Trump đã hiểu sai châu Âu như thế nào?

Nguồn: Liana Fix và Michael Kimmage, “The Transatlantic MAGA Fantasy,” Foreign Affairs, 29/04/2026

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Sau khi không tin tưởng vào quan hệ xuyên Đại Tây Dương trong nhiệm kỳ đầu tiên, Tổng thống Donald Trump đã cố gắng định hình lại nó trong nhiệm kỳ thứ hai. Ông gây áp lực cực lớn lên các nước châu Âu, rõ nhất là đe dọa dùng vũ lực sáp nhập Greenland, vùng lãnh thổ thuộc Đan Mạch. Ông ban hành các chính sách kinh tế gây bất lợi cho châu Âu thông qua các mức thuế quan rộng khắp và liên tục thay đổi. Còn chính quyền của ông can thiệp vào nền chính trị nội bộ của lục địa này, chỉ trích cả Liên minh châu Âu lẫn các đảng phái chính lưu của châu Âu, trong khi hứa hẹn tình hữu nghị với các đảng cực hữu ở lục địa.

Một quan hệ đối đầu với châu Âu có thể phù hợp với phong trào MAGA. Các quan chức của Trump thường xuyên tuyên bố rằng những vấn đề cốt lõi của châu Âu là nhập cư, việc mất chủ quyền quốc gia vào tay Liên minh châu Âu, và một không gian công cộng thiếu tính bảo thủ. Điều này được Phó Tổng thống J.D. Vance trình bày rõ ràng nhất. “Ở Anh và trên khắp châu Âu, tôi e rằng quyền tự do ngôn luận đang thụt lùi,” Vance lập luận tại Hội nghị An ninh Munich năm 2025, mô tả “di cư hàng loạt” là thách thức cấp bách nhất của châu Âu. Sau hơn một năm nỗ lực, chính quyền Trump vẫn chưa thể tiến gần đến việc tập hợp một liên minh gồm các đảng cực hữu ở châu Âu. Họ cũng không tận dụng được quan hệ với các đảng này để thúc đẩy lợi ích của Mỹ ở lục địa già. Ngay cả đối với các đảng cực hữu có cùng ý thức hệ, các mức thuế quan tùy tiện, những lời công kích và các lời đe dọa lãnh thổ của Trump cũng rất khó chấp nhận. Hầu hết các đảng theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan ở châu Âu đều mang tư tưởng chống Mỹ từ trong quá khứ, và như thất bại của Thủ tướng Hungary Viktor Orban đã chứng minh, sự ủng hộ từ chính quyền Trump đang ngày càng trở thành gánh nặng cho phe cực hữu của châu Âu.

Cuộc chiến của Mỹ ở Iran, bắt đầu vào tháng 2, đã làm sáng tỏ hai sự thật về quan hệ xuyên Đại Tây Dương đương đại. Sự thật thứ nhất là các đảng cực hữu châu Âu không phải là đồng minh thời chiến của Trump ở châu lục này. Họ vội vã tạo khoảng cách với cuộc chiến, qua đó cho thấy sự tương đồng về ý thức hệ không tự động chuyển hóa thành lòng trung thành chính trị. Sự thật thứ hai là sự ủng hộ công khai của chính quyền đối với các đảng phái và ứng cử viên cánh hữu ở châu Âu đã làm tổn hại quan hệ của Washington với các nhà lãnh đạo châu Âu không thuộc phe cực hữu. Nếu Washington quan tâm hơn đến việc tôn trọng và gìn giữ những quan hệ này, thì nhiều nhà lãnh đạo châu Âu có lẽ đã đưa ra những lời ủng hộ mang tính biểu tượng cho cuộc chiến Iran, hoặc chí ít cũng giảm bớt sự chỉ trích công khai của họ. Thế nhưng sự thiếu tin tưởng đối với Washington hiện đang bao trùm khắp châu Âu.

Mỹ nên khôn ngoan suy nghĩ lại về cách tiếp cận của mình đối với châu Âu, đặc biệt khi xét đến kết quả bầu cử ở Hungary. Thay vì tiếp tục đổ thêm dầu vào lửa, chính quyền Trump nên lùi bước khỏi nền chính trị nội bộ của châu Âu, chấm dứt cuộc thập tự chinh phi tự do của mình và ứng xử khéo léo hơn với các nhà lãnh đạo châu Âu trên toàn bộ phổ chính trị. Một nước đi đảo ngược như vậy không nằm trong bản năng của chính quyền này. Nhưng xét đến cái giá ngày một lớn của cuộc chiến Iran, việc tìm kiếm những điểm hợp tác với toàn bộ châu Âu là vì lợi ích của Mỹ.

Những thăng trầm dọc đường

Kể từ khi hình thành vào cuối những năm 1940, quan hệ xuyên Đại Tây Dương đã nhiều lần suýt đổ vỡ. Trong Khủng hoảng Suez năm 1956, Mỹ ra lệnh cho Pháp, Israel và Anh rút lui và để Kênh đào Suez lại vào tay Ai Cập. Chiến tranh Việt Nam đã làm châu Âu xa lánh Mỹ; nhiều người châu Âu chỉ trích đây là một cuộc phiêu lưu thực dân kiểu mới tàn bạo. Vào đầu những năm 1980, một số người châu Âu phản đối việc đặt tên lửa của Mỹ ở châu Âu vì xem quyết định triển khai này là quá khiêu khích đối với Liên Xô. Trong Chiến tranh Iraq, chính quyền Bush đã chia lục địa này thành “châu Âu cũ” (các nước như Pháp, phản đối chiến tranh) và “châu Âu mới” (các nước như Ba Lan, tham gia vào “liên minh tự nguyện” của Washington). Từ lâu đã tồn tại những khác biệt về tôn giáo, quyền sở hữu súng và chính sách môi trường vốn có thể làm cho châu Âu và Mỹ trông giống như những hành tinh tách biệt hơn là những đối tác tự nhiên. Lịch sử chân thực của quan hệ xuyên Đại Tây Dương là một lịch sử của sự căng thẳng.

Quan hệ Mỹ-châu Âu đã không tồn tại qua nhiều căng thẳng một cách tình cờ. Nó được duy trì bằng những lợi ích chung, bao gồm việc kiềm chế Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh và sự thịnh vượng chung mà một quan hệ tốt đẹp mang lại. Để bảo vệ những lợi ích chung này, các nhà lãnh đạo ở hai bờ Đại Tây Dương đã chọn cách ứng xử thận trọng đối với nền chính trị nội bộ của nhau và không đòi hỏi sự tương đồng về ý thức hệ. Dưới thời Tổng thống George W. Bush, đa số các nước châu Âu bắt đầu cảm thấy xa cách với Đảng Cộng hòa. Sự ưu ái dành cho các tổng thống Đảng Dân chủ Barack Obama và Joe Biden hiện rõ ở châu Âu. Dù vậy, trong nhiệm kỳ đầu tiên của Trump, những khác biệt về ý thức hệ này đã không phá vỡ quan hệ công việc của châu Âu với Mỹ.

Về phần mình, các tổng thống Mỹ chưa bao giờ thờ ơ với nền chính trị nội bộ của châu Âu, nhưng họ đã cố gắng giữ khoảng cách. Năm 1963, khi Tổng thống John F. Kennedy đến thăm Tây Đức, ông chủ ý xuất hiện cùng Konrad Adenauer, Thủ tướng từ Đảng Dân chủ Kitô giáo của Tây Đức, và Willy Brandt, Thị trưởng từ Đảng Dân chủ Xã hội của Tây Berlin. Tổng thống Ronald Reagan duy trì quan hệ thân thiết với nữ Thủ tướng Anh bảo thủ Margaret Thatcher, nhưng ông cũng làm việc với các nhà lãnh đạo châu Âu từ nhiều đảng phái khác nhau. Đối tác châu Âu thân thiết nhất của Obama là Thủ tướng Angela Merkel, một đảng viên Dân chủ Kitô giáo, còn của Biden là Thủ tướng Olaf Scholz, một đảng viên Dân chủ Xã hội. Việc đặt chính trị đảng phái lùi về phía sau đã giúp củng cố vững chắc quan hệ xuyên Đại Tây Dương, tập trung sự chú ý vào các vấn đề kinh tế và an ninh cốt lõi. Chủ nghĩa thực dụng này đã thúc đẩy các lợi ích của Mỹ ở châu Âu và trên toàn thế giới.

Chấp nhận thực tế

Nỗ lực của chính quyền Trump nhằm tập hợp một mạng lưới các đảng cực hữu đã làm suy yếu ảnh hưởng của Mỹ ở châu Âu. Đó chưa bao giờ là một lựa chọn hợp lý: các đảng cực hữu của châu Âu hiện đang giữ khoảng cách với phong trào MAGA, và mức độ ủng hộ Trump, vốn đã thấp ở hầu hết các nước châu Âu, lại càng giảm sâu hơn kể từ khi ông phát động cuộc chiến ở Iran.

Theo một cuộc thăm dò của Politico được thực hiện vào tháng 12/2025, Trump không được lòng cử tri châu Âu, kể cả những cử tri cực hữu. Ở Pháp, chỉ 25% những người được hỏi tự nhận là người ủng hộ hiện tại của đảng cực hữu Mặt trận Quốc gia có quan điểm tích cực về Trump. Ở Đức và Anh, lần lượt có 32% và 48% cử tri cực hữu hiện tại chia sẻ quan điểm này. Các nhà lãnh đạo như Jordan Bardella, Chủ tịch Đảng Mặt trận Quốc gia của Pháp, cảm thấy rằng việc cổ vũ cho Washington có thể làm tổn hại đến triển vọng chính trị của họ. “Tôi là người Pháp, nên tôi không vui vẻ gì với thân phận chư hầu,” Bardella nói với The Telegraph vào tháng 12, “và tôi không cần một người anh lớn như Trump để định đoạt số phận của đất nước mình.” Người dân châu Âu, bao gồm cả những người bị Trump thu hút, không muốn nước Mỹ chỉ bảo họ cách bỏ phiếu.

Về mặt lịch sử, các đảng cực hữu châu Âu luôn phẫn nộ với Mỹ vì xem nước này là mối đe dọa đối với chủ quyền và bản sắc văn hóa của họ. Đảng Lựa chọn Thay thế cho nước Đức (AfD) theo truyền thống vẫn xem vai trò của Mỹ ở châu Âu như điều mà triết gia chính trị Carl Schmitt gọi là raumfremde Macht — một thế lực xa lạ không nên có tiếng nói trong các vấn đề của châu Âu. Mặt khác, AfD xem Nga là một cường quốc châu Âu đích thực. Cách đóng khung này đi ngược lại Chiến lược An ninh Quốc gia năm 2025 của Trump, vốn đề cao ý tưởng về một châu Âu thoát khỏi sự thống trị của bất kỳ đối thủ nào của Mỹ.

Cuộc bầu cử quốc hội ở Hungary tháng này không hẳn là một cuộc trưng cầu dân ý về Trump. Thất bại của Orban bắt nguồn từ những lo ngại của người dân Hungary về nạn tham nhũng trong chính phủ và tình hình kinh tế, cũng như mong muốn của họ về một quan hệ bớt căng thẳng hơn với Liên minh châu Âu. Nhưng sự ủng hộ công khai của chính quyền Trump dành cho Orban, rõ nhất là thông qua Vance, người đến tận Hungary để vận động tranh cử cùng Orban, đã không giúp ích được gì. Thậm chí, nó có thể còn làm tổn hại đến cơ hội của Orban. Washington đã sai lầm khi giả định rằng Chủ nghĩa Orban là làn sóng của tương lai và rằng Brexit, Orban cùng phong trào MAGA nằm trên cùng một sợi dây liên tục của sự nổi tiếng và thành công.

Washington giờ đây phải chấp nhận thực tế. Khi ở châu Âu không có sự chuyển hướng đáng kể nào sang cánh hữu, Mỹ sẽ phải đối mặt với một châu Âu như nó vốn có. Nhưng ngay cả khi có sự dịch chuyển sang cánh hữu ở châu Âu, cũng không rõ điều ấy mang lại lợi ích gì cho chính quyền Trump. Khi nắm quyền, các đảng cực hữu có thể phản đối việc áp dụng sức mạnh toàn cầu của Mỹ, chẳng hạn bằng cách từ chối cho Mỹ quyền tiếp cận không phận châu Âu hoặc cắt giảm các đặc quyền rộng lớn về căn cứ quân sự mà Washington hiện đang được hưởng ở châu Âu.

Nếu chính quyền thứ hai của Trump tập trung vào việc khép lại cuộc chiến ở Ukraine, thúc đẩy “chủ quyền” quốc gia hơn là sự đoàn kết của EU và giải quyết các vấn đề di cư, thì các đảng cực hữu của châu Âu có lẽ đã vượt qua thái độ hoài nghi truyền thống của họ và tập hợp lại ủng hộ Mỹ. Nhưng hành động can thiệp của Mỹ ở Venezuela và Iran đã tạo ra khoảng cách giữa Washington và những nước được cho là đối tác của họ ở châu Âu. Hồi tháng 1, một ngày sau khi Mỹ bắt giữ Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro, nhà lãnh đạo Đảng Mặt trận Quốc gia của Pháp, Marine Le Pen, viết rằng có “một lý do cơ bản” để phản đối chiến dịch thay đổi chế độ của Mỹ: “chủ quyền của các quốc gia không bao giờ là thứ để thương lượng.” Cuối tháng đó, Nigel Farage, lãnh đạo Đảng Cải cách của Anh, gọi những lời đe dọa của Trump đối với Greenland là một “hành động thù địch.” Sang tháng 3, lãnh đạo AfD Alice Weidel chỉ trích Mỹ vì chủ nghĩa “phiêu lưu” ở Iran và yêu cầu các nhà lãnh đạo đảng hạn chế những chuyến thăm cấp cao với các đảng viên Cộng hòa MAGA.

Chính quyền Trump đã gây thù hằn với nhiều chính phủ ôn hòa ở châu Âu vào đúng thời điểm mà sự ủng hộ của họ đối với các hành động của Mỹ ở Trung Đông đáng lẽ rất có giá trị. Hiện tại, các nước châu Âu vẫn có thể sử dụng ngôn ngữ của quan hệ đối tác. Mỹ vẫn là nhà cung cấp an ninh không thể thiếu cho châu Âu và vẫn tiếp tục cung cấp cho Ukraine những thông tin tình báo có ý nghĩa cùng sự hỗ trợ về xác định mục tiêu. Nhưng việc Washington ve vãn các đảng cực hữu, cùng với những nỗ lực bắt nạt của Trump về thuế quan, vấn đề Greenland và chi tiêu quốc phòng, đã ăn mòn niềm tin và cản trở quan hệ.

Mỹ và châu Âu vẫn chia sẻ những lợi ích thực sự, bao gồm việc mở cửa lại Eo biển Hormuz, và sẽ hưởng lợi nhờ hợp tác trong các vấn đề này. Nhưng châu Âu khó có khả năng điều động thêm tài sản của mình cho bất kỳ cuộc tấn công nào nữa của Mỹ và Israel vào Iran, hoặc đảm nhận trách nhiệm kiểm soát Eo biển Hormuz sau khi cuộc chiến kết thúc. Giá như chính quyền Trump theo đuổi một cách tiếp cận ôn hòa hơn, ít bị chính trị hóa hơn đối với lục địa này trong 14 tháng qua, thì các nhà lãnh đạo châu Âu chắc chắn đã cởi mở hơn trước các yêu cầu của Mỹ.

Chi phí chìm

Một nước Mỹ bị dàn trải quá sức, bị mắc kẹt trong một cuộc chiến kéo dài với Iran, nên tìm cách cắt lỗ ở châu Âu. Sự tương đồng về ý thức hệ là thứ xa xỉ, không phải điều kiện thiết yếu, đối với các liên minh vốn nảy sinh từ những lợi ích lâu dài. Chính quyền Trump nên thừa nhận rằng một trật tự xuyên Đại Tây Dương phi tự do sẽ không thể xảy ra. Bằng việc để nền chính trị châu Âu cho người châu Âu tự định đoạt, Washington nên tập trung giải quyết một tập hợp các lợi ích an ninh hẹp, được xác định rõ ràng với các bên liên quan chủ chốt của châu Âu. Việc quay ngoắt như vậy sẽ là điều bẽ mặt đối với Washington, xét đến các hành động và thông điệp của năm qua, nhưng Trump đã cho thấy sự sẵn sàng thay đổi lộ trình một cách thực dụng nếu một lập trường không còn trụ vững được. Ông đã làm như vậy với thuế quan và những lời đe dọa sáp nhập Greenland, dù những vấn đề này vẫn có thể xuất hiện trở lại. Dự án châu Âu phi tự do của ông có thể cần đến một sự đảo ngược tương tự.

Người châu Âu có thói quen tuyên bố rằng quan hệ xuyên Đại Tây Dương đã chết. Sau hơn một năm tranh cãi gay gắt giữa Washington và các đối tác châu Âu, người châu Âu đã đúng khi cho rằng liên minh này đang suy yếu đi nhiều. Giờ đây, khi chỉ còn trơ trọi lại bộ xương của lợi ích, nó đã mất đi lớp sơn hữu nghị mà nhiều nhà lãnh đạo châu Âu từng vờ rằng vẫn còn tồn tại sau khi Trump tái đắc cử năm 2024. Xét đến sự ghẻ lạnh này, một sự tập trung mới vào các lợi ích chung và việc thoái lui khỏi ý thức hệ là những điều kiện thiết yếu. Đó có lẽ chính là những gì quan hệ xuyên Đại Tây Dương cần để tồn tại.

Liana Fix là nghiên cứu viên cấp cao về châu Âu tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại và là tác giả của cuốn sách sắp xuất bản “Germany Rearmed: The Return of War and the End of Illusions.”

Michael Kimmage là giám đốc của Viện Kennan và là tác giả của cuốn “Collisions: The Origins of the War in Ukraine and the New Global Instability.”