
Nguồn: Chad P. Bown, “The Real Risk of a Trade War With Canada”, Foreign Affairs, 01/09/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Cuối tháng 10/2025, Honda buộc phải đóng cửa vô thời hạn một nhà máy tại Mexico chuyên sản xuất SUV do thiếu linh kiện đột ngột. Cách đó hơn 2.000 dặm, tại Canada, hãng cũng phải cắt giảm một nửa sản lượng dòng Civic bán chạy. Tình trạng thiếu hụt này nhanh chóng gây hoảng loạn trong giới doanh nghiệp trên khắp Bắc Mỹ. Stellantis lập một “phòng tác chiến” để theo dõi mức độ sẵn có của các linh kiện trọng yếu, trong khi Ford bắt đầu tính toán thời điểm lượng tồn kho có thể cạn kiệt. Hàng trăm nghìn việc làm tại Mexico và Canada đứng trước nguy cơ bị ảnh hưởng nếu tình trạng thiếu linh kiện lan rộng qua các chuỗi cung ứng vốn hội nhập sâu với Mỹ. Sau đó, Honda cho biết sự cố này đã gây thiệt hại khoảng 300 triệu USD liên quan đến sản xuất.
Nguyên nhân bắt nguồn từ một chính sách của Trung Quốc tuy đơn giản nhưng được tính toán kỹ lưỡng. Bắc Kinh bất ngờ cấm xuất khẩu trên phạm vi toàn cầu các chất bán dẫn do Nexperia sản xuất, một công ty Trung Quốc ít được biết đến nhưng có linh kiện được sử dụng trong túi khí, hệ thống phanh và nhiều thiết bị thiết yếu khác trên ô tô. Chủ tịch Tập Cận Bình thực hiện động thái này nhằm đáp trả các hành động của chính phủ Hà Lan và Tổng thống Mỹ Donald Trump. Ông Tập chỉ đảo ngược các biện pháp siết xuất khẩu đối với Nexperia sau khi Trump đồng ý, vào cuối tháng đó, hoãn triển khai một cơ chế kiểm soát xuất khẩu mới của Mỹ.
Sự việc phơi bày rõ mức độ hội nhập sâu của các chuỗi cung ứng Bắc Mỹ — và mức độ dễ bị tổn thương của chúng trước hành vi cưỡng ép kinh tế từ Trung Quốc. Một linh kiện ô tô có thể vượt qua biên giới Mỹ – Canada hoặc Mỹ – Mexico tới bảy hoặc tám lần trước khi trở thành một phần của chiếc xe hoàn chỉnh. Nếu Bắc Kinh nhắm vào chỉ một quốc gia, toàn bộ chuỗi cung ứng Bắc Mỹ vẫn có thể bị đình trệ.
Thế nhưng, cả ba chính phủ Bắc Mỹ lại đang phần nào làm ngơ trước thực tế đó. Các biện pháp thuế quan của Trump đối với Canada và Mexico trong năm 2025, cùng với cuộc chiến thương mại ngày càng leo thang với Canada trong năm nay, đã khiến các nước tập trung vào những tranh chấp nội bộ giữa ba đối tác, trong khi mối đe dọa lớn hơn lại đến từ bên ngoài.
Việc Washington từ chối gia hạn Hiệp định Mỹ – Mexico – Canada (USMCA) vào ngày 1/7 đã mở đường cho một cuộc đàm phán lại trên thực tế đối với hiệp định này. Nhưng trọng tâm không nên là những điều khoản ba nước áp đặt lên nhau, mà phải là những quy tắc họ cùng xây dựng để hỗ trợ lẫn nhau trong việc đối phó với Trung Quốc. Quyền lực độc quyền của Trung Quốc trong hàng loạt lĩnh vực nền tảng của nền kinh tế Bắc Mỹ đang gia tăng với tốc độ nhanh chóng. Quyền lực đó càng mở rộng, Mexico, Ottawa và Washington càng trở nên dễ bị tổn thương trước những quan hệ mà hai thủ đô còn lại duy trì với Bắc Kinh. Trong một lục địa đã hội nhập sâu, Washington không thể giảm mức độ dễ bị tổn thương của chính mình trước sức ép kinh tế từ Trung Quốc nếu Canada và Mexico không làm điều tương tự.
Kể từ năm 2018, Washington đã tích cực thử nghiệm nhiều tổ hợp chính sách nhằm chống lại sự thống trị thị trường ngày càng lớn của Trung Quốc. Canada và Mexico cần tham gia các nỗ lực đó theo cách mạch lạc và đồng bộ hơn, còn Mỹ cũng phải nỗ lực hơn để kéo họ vào. Việc đàm phán lại USMCA là một điểm khởi đầu thích hợp.
BỎ SÓT BỨC TRANH LỚN
Trong chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ năm 1992, doanh nhân Ross Perot từng nổi tiếng cảnh báo rằng Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) sẽ tạo ra một “tiếng hút khổng lồ” khi các ngành công nghiệp Mỹ dịch chuyển xuống phía nam để tận dụng mức lương thấp hơn tại Mexico. Dù NAFTA thực sự gây tổn thất thu nhập cho một bộ phận lao động cổ cồn xanh của Mỹ trong những ngành chịu cạnh tranh nhập khẩu mạnh nhất từ Mexico, phần lớn phản ứng chính trị khi đó vẫn đặt sai trọng tâm. Một nghiên cứu toàn diện năm 2015 tổng hợp tác động của NAFTA đối với người tiêu dùng, người lao động và các ngành công nghiệp cho thấy hiệp định này trên thực tế làm tăng phúc lợi kinh tế của Mỹ, dù chỉ ở mức khiêm tốn 0,08%. Tác động đối với Mexico tích cực hơn, ở mức 1,30%, trong khi đối với Canada hơi tiêu cực, ở mức âm 0,06%.
Dù vậy, NAFTA vẫn trở thành một điểm yếu chính trị đối với Đảng Dân chủ. Sau khi Trump vào Nhà Trắng năm 2017, ông biến việc đàm phán lại hiệp định thành một ưu tiên hàng đầu. Khi USMCA chính thức thay thế NAFTA vào năm 2020, Trump tuyên bố đây là một “chiến thắng vĩ đại”. Tuy nhiên, trên thực tế, hai hiệp định khác nhau không nhiều. Cả hai chủ yếu cắt giảm các rào cản thương mại và cam kết ba chính phủ hạn chế các chính sách cản trở dòng chảy thương mại với nhau. Chính quyền Trump nhiệm kỳ hai, thông qua việc áp thuế đối với Canada và Mexico, sau đó đã cho thấy những cam kết này mong manh đến mức nào.
Nói cách khác, cả NAFTA lẫn USMCA đều được thiết kế để thúc đẩy thương mại giữa ba nước, chứ không phải để xử lý những rủi ro từ quyền lực độc quyền của Trung Quốc. Nhưng mối đe dọa đó giờ đây đã trở nên cấp bách. Lệnh cấm chất bán dẫn của Tập trong năm 2025 là đợt tấn công thứ hai nhằm vào chuỗi cung ứng ô tô Bắc Mỹ chỉ trong chưa đầy sáu tháng. Đợt đầu tiên diễn ra sau khi Trump áp thuế 100% đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc vào tháng 4/2025, khi Bắc Kinh ngừng xuất khẩu toàn cầu các nam châm đất hiếm vĩnh cửu, một đầu vào thiết yếu đối với ghế xe, cần gạt nước, động cơ và camera. Vì Trung Quốc kiểm soát tới khoảng 90% nguồn cung loại nam châm này trên thế giới, tình trạng thiếu hụt đã buộc Ford và nhiều công ty khác phải tạm thời đóng cửa một số nhà máy, trong đó có nhà máy sản xuất Explorer tại Chicago, và góp phần khiến Trump phải đảo ngược một phần chính sách thuế.
Việc Bắc Kinh sử dụng hiệu quả các biện pháp hạn chế xuất khẩu năm 2025 là kết quả rõ nét của chiến lược “tuần hoàn kép”, nhằm giảm phụ thuộc của Trung Quốc vào các chuỗi cung ứng Bắc Mỹ và châu Âu, đồng thời làm tăng mức độ phụ thuộc của các nền kinh tế nước ngoài vào Trung Quốc. Những biện pháp đó chứng minh rằng Bắc Kinh, như Tập từng nói năm 2020, có thể xây dựng “năng lực răn đe và phản công mạnh mẽ” thông qua khả năng chủ động cắt nguồn cung đối với các bên bên ngoài.
Nếu không được kiềm chế, sức mạnh độc quyền của Trung Quốc — và khả năng biến nó thành công cụ cưỡng ép — có thể còn gia tăng trong những năm tới. Trung Quốc hiện nắm khoảng 85% năng lực sản xuất pin toàn cầu; hơn 90% năng lực tinh chế đất hiếm và than chì; cùng hơn 60% đối với coban, lithium và nickel. Nước này cũng tiếp tục mở rộng vị thế trong các lĩnh vực nền tảng khác như thép, nhôm, hóa chất và thiết bị viễn thông.
Lãnh đạo Trung Quốc thừa nhận nền kinh tế do nhà nước dẫn dắt của họ đã tạo ra tình trạng “nội quyển”, tức cạnh tranh nội địa quá mức đi kèm dư thừa sản lượng. Đây không phải vấn đề có thể giải quyết nhanh chóng. Điều đó đồng nghĩa với việc quyền lực độc quyền của Trung Quốc và khả năng vũ khí hóa nó sẽ tiếp tục mở rộng khi lượng sản phẩm dư thừa đẩy thêm nhiều doanh nghiệp nước ngoài tới bờ vực phá sản.
Cỗ máy kinh tế Trung Quốc cũng không chỉ dừng ở xuất khẩu. Trong các ngành công nghệ cao, những tập đoàn như BYD, CATL và Ming Yang đã trở thành các doanh nghiệp hàng đầu thế giới về xe điện, pin và tuabin gió, đồng thời tích cực đầu tư ra nước ngoài để mua lại hoặc xây dựng năng lực sản xuất tại các thị trường khác. Châu Âu là ví dụ rõ ràng: khu vực này nhận gần một phần tư tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc trong năm 2025. Hungary là nước thu hút tỷ trọng lớn nhất, khi ngành công nghiệp ô tô Trung Quốc không chỉ thiết lập một trọng tâm mới cho chuỗi cung ứng châu Âu mà còn làm dấy lên lo ngại về sức cạnh tranh của các nhà sản xuất ô tô lâu đời tại Pháp, Đức và Ý.
Kinh nghiệm châu Âu với dòng vốn Trung Quốc cũng cho thấy những rủi ro khác. Các công ty con của Trung Quốc sản xuất xe điện, thiết bị kiểm tra an ninh và tuabin gió tại châu Âu bị cáo buộc cạnh tranh không công bằng nhờ hưởng lợi từ trợ cấp của Bắc Kinh. Mức độ phụ thuộc ngày càng lớn của Hungary vào đầu tư Trung Quốc cũng khiến nước này xung đột với EU trong một số ưu tiên khác, bao gồm các nỗ lực trừng phạt doanh nghiệp Trung Quốc vì hỗ trợ Nga trong chiến tranh Ukraine.
MỘT THỊ TRƯỜNG, MỘT RỦI RO
Washington đã thừa nhận rằng họ không thể một mình thay đổi cách tiếp cận kinh tế của Bắc Kinh. Sau khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2001, Mỹ ban đầu chủ yếu đối phó với các hành vi thương mại bị xem là không công bằng bằng những biện pháp hạn chế nhập khẩu có mục tiêu hẹp. Khi các công cụ này tỏ ra kém hiệu quả, chính quyền Trump nhiệm kỳ đầu phát động một cuộc chiến thương mại; đến cuối nhiệm kỳ, các mức thuế mới đã bao phủ khoảng hai phần ba kim ngạch nhập khẩu của Mỹ từ Trung Quốc. Chính quyền Biden duy trì phần lớn các mức thuế đó và bổ sung thêm một số biện pháp.
Tuy nhiên, chỉ dựa vào thuế quan là không đủ để xử lý những rủi ro an ninh gắn với quyền lực độc quyền của Trung Quốc. Washington vì thế bắt đầu thử nghiệm nhiều công cụ chính sách công nghiệp hơn. Tương tự chính quyền Biden, chính quyền Trump nhiệm kỳ hai sử dụng hỗ trợ nhà nước để khuyến khích doanh nghiệp Mỹ và đồng minh xây dựng nguồn cung mới bên ngoài Trung Quốc, bao gồm khoáng sản trọng yếu, chip và pin. Washington cũng hạn chế đầu tư của doanh nghiệp Trung Quốc vào Mỹ, mở rộng danh mục sản phẩm công nghệ không được phép xuất khẩu sang Trung Quốc và khôi phục quan tâm đối với việc tích trữ chiến lược.
Mặc dù USMCA mới được đàm phán không lâu, hiệp định này không được thiết kế để xử lý mối đe dọa từ sự thống trị thị trường của Trung Quốc. Các biện pháp hạn chế xuất khẩu của Bắc Kinh trong năm 2025 cho thấy mỗi nước dễ bị tổn thương ra sao trước một đòn đánh nhằm vào một nước khác, đồng thời cho thấy khả năng chống chịu sẽ cao hơn nhiều nếu chính sách và nền kinh tế của cả ba nước được phối hợp tốt hơn. Việc phối hợp hiệu quả đòi hỏi một mức độ hài hòa nhất định trong chính sách thuế của ba nước đối với Trung Quốc, vấn đề mà USMCA gần như không đề cập. Khi hiệp định được đàm phán, các nhà hoạch định chính sách cũng chưa cần nghĩ nhiều đến việc ba nước sẽ phối hợp trợ cấp, kiểm soát đầu tư hay kiểm soát xuất khẩu như thế nào, vì các công cụ này khi đó chưa phổ biến. Giờ đây, chúng đã trở thành trung tâm của chính sách kinh tế – an ninh.
Washington càng theo đuổi một chiến lược toàn diện nhằm giảm mức độ dễ bị tổn thương trước sức ép kinh tế từ Trung Quốc, tầm quan trọng của việc Canada và Mexico điều chỉnh chính sách theo hướng tương thích càng lớn. Chênh lệch thuế quan giữa ba nước tạo động lực cho việc trung chuyển hàng hóa Trung Quốc vào thị trường Mỹ. Chúng cũng làm dấy lên lo ngại rằng doanh nghiệp có thể lựa chọn địa điểm đầu tư không phải vì hiệu quả kinh tế thực sự, mà chỉ vì một nước cho phép tiếp cận các đầu vào giá rẻ từ Trung Quốc mà doanh nghiệp ở hai nước còn lại không có.
Trên thực tế, duy trì một thị trường Bắc Mỹ hội nhập có thể trở nên bất khả thi nếu thiếu phối hợp chính sách. Nhưng hội nhập Bắc Mỹ là điều đáng để gìn giữ. Quy mô của một thị trường tiêu dùng USMCA thống nhất cho phép doanh nghiệp phân bổ chi phí cố định trên số lượng sản phẩm lớn hơn. Những khác biệt giữa ba nền kinh tế cũng tạo điều kiện cho chuyên môn hóa dựa trên thế mạnh tương đối của lao động và doanh nghiệp từng nước. Đa dạng hóa nguồn cung trên một không gian địa lý rộng hơn còn giúp giảm rủi ro từ biến đổi khí hậu và khủng hoảng y tế công cộng, chứ không chỉ riêng các cú sốc địa chiến lược.
Dĩ nhiên, việc phối hợp chính sách để xây dựng các nguồn cung thay thế bên ngoài Trung Quốc cũng đi kèm chi phí. Ngoài gánh nặng ngân sách từ các khoản trợ cấp, người tiêu dùng Bắc Mỹ sẽ phải chấp nhận giảm một phần khả năng tiếp cận hàng hóa Trung Quốc giá rẻ hiện nay để tránh phụ thuộc quá mức trong tương lai. Cả ba nước cũng phải chuẩn bị cho những tổn thất không thể tránh khỏi từ các biện pháp trả đũa của Bắc Kinh.
HÀI HÒA BA BÊN
Chính sách thuế quan của Trump trong các năm 2025 và 2026 theo đuổi quá nhiều mục tiêu mâu thuẫn. Hành vi cưỡng ép kinh tế của Bắc Kinh đã làm rõ ưu tiên quan trọng nhất: nhanh chóng xây dựng các nguồn cung mới bên ngoài Trung Quốc. Các cuộc đàm phán USMCA hiện nay tạo ra một cơ hội chính trị để theo đuổi mục tiêu đó thông qua việc phối hợp tốt hơn chính sách thuế giữa ba nước theo ba hướng.
Trước hết, Washington cần đưa thuế quan đối với hàng nhập khẩu từ Canada và Mexico trở lại mức của tháng 1/2025. Nếu Ottawa và Mexico City phải cùng chia sẻ chi phí của việc củng cố chuỗi cung ứng phi Trung Quốc, họ cũng phải được chia sẻ việc làm, lợi nhuận và các lợi ích kinh tế khác phát sinh từ việc duy trì sản xuất tại Bắc Mỹ.
Thứ hai, Canada và Mexico cần nâng một số mức thuế đối với Trung Quốc. Năm 2024, Canada áp các mức thuế tương tự phần lớn những đợt tăng thuế của Mỹ đối với thép, nhôm và xe điện Trung Quốc dưới thời Trump nhiệm kỳ đầu và Biden. Mexico cũng đã có những bước đi nhằm hài hòa chính sách thuế, trong đó có đợt tăng mạnh năm 2025 đối với thép, ô tô và linh kiện ô tô Trung Quốc. Trong tương lai, Mỹ, Canada và Mexico có thể phải phối hợp để nâng thuế một cách có chọn lọc nhằm xử lý các điểm dễ tổn thương khác.
Ngược lại, bất kỳ đợt giảm thuế nào đối với hàng Trung Quốc cũng cần được phối hợp, nếu không sẽ làm suy yếu lợi ích chung của Bắc Mỹ. Chẳng hạn, Trump từng đề xuất Mỹ và Trung Quốc cùng giảm thuế đối với một số sản phẩm “không nhạy cảm” thông qua một cơ chế kiểu Ủy ban Thương mại Mỹ – Trung. Nhưng nếu Mỹ đơn phương tăng nhập khẩu dệt may Trung Quốc, điều đó có thể làm tổn hại xuất khẩu Mexico. Tương tự, việc Mỹ mở rộng xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc sẽ không phải kết quả tích cực nếu nó lấn át thị phần của Canada. Nếu thương mại có quản lý trở thành công cụ cần thiết để đối phó với mô hình kinh tế do nhà nước dẫn dắt của Trung Quốc, tinh thần đoàn kết Bắc Mỹ đòi hỏi một cơ chế phối hợp ba bên hơn là các thỏa thuận song phương riêng lẻ.
Phối hợp trợ cấp cũng quan trọng không kém. Nếu mỗi nước hỗ trợ ngành công nghiệp của mình theo cách hoàn toàn khác nhau, rất khó duy trì cạnh tranh công bằng giữa doanh nghiệp Bắc Mỹ và mở rộng các chuỗi cung ứng xuyên biên giới. Tuy nhiên, hài hòa chính sách công nghiệp còn khó hơn phối hợp thuế. Canada có nền kinh tế nhỏ hơn Mỹ, còn Mexico nghèo hơn, nên mỗi nước có dư địa ngân sách hạn chế hơn. Về mặt chính trị, việc yêu cầu người nộp thuế một nước tài trợ cho các khoản trợ cấp có thể tạo việc làm tại nước khác cũng không dễ được chấp nhận.
Dẫu vậy, Bắc Mỹ đã có một số tiền lệ tích cực. Năm 2020, chính quyền Trump nhiệm kỳ đầu thiết lập Kế hoạch Hành động Chung Canada – Mỹ về Hợp tác Khoáng sản Trọng yếu, cho phép hai nước đồng tài trợ một số dự án nhỏ về cobalt, graphite, tungsten và đất hiếm tại Canada. Đạo luật CHIPS lưỡng đảng năm 2022 của Mỹ, dù tập trung vào sản xuất bán dẫn trong nước, cũng hỗ trợ phát triển lực lượng lao động tại Mexico cho các công đoạn cuối của chuỗi giá trị bán dẫn. Các biện pháp hạn chế xuất khẩu của Bắc Kinh năm 2025 chỉ có sức ép lớn vì các nhà máy chip ngoài Trung Quốc vẫn phải vận chuyển wafer ngược về các cơ sở Nexperia tại Trung Quốc để hoàn thiện.
Một số khoản hỗ trợ trong Đạo luật Giảm lạm phát (IRA) năm 2022 cũng củng cố chương trình nghị sự chung của Bắc Mỹ. Chẳng hạn, tín dụng thuế tiêu dùng dành cho xe điện yêu cầu xe phải được lắp ráp tại Bắc Mỹ, chứ không chỉ tại Mỹ. Canada sau đó cung cấp hỗ trợ cho Volkswagen xây dựng nhà máy pin tại Ontario nhằm tận dụng tốt hơn các ưu đãi của IRA. Các khoản hỗ trợ của IRA dành cho khoáng sản trọng yếu cũng không giới hạn trong phạm vi lãnh thổ Mỹ. Trên thực tế, đạo luật này tìm cách xây dựng một ưu tiên chuỗi cung ứng dựa trên mạng lưới đồng minh, thay vì chỉ là một quy tắc “Mua hàng Mỹ”, bằng cách hỗ trợ doanh nghiệp khai thác, tinh chế hoặc tái chế khoáng sản trọng yếu tại Canada, Mexico và các đối tác thương mại tự do khác.
Tuy nhiên, cách tiếp cận trợ cấp của chính quyền Trump nhiệm kỳ hai cho đến nay phần lớn vẫn mang tính quốc gia đơn phương. Sau cuộc khủng hoảng nam châm đất hiếm năm 2025, chính quyền nhanh chóng sử dụng nguồn vốn từ Bộ Năng lượng và Bộ Quốc phòng, bao gồm Văn phòng Vốn Chiến lược, để cấp khoản vay, ký thỏa thuận bao tiêu và bảo đảm giá sàn cho các dự án khoáng sản trọng yếu. Washington thậm chí mua cổ phần tại một số công ty như MP Materials và mỏ của Lithium Americas ở Nevada. Nhưng gần như toàn bộ các biện pháp này đều tập trung vào sản xuất trên lãnh thổ Mỹ và không được phối hợp với Ottawa hoặc Mexico City. Trong khi đó, Canada có trữ lượng lớn nhiều loại khoáng sản tương tự và một chiến lược khoáng sản trọng yếu riêng, còn Mexico đã quốc hữu hóa trữ lượng lithium vào năm 2022. USMCA hiện không có điều khoản buộc ba chính phủ phải phối hợp, chứ chưa nói đến việc ngăn các chương trình trợ cấp của họ cạnh tranh và triệt tiêu hiệu quả lẫn nhau.
Một số thông báo gần đây cho thấy chính quyền Trump có thể đã nhận ra lợi ích về tốc độ và chi phí của việc hỗ trợ khai thác và tinh chế tại các nước đồng minh. Tháng 8, chính quyền cấp khoản vay 400 triệu USD cho một công ty Australia phát triển dự án scandium tại New South Wales. Mỹ cũng công bố Kế hoạch Hành động Mỹ – Mexico về Khoáng sản Trọng yếu vào tháng 2, dù kế hoạch này chưa tạo ra dự án cụ thể nào.
Dù vậy, Trump đồng thời đang làm suy yếu chính quá trình phối hợp này bằng chính sách thương mại của mình. Ottawa buộc phải chuyển sự chú ý và nguồn lực tài chính khỏi thách thức từ Trung Quốc để đối phó với thiệt hại mà thuế quan của Trump gây ra cho kinh tế Canada. Thay vì leo thang chiến tranh thương mại với một đồng minh lâu năm, Washington đáng lẽ nên khuyến khích Canada khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản trọng yếu đáng kể của mình vì lợi ích chung.
ĐỒNG BỘ HOẶC SUY YẾU
Canada và Mexico đã phải trả giá khi điều chỉnh chính sách theo hướng phù hợp với Mỹ và sau đó hứng chịu trả đũa từ Trung Quốc. Năm 2018, sau khi Bộ Tư pháp Mỹ yêu cầu Canada bắt giữ một lãnh đạo Huawei, Trung Quốc giam giữ hai công dân Canada trong gần hai năm. Năm 2024, khi Ottawa điều chỉnh các biện pháp hạn chế nhập khẩu xe điện, thép và nhôm theo hướng tương tự Washington, Bắc Kinh áp thuế trả đũa đối với cải dầu, thịt lợn và hải sản Canada. Năm 2025, sau khi Mexico tăng thuế đối với ô tô và thép Trung Quốc, nước này bị Trung Quốc áp thuế lên hồ đào. Chiến lược trả đũa của Bắc Kinh thường nhắm vào những ngành có trọng lượng chính trị lớn nhưng ít thị trường thay thế, đặc biệt là nông sản dễ hư hỏng.
Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Bắc Mỹ có thể bảo vệ nền kinh tế của mình tốt hơn trước những biện pháp trả đũa như vậy. Một cách là giữ thị trường nhập khẩu giữa ba nước luôn rộng mở. Cách khác là sử dụng nguồn vốn nhà nước để tiếp tục đa dạng hóa xuất khẩu khỏi Trung Quốc sang các thị trường thay thế. Việc Trump triển khai hàng chục tỷ USD hỗ trợ nông dân Mỹ bị ảnh hưởng bởi trả đũa của Trung Quốc trong cả hai nhiệm kỳ là một phản ứng chính trị thực dụng. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp tin rằng luôn có cứu trợ, điều đó cũng có thể vô tình khuyến khích họ duy trì sự phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc đầy rủi ro.
Dự trữ chiến lược các đầu vào trọng yếu cũng nên trở thành một công cụ phối hợp. Một loại đầu vào thiết yếu tại một công đoạn của chuỗi cung ứng Bắc Mỹ về bản chất cũng thiết yếu đối với các công đoạn còn lại. Vì mọi nước đều được hưởng lợi từ việc tăng dự trữ, mọi nước cũng nên chia sẻ chi phí. Nếu quy mô các kho dự trữ đủ lớn và được công bố rõ ràng, chúng thậm chí có thể tạo hiệu ứng răn đe, khiến Trung Quốc cân nhắc trước khi áp dụng các biện pháp hạn chế xuất khẩu.
Đầu năm 2026, chính quyền Trump khởi động Dự án Vault, một sáng kiến công – tư trị giá hàng tỷ USD nhằm tích trữ khoáng sản trọng yếu phục vụ mục đích thương mại tại Mỹ. Gần đây, Canada cũng công bố một cơ chế dự trữ khoáng sản trọng yếu cho mục tiêu quốc phòng. Cả hai sáng kiến này cần được mở rộng và nâng lên thành một chiến lược ở quy mô toàn Bắc Mỹ nếu muốn đóng góp thực sự vào nỗ lực giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc.
Về đầu tư Trung Quốc, cho đến nay Washington chủ yếu lo ngại rằng doanh nghiệp Trung Quốc có thể sử dụng Mexico như một cửa sau để né thuế và quy định của Mỹ. Những lo ngại này một phần xuất phát từ các thông tin năm 2024 cho biết BYD và Tesla khảo sát các địa điểm tại Mexico để xây dựng các nhà máy quy mô lớn mới, đồng thời khuyến khích các nhà cung cấp Trung Quốc làm điều tương tự. Phản ứng mạnh từ Washington có lẽ đã góp phần khiến rất ít dự án như vậy thực sự được triển khai.
Tuy nhiên, trong tương lai, Mỹ, Canada và Mexico có thể lại muốn thu hút thêm đầu tư Trung Quốc, đặc biệt trong những lĩnh vực công nghệ cao có thể tăng năng lực cạnh tranh của Bắc Mỹ, miễn là kiểm soát được các rủi ro an ninh. Khi đó, ba nước sẽ cần phối hợp chính sách để tránh sự hỗn loạn từng xuất hiện ở châu Âu và để bảo vệ tính thống nhất của thị trường Bắc Mỹ. Mỗi nước phải củng cố cơ chế rà soát đầu tư. Chẳng hạn, ngay cả Washington cũng có thể phải mở rộng phạm vi của Ủy ban Đầu tư Nước ngoài tại Mỹ (CFIUS), vốn tập trung nhiều hơn vào các thương vụ thâu tóm doanh nghiệp sẵn có hơn là các dự án đầu tư mới hoàn toàn. Cả ba nước cũng cần những khuôn khổ quản lý mới nhằm bảo đảm doanh nghiệp Trung Quốc cạnh tranh công bằng và không tiếp tục hưởng lợi từ trợ cấp của Bắc Kinh hay từ việc được ưu tiên tiếp cận các đầu vào thiết yếu.
Dù việc phối hợp toàn bộ các chính sách này có vẻ rất khó khăn, đàm phán lại USMCA mới chỉ là bước đầu tiên trong việc đối phó với sự thống trị thị trường của Trung Quốc. Ngay cả một Bắc Mỹ hội nhập cũng chưa đủ lớn để cạnh tranh với Trung Quốc và thị trường nội địa 1,4 tỷ người của nước này. Vì vậy, Canada, Mexico và Mỹ cũng không thể tự biến mình thành một “Pháo đài Bắc Mỹ”, tách rời khỏi thương mại với các nền dân chủ cùng chí hướng, vận hành theo kinh tế thị trường và chia sẻ những lo ngại tương tự về quyền lực độc quyền của Trung Quốc. Mọi nỗ lực phối hợp chính sách trong một USMCA mới phải duy trì độ mở đối với các nền kinh tế này để tạo nền tảng cho một liên kết rộng lớn hơn trong tương lai.
Sức mạnh thị trường áp đảo của Trung Quốc đòi hỏi cả ba nước Bắc Mỹ phải phối hợp chặt chẽ hơn và áp dụng những chính sách chủ động hơn. Nhu cầu cấp bách nhất hiện nay là chính quyền Trump phải ngừng theo đuổi các chính sách và lan truyền những thông điệp làm suy yếu sự đoàn kết của Bắc Mỹ. Nếu Canada, Mexico và Mỹ quay sang đối đầu lẫn nhau, mỗi nước sẽ tự làm suy yếu chính mình trong cuộc cạnh tranh kinh tế quan trọng hơn cả.
Chad P. Bown là Nghiên cứu viên cấp cao tại Viện Kinh tế Quốc tế Peterson và là đồng tác giả cuốn How to Win a Trade War: An Optimistic Guide to an Anxious Global Economy.