tiến trình dân chủ hóa suy cho cùng phụ thuộc vào “các cơ chế nền tảng và ổn định của những động lực thúc đẩy cùng các ràng buộc vốn định hình hành vi của các chủ thể chủ chốt trong các tương tác xã hội quan trọng.” Mặc dù các gen định chế này là được kế thừa, ông Hứa thừa nhận rằng chúng có thể tiến hóa, đột biến hoặc bị thay thế.

Ông Hứa truy tìm các gen định chế của Trung Quốc từ di sản Mác-Lênin và lịch sử lâu đời hơn nhiều của chế độ cai trị đế quốc tập quyền — hai truyền thống mà ông thấy là bổ trợ lẫn nhau. Ông xác định ba đặc tính đặc biệt quan trọng được kế thừa từ thời Trung Quốc phong kiến: một hệ thống hành chính tập quyền, phân cấp; một bộ máy quan liêu dựa trên thi cử giám sát một quốc gia có quy mô đại lục; và sự tập trung quyền sở hữu đất đai.

Theo ông Hứa, những sắp xếp định chế này đã nuôi dưỡng một nền văn hóa chính trị thù địch với chủ nghĩa lập hiến và nền dân chủ. Bộ máy nhà nước tập quyền, việc áp dụng Khổng giáo như một hình thức ý thức hệ nhà nước tiền hiện đại vốn định hình tư duy của các quan chức chính phủ, và sự vắng bóng của quyền sở hữu tài sản đều giúp ngăn chặn trước các thách thức đối với quyền lực hoàng gia, cho dù là từ giới tinh hoa quý tộc hay các phong trào quần chúng.

Trung Quốc, ông Hứa lập luận, không phải là quốc gia duy nhất sở hữu các gen định chế dẫn đến chế độ độc tài toàn trị. Nga cũng vậy, đã phát triển các truyền thống định chế mà dẫu có khác biệt với Trung Quốc, vẫn chứng minh là mảnh đất màu mỡ tương tự cho chế độ độc tài cộng sản.

Liệu lập luận lịch sử bao quát của ông Hứa suy cho cùng có chứng minh được trường hợp của mình hay không vẫn là điều còn phải tranh luận. Nhưng nó đặt ra một câu hỏi không dễ phản bác: phải chăng một số xã hội có thể bị mắc kẹt vào chủ nghĩa độc tài toàn trị vì các cấu trúc định chế và truyền thống chính trị đã bám rễ sâu dày? Người ta không cần phải đón nhận lý thuyết về gen định chế của ông để nhận ra vai trò then chốt mà các cấu trúc chính trị của Trung Quốc đã đóng trong việc định hình quỹ đạo hậu Mao của nước này.

Ông Bùi cũng đi đến một kết luận tương tự mà không cần viện đến gen định chế. Thay vào đó, ông đưa ra một bản cáo trạng đanh thép đối với di sản của ông Đặng. Thông qua một cuộc mổ xẻ tỉ mỉ theo từng thập kỷ về kỷ nguyên hậu Mao, ông ghi lại sự biến đổi kinh tế và xã hội phi thường của Trung Quốc, đồng thời chứng minh hệ thống chính trị của nước này, được củng cố bởi bốn nguyên tắc cơ bản của ông Đặng, đã giữ nguyên bản chất ra sao.

Lập luận của ông Bùi theo nhiều cách mang tính thuyết phục hơn về mặt thực nghiệm. Bằng cách giới hạn bản thân trong kỷ nguyên hậu Mao, ông có thể dựa trên một khối lượng bằng chứng tập trung hơn, đồng thời tránh được những tranh cãi vốn có trong cuộc khảo sát lịch sử toàn cảnh của ông Hứa, vốn trải dài qua các nền văn minh và thiên niên kỷ. Luận điểm trung tâm của ông — rằng sự sống sót của hệ thống kiểu Lenin đã khép lại bất kỳ khả năng dân chủ hóa nào — khiến cho chế độ cai trị độc tài dưới thời ông Tập có vẻ như là tất yếu khi nhìn lại quá khứ, củng cố thêm lập luận rằng Trung Quốc vẫn bị mắc kẹt trong chiếc bẫy độc tài toàn trị.

Con đường đến với quyền lực của ông Tập

Phân tích của ông Bùi — đặc biệt là cách diễn giải của ông về Đại hội 17 mang tính bước ngoặt của CPC vào năm 2007, vốn đã đưa ông Tập lên làm người kế vị rõ ràng của ông Hồ Cẩm Đào trước thềm cuộc chuyển giao quyền lực năm 2012 — là không thể bàn cãi. Dù vậy, ông có thể đã đánh giá quá cao mức độ mà hệ thống kiểu Lenin tạo điều kiện cho những tham vọng độc tài toàn trị của ông Tập. Đánh giá của riêng tôi về quỹ đạo dài hạn của Trung Quốc bớt bi quan hơn.

Vào năm 2007, ông Bùi viết, khi ông Tập xuất hiện với tư cách là người kế vị ông Hồ, chính ông Hồ lại ưa thích người học trò Lý Khắc Cường của mình hơn, nhưng phe Đoàn Thanh niên Cộng sản của ông đã thua trước phe Thượng Hải do người tiền nhiệm của ông Hồ là Giang Trạch Dân đứng đầu. Ông Tập cuối cùng đã thắng thế vì phe của ông Giang thiếu một ứng viên mạnh của riêng mình và muốn ủng hộ ông hơn là để phe Đoàn Thanh niên thống trị ban lãnh đạo thêm một thập kỷ nữa. Khi đã nắm quyền, ông đã tận dụng sự báo động lan rộng trong ban lãnh đạo CPC về nạn tham nhũng và sự suy thoái định chế để vượt mặt và vô hiệu hóa cả hai phe.

Ông Bùi cũng lưu ý rằng ông Tập không phải là nhà lãnh đạo cấp cao duy nhất thúc đẩy chủ nghĩa độc tài toàn trị. Một nhân vật nổi tiếng khác là Bạc Hy Lai, ủy viên Bộ Chính trị vốn giám sát Trùng Khánh trước khi bị khai trừ và bắt giữ vào năm 2012. Theo cách kể của ông Bùi, sự ủng hộ rộng rãi của các nhà lãnh đạo CPC đối với “mô hình Trùng Khánh” của ông Bạc, vốn tập trung quyền lực kinh tế vào tay các nhà lãnh đạo khu vực và các doanh nghiệp nhà nước, đã tiết lộ hệ thống kiểu Lenin dễ tiếp nhận việc hồi sinh nền chính trị độc tài toàn trị đến mức nào.

Điều vẫn chưa mấy thuyết phục là gợi ý của ông Bùi rằng sự trỗi dậy của ông Tập phản ánh logic cấu trúc của hệ thống kiểu Lenin hơn là các nước đi chính trị mang tính thời thế. Như chính ông Bùi thừa nhận, ông Giang và phe Thượng Hải ủng hộ ông Tập chính vì ông thiếu một cơ sở phe phái mạnh và thăng tiến qua hệ thống mà không gây ra những sự cảnh giác nào. Không giống như ông Bạc, người vốn khiến phần lớn ban lãnh đạo đảng phải lo ngại vì đường lối tân Mao phô trương của mình, ông Tập trước khi lên nắm quyền đã khéo léo che giấu mọi tham vọng cũng như khuynh hướng ý thức hệ của bản thân. Nói cách khác, phe của ông Giang ủng hộ ông Tập không phải vì họ muốn quay trở lại chế độ độc tài toàn trị, mà vì họ tin rằng họ có thể kiểm soát được ông.

Sự đồng thuận của giới tinh hoa vốn ban đầu gạt ông Bạc sang bên và sau đó dẫn đến sự sụp đổ của ông càng cho thấy rằng tầng lớp chóp bu của CPC không muốn thấy Trung Quốc bị lái ngược trở lại chế độ độc tài toàn trị. Việc ông Bạc hồi sinh các thực hành liên quan đến Cách mạng Văn hóa đã gây ra sự bất an lớn — và có khả năng là nỗi sợ hãi — trong nhiều đồng nghiệp của ông, đó là lý do tại sao cuối cùng họ quay lưng lại với ông. Ông Tập, ngược lại, đã chơi một ván bài kỷ luật và tính toán hơn nhiều. Vì lý do đó, chỉ riêng hệ thống kiểu Lenin không thể giải thích đầy đủ cho sự trỗi dậy của ông.

Mặc dù quyết định của ông Đặng nhằm duy trì trật tự kiểu Lenin rõ ràng đã tạo ra các điều kiện định chế khiến sự xuất hiện của một kẻ độc tài mới trở nên khả thi, nó không làm cho sự trỗi dậy của một ai đó như ông Tập trở thành điều tất yếu. Sự thăng tiến của ông do đó nên được hiểu rõ hơn là kết quả của những nước đi điều khiển của giới tinh hoa, chứ không phải là một kết cục được định sẵn của hệ thống chính trị Trung Quốc.

Hơn nữa, sự chán ghét của các nhà lãnh đạo đảng đối với các xu hướng độc tài toàn trị của ông Bạc dường như vẫn còn vương vấn. Bất chấp việc họ không sẵn sàng thách thức ông Tập một cách công khai, nhiều người trong giới tinh hoa chính trị có vẻ không thoải mái với hướng đi mà ông đang dẫn dắt Trung Quốc. Ví dụ, Ngoại trưởng Vương Nghị ban đầu có vẻ e ngại với việc ông Tập thúc đẩy nền ngoại giao “chiến lang” trước khi cuối cùng phải phục tùng theo đường lối này. Nếu ông Tập phải chèo lái qua một cuộc khủng hoảng quốc gia kéo dài, việc có bao nhiêu người sẽ giữ lòng trung thành vẫn là điều chưa hề rõ ràng.

Không có điều nào ở đây gợi ý rằng ông Đặng nên được miễn tội. Nếu ông không duy trì hệ thống kiểu Lenin, ông Tập sẽ thấy khó khăn hơn rất nhiều, nếu không muốn nói là bất khả thi, để bắt đầu khôi phục chủ nghĩa độc tài toàn trị trong vòng năm năm kể từ khi nắm quyền. Tuy nhiên, khả năng xảy ra không nên bị nhầm lẫn với tính tất yếu. Sự khác biệt đó có vẻ tinh tế, nhưng nó gợi ý rằng tương lai của Trung Quốc còn lâu mới được định đoạt từ trước.

Canh bạc rủi ro của ông Tập

Cam kết của ông Tập đối với chủ nghĩa độc tài toàn trị là không thể nhầm lẫn. Đối với ông, quyền lực tập trung và kỷ luật ý thức hệ là những nền móng cho sự vĩ đại của Trung Quốc. Sự vĩ đại quốc gia, dĩ nhiên, cũng có thể được hiểu theo cách rất khác: không phải là sự tập trung quyền lực vào tay nhà nước, mà là khả năng công dân được bảo vệ bởi luật pháp, tự do phát triển tài năng của mình, và phồn vinh mà không sợ bị đàn áp và phân biệt đối xử.

Tuy nhiên, ngay cả theo các tiêu chuẩn của chính ông Tập, vẫn chưa hề rõ ràng liệu chủ nghĩa độc tài toàn trị có thể mang lại sự phồn vinh lâu dài hay không. Về điểm này, sự hoài nghi của ông Hứa dường như có cơ sở vững chắc. Cuộc khảo sát của ông về lịch sử hiện đại gợi ý rằng các hệ thống độc tài toàn trị cộng sản luôn chịu khuất phục trước sự quản lý kinh tế yếu kém, sự cứng nhắc về chính sách, và sự suy giảm tính năng động. Như ông lưu ý, chưa có quốc gia độc tài toàn trị cộng sản nào thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình một cách thành công.

Liệu Trung Quốc có là một ngoại lệ hay không vẫn còn phải chờ xem. Chủ nghĩa độc tài toàn trị có thể đạt được những kết quả ấn tượng trong ngắn hạn, đặc biệt là khi nói đến việc huy động các nguồn lực, xây dựng cơ sở hạ tầng và thúc đẩy các ngành công nghiệp chiến lược. Nhưng sự kiểm soát tập trung và tính cứng nhắc về ý thức hệ có xu hướng làm bóp méo việc ra quyết định kinh tế, kìm hãm tinh thần khởi nghiệp cùng sự đổi mới trong nước, và tạo ra sự ngờ vực ở nước ngoài. Ông Tập càng đẩy Trung Quốc lún sâu vào con đường độc tài toàn trị, các vấn đề này có khả năng càng trở nên rõ nét hơn.

Chính lịch sử của Trung Quốc kể từ năm 1949 đã minh họa cho điểm này một cách rõ ràng. Dưới thời Mao, chế độ cai trị độc tài toàn trị đã tạo ra những thảm họa kinh tế lặp đi lặp lại, thảm khốc nhất là trong thời kỳ Đại nhảy vọt, vốn gây ra một trong những nạn đói chết chóc nhất trong lịch sử nhân loại, làm thiệt mạng khoảng 30 triệu người từ năm 1959 đến năm 1961. Vào cuối kỷ nguyên Mao, Trung Quốc nằm trong số những quốc gia nghèo nhất thế giới, tương phản rõ rệt với tiến trình công nghiệp hóa nhanh chóng của Đài Loan dưới thời Tưởng Giới Thạch.

Các cải cách của ông Đặng thành công phần lớn là vì CPC đã rút lui khỏi các hình thức độc tài toàn trị cực đoan nhất. Trung Quốc đã mở cửa đón nhận thương mại, đầu tư, công nghệ và chuyên môn quản lý từ nước ngoài, thuyết phục được phần lớn thế giới bên ngoài rằng họ đang chuyển dịch hướng tới một hệ thống thực dụng hơn và bớt mang tính ý thức hệ hơn.

Dưới sự lãnh đạo tập thể, Trung Quốc đã trải qua nhiều thập kỷ tăng trưởng phi thường, được hỗ trợ đáng kể bởi nguồn vốn và chuyên môn của cộng đồng Hoa kiều hải ngoại. Sự kết thúc của kỷ nguyên mở rộng thần tốc đó trùng hợp với sự trỗi dậy của ông Tập và nỗ lực đổi mới của ông hướng tới chủ nghĩa độc tài toàn trị.

Dĩ nhiên, sự giảm tốc kinh tế của Trung Quốc không thể chỉ được đổ lỗi hoàn toàn cho ông Tập. Các áp lực cấu trúc liên quan đến bẫy thu nhập trung bình, chẳng hạn như chi phí lao động tăng cao và sự suy giảm nhân khẩu học, đã đóng một vai trò đáng kể. Nhưng phong cách quản trị của ông Tập rõ ràng đã làm trầm trọng thêm các vấn đề này. Đặc biệt, việc ông thay thế sự lãnh đạo tập thể bằng chế độ cai trị độc tài đã làm gia tăng cả tần suất và quy mô của các sai lầm chính sách lớn, từ việc leo thang cuộc chiến thương mại với Mỹ trong nhiệm kỳ đầu tiên của Trump cho đến việc từ bỏ đột ngột chính sách zero-COVID, vốn kích hoạt một đợt tăng vọt lớn về số ca tử vong trong một bộ phận dân số chưa được tiêm chủng đầy đủ.

Đồng thời, cách tiếp cận ngày càng gây hấn của ông Tập đã khiến nhiều đối tác bên ngoài phải nghĩ lại về việc hợp tác kinh tế và công nghệ với Trung Quốc. Sự chuyển dịch trong tâm trạng công chúng cũng quan trọng không kém. Trong phần lớn kỷ nguyên cải cách, hầu hết người Trung Quốc tin rằng cuộc sống của họ sẽ tiếp tục được cải thiện, nhưng niềm tin đó đã suy yếu dưới thời ông Tập. Thay vì tham gia một cách hào hứng vào dự án phục hưng dân tộc của ông, nhiều người trẻ đã chọn cách đứng ngoài cuộc bối cảnh văn hóa làm việc cạnh tranh khốc liệt của Trung Quốc, đón nhận triết lý thảng bình (“nằm thẳng”).

Phải thừa nhận rằng, việc ông Tập khôi phục sự kiểm soát tập trung đã gia tăng đáng kể năng lực của CPC trong việc định hướng phát triển ở các lĩnh vực chiến lược, đặc biệt là các công nghệ tiên tiến. Nhưng những thành quả này phải trả giá bằng một mức phí đáng kể. Bằng việc từ bỏ chủ nghĩa thực dụng vốn đã định nghĩa nên kỷ nguyên cải cách để ủng hộ chủ nghĩa độc tài toàn trị, ông Tập có nguy cơ làm xói mòn chính những nền móng của phép màu kinh tế vốn giúp cho sự trỗi dậy của Trung Quốc khả thi, từ đó làm suy yếu năng lực của nước này trong việc đạt được “Giấc mơ Trung Hoa.”

Hơn nữa, ông Tập đã cài một quả bom hẹn giờ chính trị bằng việc tự biến mình thành nhà lãnh đạo trọn đời một cách hiệu quả. Bằng việc tháo dỡ các chuẩn mực về sự kế vị trật tự được thiết lập sau thời Mao, ông đã gia tăng khả năng rằng sự ra đi của ông suy cho cùng sẽ kích hoạt một cuộc chiến tranh giành quyền lực khốc liệt vốn có thể định hình tương lai của Trung Quốc. Như ông Bùi lưu ý, triển vọng cho tiến trình dân chủ hóa vẫn mờ mịt. Nhưng ngay cả một sự rút lui từng phần khỏi chủ nghĩa độc tài toàn trị cũng sẽ tốt hơn cho Trung Quốc và thế giới.

Tuy nhiên, vào lúc này, hướng đi của Trung Quốc dưới thời ông Tập có vẻ đã cố định. Liệu ông có thể hiện thực hóa được “Giấc mơ Trung Hoa” của mình cuối cùng sẽ phụ thuộc không chỉ vào năng lực lãnh đạo của ông, mà còn vào cách phần còn lại của thế giới ứng phó với một chế độ đang ngày càng định nghĩa chính mình trong thế đối lập với thế giới dân chủ.

Đây là nơi mà các cuốn sách của ông Bùi và ông Hứa chứng minh được giá trị đặc biệt. Bất kỳ ai quan tâm đến Trung Quốc sẽ được hưởng lợi to lớn từ những hiểu biết của ông Bùi và phân tích sáng tỏ, có cấu trúc tốt của ông về sự tiến hóa hậu Mao của nước này. Các nhà hoạch định chính sách, nói riêng, sẽ có được một sự thấu hiểu rõ ràng hơn đáng kể về quốc gia mà họ đang đối phó. Tác phẩm đầy tham vọng và đồ sộ của ông Hứa cũng xứng đáng có được sự chú ý nghiêm túc, dù với độ dài hơn 700 trang, nó có khả năng sẽ chủ yếu được đọc bởi các chuyên gia học thuật.

Cùng với nhau, ông Bùi và ông Hứa cung cấp những hiểu biết không thể thiếu về bản chất của Trung Quốc thời ông Tập. Bằng việc buộc người đọc phải nhìn xa hơn những giả định mang tính trấn an vốn từ lâu đã định hình các chính sách phương Tây và đối mặt với các lực lượng cấu trúc sâu sắc hơn đang thúc đẩy hệ thống chính trị Trung Quốc, họ đã phơi bày những rủi ro từ việc Trung Quốc quay trở lại chế độ độc tài toàn trị.

Steve Tsang hiện là Giám đốc Học viện Trung Quốc SOAS thuộc Trường Nghiên cứu Phương Đông và Châu Phi của Đại học Luân Đôn, đồng thời là tác giả của cuốn sách Lịch sử Hồng Kông Hiện đại.