Phải chăng kỷ nguyên bá quyền Trung Quốc đã bắt đầu?

Nguồn: Stephen M. Walt, “Chinese Hegemony Might Be Happening,” Foreign Policy, 12/05/2026

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Vẫn luôn có những lý do để nghi ngờ kịch bản bá quyền Trung Quốc – nhưng giờ thì khác.

Liệu Trung Quốc có thể trở thành một cường quốc bá chủ ở châu Á? Hồi năm 2023, tôi đã viết một bài bình luận lập luận rằng những lo ngại về bá quyền khu vực của Trung Quốc đã bị phóng đại, dù không hoàn toàn viển vông. Một phiên bản dài hơn của lập luận này sau đó được xuất bản trong ấn bản Mùa xuân năm 2025 của tạp chí International Security. Tôi lập luận rằng không chỉ hầu hết các nỗ lực hiện đại nhằm tranh giành bá quyền khu vực đều thất bại (Mỹ là ngoại lệ duy nhất do một số hoàn cảnh thuận lợi hiếm có), mà triển vọng về một liên minh cân bằng lực lượng vững chắc ở châu Á là rất lớn. Hầu hết các nước láng giềng của Trung Quốc đều không muốn nước này thống trị khu vực, và Mỹ cũng vậy. Căn cứ vào xu hướng cân bằng các mối đe dọa của các cường quốc lớn, tôi kết luận rằng một nỗ lực công khai của Trung Quốc nhằm giành bá quyền nhiều khả năng sẽ thất bại và sẽ là thiếu khôn ngoan nếu Bắc Kinh cố gắng làm điều đó.

Tôi vẫn thấy tính logic của lập luận này đầy sức thuyết phục, nhưng tôi đã không đánh giá đúng mức khả năng Tổng thống Mỹ Donald Trump là một người điều hành chính sách đối ngoại bốc đồng, sai lầm và kém cỏi như những gì ông thể hiện. Tôi cho rằng sự hiện diện của những tiếng nói diều hâu về Trung Quốc như Ngoại trưởng Marco Rubio và Thứ trưởng Quốc phòng phụ trách Chính sách Elbridge Colby, được hỗ trợ bởi sự đồng thuận lưỡng đảng trên Đồi Capitol, sẽ giữ cho sức mạnh của Mỹ tập trung đủ mức vào việc giúp các đồng minh châu Á kiềm chế Trung Quốc.

Thay vào đó, kể từ năm 2025, Trump đã làm gần như mọi thứ mà một người sẽ làm nếu muốn Trung Quốc thay thế Mỹ và thiết lập vị trí thống trị ở khu vực lân cận của nước này. Ông nhắm vào các trụ cột của nền tảng khoa học Mỹ: cắt giảm tài trợ của Quỹ Khoa học Quốc gia, thanh trừng hội đồng cố vấn của quỹ này, sa thải các nhà khoa học giàu kinh nghiệm ở hàng chục cơ quan chính phủ, và phát động một cuộc chiến tàn khốc chống lại các trường đại học hàng đầu của Mỹ. Trong thời đại mà năng lực khoa học là chìa khóa cho năng suất kinh tế và sức mạnh quân sự, đây là một hành động tự tước vũ khí đơn phương, vào đúng thời điểm mà Trung Quốc đang làm điều ngược lại.

Cũng liên quan đến vấn đề này, Trump đã nhường cho Trung Quốc những vị thế thống trị về các công nghệ xanh mới nổi — như năng lượng mặt trời và năng lượng gió, pin tiên tiến, xe điện… — trong khi lại đặt cược gấp đôi vào các công nghệ của thế kỷ 20: nhiên liệu hóa thạch và động cơ đốt trong. Không thể hiểu nổi: khi các trung tâm dữ liệu bùng nổ và sự tồn tại của con người đòi hỏi lượng điện năng ngày càng lớn, chính quyền này lại đang chi tiêu tiền thuế của người dân để ngăn cản việc xây dựng các trang trại điện gió. Thế giới đang được nhắc nhở mỗi ngày rằng họ cần giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch và phụ thuộc nhiều hơn vào năng lượng điện sạch, và Trump đang làm mọi cách có thể để đảm bảo rằng Trung Quốc — chứ không phải Mỹ — làm chủ tương lai đó.

Thứ ba, ông áp đặt một loạt các mức thuế quan được thiết kế kém và có vẻ ngẫu nhiên đối với Trung Quốc (và các nước khác), chỉ để rồi phải lùi bước khi Trung Quốc cắt đứt xuất khẩu các khoáng sản đất hiếm đã qua tinh chế mà nhiều công nghệ tiên tiến (như chiếc máy tính xách tay mà tôi đang dùng để viết bài này) đang phụ thuộc vào. Và hóa ra các mức thuế của Trump cũng bất hợp pháp, điều đó càng khiến chúng ít có khả năng đạt được bất kỳ mục tiêu nào mà ông tuyên bố chúng sẽ mang lại — chẳng hạn như mang công việc sản xuất-chế tạo trở lại Mỹ.

Tệ hơn nữa, ông sử dụng gậy gộc thuế quan để bắt nạt một số đối tác quan trọng nhất của chúng ta ở châu Á, buộc họ phải cam kết đầu tư vào nền kinh tế Mỹ bất kể họ có muốn hay không. Ngoài việc kích động phẫn nộ, việc gây tổn hại đến nền kinh tế của các đồng minh chỉ khiến họ khó có thể tăng chi tiêu quốc phòng — một điều mà Mỹ từ lâu đã muốn họ làm. Trump và đội ngũ của ông gần như cũng chẳng làm gì để bồi đắp quan hệ nồng ấm hơn với các quốc gia châu Á: Tổng thống đã có một cuộc cãi vã vô nghĩa với Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi vào năm ngoái, và hiện tại không có đại sứ Mỹ đương nhiệm nào tại Australia, Myanmar, Campuchia, Fiji, Indonesia, Lào, Malaysia, Quần đảo Marshall, Papua New Guinea, Samoa, Quần đảo Solomon hoặc Việt Nam. Hầu hết các vị trí này thậm chí còn chưa có người được đề cử.

Trump và Rubio cũng rút Mỹ ra khỏi hàng chục tổ chức quốc tế — một đấu trường khác nơi Trung Quốc ngày càng hoạt động tích cực và hiệu quả — điều đó có nghĩa là Mỹ sẽ không có mặt trong phòng khi các quy tắc và thể chế định hình các khía cạnh khác nhau của giao thương quốc tế được soạn thảo. Tôi biết, đúng là một số thể chế quốc tế không quá quan trọng, và các quốc gia hùng mạnh có thể phớt lờ chúng khi họ muốn, nhưng sự hiện diện ngoại giao ngày càng giảm sút tại các diễn đàn này báo hiệu cho phần còn lại của thế giới rằng Mỹ không quan tâm đến việc hợp tác với những nước khác. Điều đó cũng có nghĩa là trong những năm tới, các doanh nghiệp Mỹ sẽ phải điều hướng trong các môi trường quản lý toàn cầu mà các quy tắc của chúng là do người khác viết ra. Ngay cả một quốc gia hùng mạnh như Mỹ cũng sẽ nhận ra điều này thật bất tiện và kém hiệu quả.

Và kế đó là cuộc chiến với Iran.

Đầu tiên, cuộc xung đột này là một sự xao nhãng khổng lồ, thiêu rụi sự chú ý vốn đã hạn hẹp của Trump, cũng như thời gian và sức lực của các cố vấn của ông. Làm thế nào bạn có thể đưa ra một chiến lược hiệu quả cho châu Á khi bạn và đội ngũ của mình còn bận rộn cố gắng tìm cách để mở lại Eo biển Hormuz? Trump là vị tổng thống Mỹ thứ tư nhậm chức với lời thề sẽ tập trung vào sức mạnh đang lên của Trung Quốc ở châu Á, và giống như tất cả những người tiền nhiệm, ông cuối cùng lại sa lầy ở Trung Đông. Và giống như George W. Bush vào năm 2003, ông không thể đổ lỗi cho ai khác ngoài chính mình (và có lẽ là cả Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu).

Cuộc chiến cũng làm suy yếu tư thế quân sự của Mỹ ở châu Á, đặt ra những câu hỏi chính đáng về việc Mỹ có thể phản ứng hiệu quả như thế nào nếu rắc rối nổ ra ở khu vực này. Hải quân Mỹ hiện đang có ba nhóm tác chiến tàu sân bay ở Trung Đông và chỉ có một ở Đông Á vào lúc này, và những tàu sân bay ở Vùng Vịnh đã phải túc trực suốt nhiều tháng và sẽ cần chút thời gian cập cảng khi tất cả những chuyện này kết thúc. Lầu Năm Góc đã sử dụng tên lửa Tomahawk, tên lửa Patriot và nhiều hệ thống tiên tiến khác với tốc độ chóng mặt, khiến các đồng minh của họ ở châu Á ít được bảo vệ hơn. Tôi không nghĩ rằng Trung Quốc hay Triều Tiên sắp sửa lợi dụng tình huống này, nhưng nó hẳn không thể khiến các đồng minh của chúng ta ở châu Á cảm thấy vui vẻ.

Hơn nữa, toàn bộ cách thức cuộc chiến được “lên kế hoạch” (nếu có thể áp dụng từ này) và thực thi hẳn phải khiến các đồng minh lâu năm hết sức đắn đo. Không một ai trong số họ được tham vấn trước, và dường như không một ai trong chính quyền mảy may suy nghĩ về việc tấn công Iran một lần nữa có thể ảnh hưởng đến các đối tác của chúng ta trên khắp thế giới như thế nào. Các tác động là rất nghiêm trọng: giá xăng đã tăng mạnh ở Philippines, Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nơi khác, và các dự báo tăng trưởng đã bị hạ thấp. Thêm vào đó là những hậu quả về kinh tế và con người của tình trạng thiếu phân bón và sản lượng cây trồng giảm sút do chiến tranh, và kết quả là bạn có một công thức cho sự tức giận thực sự đối với cách mà Washington khinh suất bước vào cuộc chiến.

Để lặp lại một quan điểm mà tôi từng đưa ra trong quá khứ: việc chính quyền xử lý cuộc chiến một cách lộn xộn chỉ càng làm dấy lên những nghi ngờ nghiêm trọng về khả năng phán đoán và năng lực của Mỹ. Nơi chính trường thế giới, tầm ảnh hưởng và uy tín một phần xuất phát từ sức mạnh, lợi ích chung và sự thể hiện lòng kiên quyết, nhưng chúng cũng phụ thuộc vào sự tin tưởng của những nước khác rằng các nhà lãnh đạo của một quốc gia có hiểu biết nhất định về những gì họ đang làm. Xét đến màn thể hiện của chính quyền cho đến nay, liệu có bất kỳ đồng minh nào của Mỹ ở châu Á (hoặc bất kỳ nơi nào khác) nên nghe theo bất kỳ lời khuyên nào của họ hoặc tin vào bất kỳ cam kết nào mà họ có thể đưa ra không? Trong khi đó, Trung Quốc lại được quyền khắc họa bản thân như một cường quốc nhân từ (dù thực ra không phải vậy), hoặc chí ít cũng là một quốc gia không có thói quen ném bom nước ngoài, ám sát các nhà lãnh đạo của họ, hoặc đẩy nền kinh tế thế giới vào vòng xoáy tuột dốc. Một cuộc thăm dò của Gallup gần đây cho thấy Trung Quốc hiện đang được yêu thích trên toàn thế giới hơn là Mỹ — một diễn biến đáng chú ý mà tất cả chúng ta đều nên lo lắng.

Tất cả những điều đó khiến tôi tự hỏi liệu mình có quá lạc quan về sự ổn định của các liên minh châu Á của Mỹ và triển vọng ngăn chặn sự thống trị của Trung Quốc ở đó hay không. Dù có những lý do cấu trúc mạnh mẽ giải thích tại sao một liên minh để cân bằng với Trung Quốc sẽ khá bền vững, nhưng nó vẫn có thể thất bại nếu các thành viên chủ chốt của liên minh — và đặc biệt là nước được cho là nhà lãnh đạo của liên minh — thực sự kém cỏi. Dù hầu hết các quốc gia châu Á không muốn tạo khoảng cách với Mỹ và thỏa hiệp với Trung Quốc, nhưng khả năng này có thể không còn xa vời như tôi từng tin tưởng. Những sai lầm gần đây của Mỹ là nguyên nhân chính.

Tôi khá chần chừ khi nói tất cả những điều này, bởi vì thái độ chủ bại có thể trở thành lời tiên tri tự ứng nghiệm, và tôi không muốn ám chỉ rằng ván bài đã lật và sự thống trị của Trung Quốc có khả năng xảy ra. Ngay cả bây giờ, tôi thà chơi với những lá bài trong tay Mỹ hơn là những lá bài mà Trung Quốc được chia, bởi vì Washington vẫn nắm nhiều quân bài có giá trị cao hơn so với Bắc Kinh. Nhưng tôi ước gì những lá bài của chúng ta đang được chơi bởi một người hiểu luật chơi và biết giá trị của từng quân bài.

Stephen M. Walt là chuyên gia bình luận của Foreign Policy và là giáo sư về quan hệ quốc tế tại Đại học Harvard.