
Nguồn: Carl Minzner, “China’s Long Twilight”, Foreign Affairs, 05/10/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Trong những năm bùng nổ của thời kỳ cải cách, từ năm 1978 đến đầu những năm 2000, Trung Quốc là một đất nước tràn đầy sức lao động. Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động, từ 15 đến 64 tuổi, tăng từ 57% vào năm 1978 lên mức đỉnh gần 75% vào năm 2010. Lực lượng này đã xây dựng đường sá, nhà máy, khu chung cư và doanh nghiệp, tạo động lực cho ba thập kỷ tăng trưởng gần 10% mỗi năm, giúp quy mô nền kinh tế tăng gấp 20 lần.
Nhưng trong thập kỷ qua, xu hướng này đã đảo chiều. Chính sách một con của Bắc Kinh, cùng những lực lượng xã hội vốn đã kéo mức sinh ở Đông Á xuống mức thấp lịch sử, đã khiến tỷ lệ sinh của Trung Quốc nằm dưới mức thay thế suốt ba thập kỷ, làm cạn dần nguồn nhân lực từng thúc đẩy sự trỗi dậy của đất nước. Tổng dân số Trung Quốc đạt đỉnh 1,4 tỷ người vào năm 2021 và hiện giảm từ ba đến bốn triệu người mỗi năm, tương đương với việc mất đi một thành phố cỡ Los Angeles mỗi năm.
Đến những năm 2040, nếu Trung Quốc tiếp tục đi theo quỹ đạo của Đông Á hướng tới mức sinh cực thấp, nước này sẽ mất khoảng 1% dân số mỗi năm, tức khoảng mười triệu người, nhiều hơn dân số thành phố New York. Đồng thời, tỷ lệ người Trung Quốc từ 65 tuổi trở lên sẽ tăng vọt, từ 15% hiện nay lên khoảng 30% vào những năm 2040, rồi vượt xa mức 40% vào cuối thế kỷ 21. Ngược lại, tỷ lệ này ở Mỹ được dự báo sẽ tăng chậm hơn nhiều, từ khoảng 19% hiện nay lên chỉ hơn 23% vào năm 2060.
Nói một cách đơn giản, Trung Quốc đang bước vào một thế kỷ suy giảm dân số. Sự thay đổi này sẽ tái định hình nền kinh tế và chính trị của đất nước sâu sắc không kém gì đợt bùng nổ dân số của thế kỷ trước. Vào giữa thế kỷ 20, những cải thiện về y tế và sự sụt giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh đã tạo ra một thế hệ trẻ đông đảo, được Mao Trạch Đông huy động vào công cuộc cải tạo xã hội mang tính cách mạng, lật đổ các trật tự thứ bậc đã ăn sâu và tái thiết xã hội từ dưới lên. Đến năm 1978, Trung Quốc đã có một lực lượng người trưởng thành trong độ tuổi lao động ngày càng lớn, và các chính sách thực dụng “cải cách và mở cửa” của nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình đã khéo léo kết nối lực lượng này với nền kinh tế toàn cầu, giúp Trung Quốc vươn lên thành công xưởng của thế giới.
Ngày nay, khi dân số già hóa nhanh chóng, hệ thống chính trị Trung Quốc lại ngày càng thụt lùi và cứng nhắc. Khi Đảng Cộng sản Trung Quốc quay trở lại mô hình cai trị tập trung vào một cá nhân, các thể chế quản trị kỹ trị từng được ca ngợi của nước này không còn như trước. Thay vì tìm kiếm những giải pháp sáng tạo cho các thách thức mới nổi, ĐCSTQ ngày càng dựa vào đàn áp và phản xạ tuân theo mệnh lệnh từ trung ương, bất chấp rủi ro. Chẳng hạn, về kinh tế, các nhà hoạch định chính sách tiếp tục theo đuổi chính sách công nghiệp định hướng xuất khẩu mà nhà lãnh đạo Tập Cận Bình ưa thích, bất chấp nhu cầu rõ ràng phải thúc đẩy tiêu dùng trong nước và củng cố mạng lưới an sinh xã hội cho người nghèo.
Vì vậy, câu chuyện về Trung Quốc trong thế kỷ 21 không chỉ là câu chuyện về suy giảm dân số mà còn là về sự tê liệt chính trị, và về những gì xảy ra khi hai yếu tố này giao nhau. Chính sự kết hợp đó khiến tương lai của Trung Quốc trở nên đặc biệt ảm đạm. Khi dân số già đi, những áp lực xã hội đè nặng lên hệ thống chính trị sẽ chỉ ngày càng gia tăng. Trung Quốc giữa thế kỷ 21 có thể sẽ trông rất giống triều Minh thế kỷ 16, một chế độ chính trị ì ạch ngày càng trở nên mong manh trước những chia rẽ xã hội, giới tính và thế hệ ngày càng sâu sắc. Tuy nhiên, để các nhà quan sát ở Washington không quá hả hê trước viễn cảnh đó, quỹ đạo của Trung Quốc rốt cuộc cũng là một lời cảnh báo: suy giảm dân số và xói mòn chính trị có thể làm rỗng ruột bất kỳ cường quốc nào, kể cả Mỹ.
NỀN CHÍNH TRỊ TÊ LIỆT
Như nhà báo Li Yuan từng nhận xét, nước Mỹ mắc chứng ghen tị với Trung Quốc. Các nhà đầu tư công nghệ say sưa ca ngợi những mô hình AI mới nhất của nước này. Các chuyên gia năng lượng choáng ngợp trước vị thế thống trị công nghiệp của Trung Quốc trong lĩnh vực pin và điện mặt trời. Các nhà báo và nhà phân tích thường trở về sau những chuyến thăm với những lời tán dương đầy màu hồng về hệ thống giao thông hào nhoáng và năng lực kỹ thuật của Trung Quốc. Trong khi đó, các chính trị gia và nhà bình luận thường gộp việc hải quân Trung Quốc ngày càng mở rộng và các vụ thử tên lửa với những bài phát biểu của ông Tập về “sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa” thành một hình ảnh duy nhất: một quốc gia hùng mạnh đang thực thi thành công một đại chiến lược nhằm vươn lên trong thế kỷ 21.
So với rạp xiếc chính trị ở Washington và sự trì trệ ở phần còn lại của nước Mỹ, những biểu hiện bề ngoài về sự giàu có và sức mạnh của Trung Quốc thường dẫn tới những kết luận bao quát về quỹ đạo tương đối của hai quốc gia. Nhưng khi nhìn kỹ hơn, Bắc Kinh cũng đang trải qua một quá trình xói mòn chính trị sâu sắc, chỉ là nó không giống với những gì đang diễn ra ở Washington. Vì hệ thống Trung Quốc được kiểm soát chặt chẽ, sự trượt dài vào chế độ cai trị cá nhân không diễn ra qua những cuộc đối đầu chia rẽ trên truyền hình hay những phát ngôn thất thường trên mạng xã hội của nhà lãnh đạo tối cao. Thay vào đó, sự chuyển biến ở Bắc Kinh diễn ra âm thầm nhưng không kém phần hệ trọng. Trong hai thập kỷ qua, ĐCSTQ ngày càng xoay chặt quanh một cá nhân. Năm 2018, Tập đã thành công trong việc xóa bỏ giới hạn nhiệm kỳ theo hiến pháp đối với chức chủ tịch nước và đến Đại hội Đảng lần thứ 20 năm 2022 đã thanh lọc tầng lớp lãnh đạo cao nhất của đảng, đưa vào đó những người ủng hộ và trung thành với ông. Những cuộc thanh trừng tương tự thường xuyên làm rung chuyển hàng ngũ lãnh đạo cao nhất của quân đội Trung Quốc, đỉnh điểm vào năm 2026 với việc Trương Hựu Hiệp, vị tướng hàng đầu do chính Tập lựa chọn, bị cách chức, khiến Tập gần như một mình nắm quyền lãnh đạo các lực lượng vũ trang.
Tập hiện đang chuẩn bị đảm nhiệm nhiệm kỳ năm năm thứ tư trên cương vị tổng bí thư đảng vào năm 2027 và chưa đưa ra dấu hiệu nào về người có thể kế nhiệm ông vào năm 2032, khi ông 79 tuổi. Một nhà lãnh đạo già nua và bị cô lập làm gia tăng nguy cơ xảy ra sai lầm chính sách ở Trung Quốc, cũng như ở Mỹ. Nhưng việc Trung Quốc trượt từ một nhà nước kỹ trị hiệu quả sang chế độ cai trị trọn đời dưới một nhà lãnh đạo độc đoán lớn tuổi nhấn mạnh một thực tế cơ bản về quỹ đạo của hai nước: không giống Trung Quốc, nước Mỹ vẫn có thể lựa chọn khác đi, trong các cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, vào năm 2028 và cứ vài năm một lần sau đó. Ngược lại, nền chính trị Trung Quốc trì trệ hơn nhiều.
Quan trọng nhất, bầu không khí chính trị ngột ngạt mà Tập tạo ra đang làm cạn kiệt khả năng của Bắc Kinh trong việc ứng phó với những vấn đề mới nổi theo cách các thế hệ trước từng làm. Trong những năm 1970 và 1980, các nhà lãnh đạo Trung Quốc dưới thời Đặng có thể khởi động kỷ nguyên tăng trưởng nhanh thông qua những cải cách nông thôn làm đảo lộn hoàn toàn tính chính thống của mô hình kinh tế thời Mao. Như Triệu Thụ Khải, một quan chức chủ chốt của đảng từng tham gia các cải cách đó, nhận xét, khả năng làm được điều này của Bắc Kinh phụ thuộc vào một mức độ “cởi mở trong cấu trúc chính trị, cả trong quan hệ quyền lực cấp cao nhất lẫn trong lĩnh vực ý thức hệ”. Chính trong kỷ nguyên linh hoạt ấy, các nhà lãnh đạo đảng đã trao quyền cho những quan chức có năng lực và hiệu quả để mạnh dạn xử lý những thách thức kinh tế cấp bách khác, chẳng hạn khi Tổng bí thư Giang Trạch Dân giao cho Thủ tướng Chu Dung Cơ nhiệm vụ cải tổ hệ thống thuế năm 1994 nhằm đặt nền tài chính trung ương của Trung Quốc lên cơ sở vững chắc hơn.
Khi nền chính trị Trung Quốc thụt lùi, kiểu giải quyết vấn đề linh hoạt ấy đang nhường chỗ cho cách tiếp cận cứng nhắc. Các cán bộ giờ đây bị ép phải theo đuổi những chính sách mang dấu ấn của Tập một cách giáo điều, bất kể hậu quả. Chẳng hạn, năm 2022, các quan chức Thượng Hải dưới quyền Lý Cường, khi đó là bí thư thành ủy, đã từ bỏ những nỗ lực ban đầu nhằm áp dụng cách tiếp cận mềm dẻo và có mục tiêu hơn để xử lý biến thể Omicron của COVID-19 khi nhận ra rằng chính sách đó sẽ xung đột với chiến lược “zero COVID” mà Tập đã đặt cược uy tín cá nhân vào đó. Kết quả là một đợt phong tỏa Thượng Hải khắc nghiệt kéo dài hai tháng, khiến nhiều người không thể tiếp cận ổn định với thực phẩm và thuốc men, đồng thời trở thành khuôn mẫu cho các đợt phong tỏa trên khắp Trung Quốc vào cuối năm đó. Thế nhưng, thay vì bị khiển trách vì thảm họa này, Lý lại được Tập đưa vào Thường vụ Bộ Chính trị năm 2022 và trở thành thủ tướng năm 2023. Hiện ông trung thành dẫn dắt các quan chức Trung Quốc trong nỗ lực thúc đẩy sản xuất công nghiệp và chiến lược tăng trưởng định hướng xuất khẩu của Tập, bất chấp những cảnh báo của các nhà kinh tế về giảm phát, dư thừa công suất ngày càng tăng và tiêu dùng suy yếu.
Tập không phải là người duy nhất chịu trách nhiệm cho tình trạng trì trệ ngột ngạt đang lan rộng trong xã hội và bộ máy nhà nước Trung Quốc. Kể từ các “cuộc cách mạng màu” đầu những năm 2000 ở các quốc gia hậu Xô viết và Mùa xuân Ả Rập năm 2010, giới tinh hoa trong đảng ngày càng lo sợ bất ổn xã hội. Chính quyền Trung Quốc đã siết chặt kiểm soát đối với truyền thông, giới luật sư và xã hội dân sự, thu hẹp không gian để người dân thảo luận về những vấn đề xã hội ngày càng chồng chất và dập tắt những lời kêu gọi cải cách chính trị sâu rộng hơn vừa nhen nhóm. Không gian bên trong hàng ngũ ĐCSTQ cũng bị thu hẹp tương tự, khi ngày càng ít người sẵn sàng cân nhắc những cải cách có thể đụng chạm nghiêm trọng đến lợi ích cố hữu của các nhóm xã hội đã bén rễ. Ngược lại, trong những năm 1990, Chu đã thúc đẩy quá trình tái cơ cấu đau đớn các doanh nghiệp nhà nước để bảo đảm Trung Quốc có thể gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2001, dù điều đó khiến hàng chục triệu người mất việc và châm ngòi cho các cuộc biểu tình lao động quy mô lớn. Chấp nhận nỗi đau ngắn hạn để theo đuổi lợi ích dài hạn từng được xem là một trong những lợi thế đặc trưng của Trung Quốc, nhưng Bắc Kinh ngày nay cho thấy rất ít sự sẵn sàng áp dụng những biện pháp tương tự.
Hãy xem xét sự do dự của đảng trong việc giải quyết những hệ quả tài chính của tình trạng suy giảm dân số. Trong nhiều thập kỷ, tuổi nghỉ hưu của Trung Quốc thuộc hàng thấp nhất thế giới: 60 tuổi đối với nam, 55 đối với nữ làm công việc văn phòng và 50 đối với nữ lao động chân tay. Không có gì ngạc nhiên khi các nhà nghiên cứu Trung Quốc dự báo quỹ hưu trí đô thị chính, bao phủ khoảng 500 triệu công nhân, người nghỉ hưu và cán bộ thành thị, sẽ cạn kiệt vào giữa những năm 2030. Vì thế, nâng tuổi nghỉ hưu đã nằm trong danh sách việc cần làm của Bắc Kinh suốt hơn một thập kỷ. Tuy nhiên, chính quyền đã hành động hết sức chậm chạp và dè dặt. Mặc dù kế hoạch tăng tuổi nghỉ hưu theo từng giai đoạn cuối cùng được công bố vào năm 2024, nó sẽ không được thực hiện đầy đủ cho đến năm 2040 và vẫn để Trung Quốc nằm trong nhóm các nước có tuổi nghỉ hưu thấp nhất thế giới: 63 tuổi đối với nam, 58 đối với nữ làm công việc văn phòng và 55 đối với nữ lao động chân tay.
Tương tự, ĐCSTQ đã trì hoãn việc giải quyết sự bất bình đẳng rõ rệt về phúc lợi giữa cư dân thành thị và nông thôn. Chiến dịch “thịnh vượng chung” được quảng bá rầm rộ của Tập hầu như không làm được gì để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo ở Trung Quốc, cũng như không giải quyết được những chênh lệch lớn trong hệ thống lương hưu và chăm sóc sức khỏe của nhà nước. Năm 2022, khoảng 138 triệu người nghỉ hưu ở đô thị nhận mức lương hưu trung bình 6.080 USD mỗi năm, cao gấp khoảng 18 lần mức ít ỏi 345 USD mà 175 triệu người nghỉ hưu ở nông thôn và lao động di cư nhận được. Các học giả và quan chức Trung Quốc thường xuyên kêu gọi cải thiện phúc lợi cho cư dân nông thôn như một cách kích thích nhu cầu trong nước. Nhưng lý do những biện pháp tái phân phối thực chất chưa được áp dụng rất đơn giản: các quan chức đảng sợ làm mất lòng những người hưởng lợi ở đô thị từ hệ thống hiện tại, gồm công chức, nhân viên nhà nước và tầng lớp trung lưu thành thị, nhiều người có quan hệ trực tiếp với đảng, hơn nhiều so với việc họ lo ngại phản ứng từ các cộng đồng nông thôn và lao động di cư bị gạt ra bên lề, vốn có khả năng huy động hạn chế.
Hai xu hướng song hành này, một hệ thống Lênin già cỗi đang chuyển sang chế độ cai trị cá nhân và tình trạng trì trệ chính trị ngày càng sâu sắc trước bất cứ điều gì có thể kích hoạt bất ổn xã hội, đã làm xói mòn năng lực quản trị của Trung Quốc. Ngay cả khi đất nước đang lao thẳng về phía vực thẳm dân số, Bắc Kinh dường như không có khả năng chuẩn bị cho những thách thức xã hội sẽ xuất hiện trong những thập kỷ tới. Trung Quốc có thể xây đường sắt cao tốc hay đóng tàu sân bay mới, nhưng dường như không thể xây dựng một mạng lưới an sinh xã hội bền vững cho vùng nông thôn đang già hóa nhanh chóng.
HÃY ĐI RA ĐỂ SINH SÔI NẢY NỞ
Tê liệt chính trị chỉ là một phần của câu chuyện. Bắc Kinh cũng đang chủ động lèo lái Trung Quốc về phía một phiên bản phản động hơn của chính mình, điều sẽ làm trầm trọng thêm chứ không giúp giải quyết những khó khăn về dân số. Với những cảnh báo gay gắt của Tập về sự xâm nhập văn hóa nước ngoài, yêu cầu của ông rằng các quan chức phải hướng tới “văn hóa truyền thống ưu tú” của Trung Quốc để kết hợp chủ nghĩa Mác với các chuẩn mực Nho giáo, cùng lời ca ngợi “vai trò đặc biệt của phụ nữ” với tư cách là “những người vợ hiền và những người mẹ tốt”, Bắc Kinh đang thổi bùng một sự phục hưng mang tính bài ngoại, tân truyền thống và tái khẳng định những chuẩn mực giới phụ quyền.
Thế giới quan đang nổi lên ở Bắc Kinh gợi lại thế giới quan của triều Minh (1368–1644). Sau một thế kỷ dưới sự cai trị của người Mông Cổ, triều Minh ban đầu có một giai đoạn ngắn hướng ra thế giới bên ngoài, tiêu biểu là những hạm đội báu vật nổi tiếng đầu thế kỷ 15. Nhưng rồi nhà Minh chuyển sang một tầm nhìn khép kín và mang tính bảo thủ phản xạ về Trung Quốc. Sự cai trị của người Mông Cổ từng là một nỗi nhục sâu sắc, khiến giới lãnh đạo nhà Minh trở nên nghi kỵ ảnh hưởng ngoại lai. Họ tìm cách phục hồi những gì mình coi là nền văn minh Trung Hoa đích thực.
Những điểm tương đồng với Trung Quốc ngày nay không khó nhận ra. Chẳng hạn, dưới thời Minh, các tín ngưỡng ngoại lai như Ma Ni giáo, một tôn giáo có nguồn gốc Ba Tư từng phát triển mạnh dưới thời Mông Cổ, bị đàn áp. Tương tự, từ năm 2010, Bắc Kinh dần rời xa các chính sách cởi mở hơn của thời kỳ cải cách và thúc đẩy việc Hán hóa các tôn giáo như Kitô giáo và Hồi giáo. Các dân tộc thiểu số dưới thời Minh cũng bị gây áp lực phải kết hôn với người thuộc sắc tộc khác; tương tự, Luật Thúc đẩy Đoàn kết và Tiến bộ Dân tộc năm 2026 pháp điển hóa những chính sách mới của Bắc Kinh về đồng hóa dân tộc cưỡng bức.
Triều Minh cũng chứng kiến sự hồi sinh của Tân Nho giáo và những quan điểm hạn chế của nó về vai trò của phụ nữ trong gia đình, tương tự các luận điểm mà chính quyền trung ương ngày nay đang truyền xuống Hội Liên hiệp Phụ nữ Toàn Trung Quốc: “Làm tốt công tác gia đình và phát huy đầy đủ vai trò độc đáo của phụ nữ trong việc thúc đẩy các đức tính gia đình của dân tộc Trung Hoa và xây dựng nề nếp gia đình tốt đẹp, đây là nhiệm vụ quan trọng mà Trung ương Đảng giao cho Hội Liên hiệp Phụ nữ trong thời đại mới”.
Phiên bản tái hiện của triều Minh này sẽ làm trầm trọng thêm các vấn đề dân số của Trung Quốc. Tỷ lệ kết hôn và sinh con suy giảm trên khắp Đông Á phản ánh những căng thẳng sâu sắc giữa khát vọng của phụ nữ và các chuẩn mực giới cứng nhắc trong xã hội. Từ năm 2013 đến 2024, số cuộc hôn nhân mới ở Trung Quốc giảm khoảng 55%, khi cả phụ nữ lẫn nam giới ngày càng quay lưng với việc lập gia đình. Tuy nhiên, Bộ Chính trị toàn nam giới, một trong những cơ quan quyền lực hàng đầu của ĐCSTQ, dường như cho rằng giải quyết xu hướng này đơn giản chỉ là tìm ra những động lực thích hợp để thúc đẩy người dân kết hôn và sinh con. Năm 2021, Bộ Chính trị khởi động một loạt sáng kiến khuyến sinh mới, gồm tiền thưởng sinh con và chính sách nghỉ phép cho cha mẹ, đồng thời siết chặt việc ly hôn, phá thai và triệt sản nam. Chính quyền cũng thiết kế lại tem thư, sách giáo khoa và nghệ thuật công cộng để tôn vinh các gia đình đông con như hình mẫu lý tưởng. Không có gì ngạc nhiên khi tính chất thiếu nhạy cảm và thụt lùi trong các chính sách cũng như ngôn từ của Bắc Kinh không chỉ ít đem lại tác dụng mà còn làm xấu đi quan hệ giới ở Trung Quốc.
Nếu Bắc Kinh không thể thuyết phục chính công dân của mình sinh con, họ có thể sử dụng một công cụ mà các xã hội già hóa khác đã dùng để đối phó với những thách thức do già hóa nhanh gây ra: nhập cư. Trên khắp thế giới, các quốc gia già hóa nhanh đã phải dựa vào lao động nước ngoài để lấp những vị trí bị bỏ trống bởi lực lượng lao động đang thu hẹp và để chăm sóc số người cao tuổi ngày càng tăng. Ngay cả Hàn Quốc, một xã hội từng tương đối khép kín, cũng đang chào đón nhiều lao động nhập cư hơn để bù đắp cho tỷ lệ sinh thấp. Cư dân nước ngoài hiện chiếm khoảng 5% dân số nước này, tăng từ mức gần như bằng không vào đầu những năm 1990.
Tuy nhiên, việc ĐCSTQ ngày càng thiên về chủ nghĩa bài ngoại khiến lựa chọn này trở nên khó khăn. Các cuộc điều tra dân số năm 2010 và 2020 đều cho thấy cư dân nước ngoài chỉ chiếm 0,1% tổng dân số Trung Quốc, xấp xỉ tỷ lệ của Đài Loan hay Hàn Quốc vào năm 1990. Nhưng trong khi hai xã hội này ngày càng cởi mở hơn trong những thập kỷ sau đó, Trung Quốc lại đi theo con đường ngày càng đề cao chủ nghĩa dân tộc. Trong thập kỷ qua, chính quyền Trung Quốc đã siết chặt kiểm soát các sản phẩm văn hóa nước ngoài như phim ảnh, và từ năm 2016 chọn ngày 15 tháng Tư làm Ngày An ninh Quốc gia, với các biểu ngữ tuyên truyền, hoạt động trường học và chương trình truyền hình cảnh báo người dân phải cảnh giác với gián điệp nước ngoài. Thông điệp này không chỉ khiến việc thu hút những lao động nước ngoài mà Trung Quốc sẽ cần trong những năm tới, chẳng hạn nhân viên chăm sóc người cao tuổi, trở nên khó khăn hơn. Nó còn chuẩn bị tâm lý để người dân Trung Quốc phản đối chính những người này.
Tháng 8 năm 2025, chính quyền công bố một loại thị thực mới nhằm thu hút người nước ngoài trẻ và tài năng làm việc trong các lĩnh vực STEM. Điều này phù hợp với mục tiêu mà Tập tuyên bố là biến Trung Quốc thành nước dẫn đầu thế giới về sản xuất và công nghệ, đồng thời cạnh tranh với các nước phát triển trong cuộc đua giành nhân tài toàn cầu. Nhưng phản ứng dữ dội của dư luận xuất hiện ngay lập tức. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên Trung Quốc khi đó ở mức 18,9%, và giới trẻ tràn lên mạng xã hội chỉ trích chính phủ vì bán rẻ lợi ích của họ. Các bài đăng về chủ đề này thu hút hàng chục triệu lượt xem chỉ trong vài ngày. Một số người lên tiếng bảo vệ chính phủ bị gọi là “kẻ phản bội dân tộc”. Những người khác suy đoán rằng lao động công nghệ Ấn Độ có thể ồ ạt đổ vào Trung Quốc để cạnh tranh việc làm hoặc bạn đời. Hơn một năm sau, vẫn chưa có báo cáo nào cho thấy loại thị thực này thực sự được cấp.
Sự oán giận trong nước đối với “người ngoài” là một rạn nứt nguy hiểm khác đang nổi lên ở Trung Quốc thế kỷ 21. Trung Quốc không đơn thuần chỉ đang già hóa; nhiều khả năng nước này sẽ tiến tới dịp kỷ niệm 100 năm thành lập vào năm 2049 với những đường rạn nứt xã hội cốt lõi, giữa nam và nữ, người Trung Quốc và người nước ngoài, cư dân thành thị và nông thôn, bị khoét sâu và trở nên cay đắng hơn sau nhiều thập kỷ quản trị trì trệ và những giá trị hướng về quá khứ. Đến giữa thế kỷ, Bắc Kinh sẽ triền miên thiếu hụt lực lượng lao động cần thiết và nhiều khả năng sẽ trở thành mục tiêu của một kiểu bất mãn dân túy mới.
QUẢ BOM HẸN GIỜ
Đối với một số nhà hoạch định chính sách Mỹ, rủi ro hàng đầu từ những xu hướng này là chiến tranh. Trong cuốn sách năm 2022 Danger Zone: The Coming Conflict With China (Vùng nguy hiểm: Cuộc xung đột sắp tới với Trung Quốc), Hal Brands và Michael Beckley cảnh báo rằng suy giảm dân số có thể thúc đẩy một Trung Quốc “đã đạt đỉnh” hành động mạo hiểm và tìm cách chiếm Đài Loan trước khi những áp lực xã hội và hạn chế kinh tế ngày càng gia tăng bắt đầu gây tác động thực sự. Nỗi lo này không phải vô lý. Tuy nhiên, một cách hình dung phù hợp hơn có lẽ không phải là một canh bạc hợp lý và được tính toán kỹ lưỡng, mà là một sự tính toán sai lầm nghiêm trọng của một nhà lãnh đạo già nua, bị cô lập. Giống như Tổng thống Nga Vladimir Putin trước khi quyết định xâm lược Ukraine năm 2022, hay Tổng thống Mỹ Donald Trump trước khi phát động chiến tranh với Iran năm 2026, một ông Tập cao tuổi hoàn toàn có thể bị tách khỏi thực tế, bị bao quanh bởi những cấp dưới khiếp sợ và cuối cùng vấp vào thảm họa.
Nhưng rủi ro sâu xa hơn đối với Trung Quốc nằm ở bên trong. Trong ngắn hạn, nếu các xu hướng hiện nay tiếp tục, Trung Quốc đang hướng tới một giai đoạn đình trệ chính trị kéo dài. Nước này nhiều khả năng sẽ không có nỗ lực nghiêm túc nào nhằm giải quyết những khó khăn của khu vực nông thôn hay cắt giảm phúc lợi của các nhóm đặc quyền. Một thế hệ thanh niên sẽ phải trải qua tăng trưởng kinh tế èo uột và triển vọng việc làm kém hơn cha mẹ mình, trong một bầu không khí chính trị trì trệ ngày càng đặc biệt thù địch với phụ nữ, tất cả sẽ khiến người dân càng quay lưng với hôn nhân và việc lập gia đình. Khi Trung Quốc già hóa, những xu hướng như vậy sẽ tạo ra mức độ bất mãn ngày càng lớn, và bộ máy nhà nước sẽ dần bị cuốn vào việc sử dụng giám sát toàn diện cùng các kỹ thuật “quản lý lưới” — những phương pháp vốn được phát triển để kiểm soát các dân tộc thiểu số ở Tân Cương và những người khiếu kiện bất mãn trên khắp Trung Quốc — nhằm xử lý vấn đề đó.
Thực tế, chính quyền Trung Quốc đã bắt đầu điều chỉnh các công cụ của bộ máy an ninh để đối phó. Năm 2023, Bắc Kinh thành lập Ban Công tác Xã hội Trung ương và giao cho cơ quan này nhiệm vụ giám sát những người có bất kỳ “bốn không” nào, gồm không vợ/chồng hoặc con cái, không việc làm hoặc thu nhập ổn định, không có giao tiếp xã hội bình thường, hoặc không có tài sản như nhà hay xe; hay bất kỳ “năm mất” nào, gồm đầu tư thất bại, thất bại trong sự nghiệp hoặc cuộc sống, mất cân bằng cảm xúc, bệnh tâm thần hoặc các mối quan hệ cá nhân đổ vỡ. Bắc Kinh coi những cá nhân như vậy là các mối đe dọa an ninh tiềm tàng, có khả năng gây ra các vụ tấn công hàng loạt, như vụ đâm xe vào đám đông hồi tháng 11 năm 2024, khi một người đàn ông 62 tuổi bất mãn với việc phân chia tài sản sau ly hôn đã lái xe lao vào đám đông và giết chết hàng chục người.
Những thập kỷ tới sẽ chứng kiến Bắc Kinh dần “an ninh hóa” mọi vấn đề xã hội phát sinh từ những thay đổi dân số của Trung Quốc. Trong những năm 2030, các nhà lãnh đạo đảng cao tuổi sống trong khu Trung Nam Hải biệt lập có thể nhìn ra bên ngoài và thấy một bề mặt ổn định. Các tỷ phú công nghệ Trung Quốc có thể tự thuyết phục mình rằng họ cũng miễn nhiễm trước những nỗi lo của đại chúng. Nhưng đàn áp và giám sát gia tăng không phải là giải pháp lâu dài. Nhóm thiểu số đặc quyền này sẽ ngồi trên một quả bom hẹn giờ do chính họ tạo ra, giống như quả bom mà giới tinh hoa chính trị và kinh tế phải đối mặt trong những năm suy tàn của triều Minh.
Vào cuối những năm 1500, triều Minh từng đầy sinh lực đã bị xói mòn nghiêm trọng. Nhiều thập kỷ chi tiêu tài chính phung phí, trong đó có chi phí của một cuộc xung đột kéo dài với Nhật Bản trên bán đảo Triều Tiên, đã làm cạn kiệt ngân khố hoàng gia. Những quan chức cải cách như Trương Cư Chính tìm cách vá lỗ hổng tài chính của nhà nước bằng một loạt cải cách nhằm mở rộng cơ sở thuế và buộc giới quan thân cùng địa chủ phải gánh phần lớn hơn trong gánh nặng tài chính ngày càng gia tăng. Nhưng giới quan thân đã phản công. Sau khi Trương qua đời năm 1582, họ thành công trong việc đảo ngược các cải cách và truy đoạt danh dự của ông sau khi chết như một lời cảnh báo dành cho bất kỳ ai muốn nhắm vào đặc quyền và tài sản của họ. Gánh nặng tài chính của một đế quốc đang lâm nguy vì thế lại đổ xuống vai những người nông dân bình thường.
Cùng lúc đó, triều đình nhà Minh trượt sâu vào tình trạng tê liệt chính trị. Hoàng đế Vạn Lịch (1572–1620) đã dành hai thập kỷ trong triều đại của mình mắc kẹt trong một cuộc đối đầu kéo dài với chính bộ máy quan liêu về câu hỏi ai sẽ kế vị ông. Kết quả là xuất hiện một khoảng trống chính trị ở đỉnh quyền lực. Khi vị hoàng đế quay lưng với việc triều chính, các kiến nghị và báo cáo của quan lại chất đống không ai đọc, những chức vụ then chốt của nhà nước bị bỏ trống và bộ máy quan liêu triều đình tan rã trong những cuộc đấu đá phe phái độc hại.
Với quỹ đạo hiện nay, Trung Quốc có nguy cơ lặp lại vòng xoáy đó. Bắc Kinh nhiều khả năng sẽ trải qua một giai đoạn dài trì trệ chính trị dưới thời Tập, cùng sự rỗng ruột dần về năng lực của bộ máy nhà nước, rồi chứng kiến một cuộc khủng hoảng kế vị vào những năm 2030 hoặc 2040. Khi những năm tăng trưởng bùng nổ đã lùi vào quá khứ, ngày càng có nhiều dấu hiệu cho thấy Trung Quốc cũng đang đối mặt với những ràng buộc tài chính. Các chính quyền địa phương đang thâm hụt ngân sách, nhiều nơi chật vật trả lương và phúc lợi đúng hạn cho giáo viên và công chức. Gánh nặng một lần nữa lại đổ xuống những người yếu thế nhất trong xã hội. Cư dân nông thôn và lao động di cư tham gia chương trình y tế nhà nước đã chứng kiến phí bảo hiểm tăng vọt, khoảng 20% mỗi năm trong hai thập kỷ qua. Không thể theo kịp chi phí, khoảng 83 triệu người đã đơn giản bỏ bảo hiểm trong những năm gần đây.
Xét riêng lẻ, không diễn biến nào trong số này báo hiệu thảm họa. Nhưng cộng lại, chúng cho thấy một Trung Quốc giữa thế kỷ nơi mọi đường rạn nứt xã hội lớn đều bị nới rộng sau nhiều thập kỷ chính sách của nhà nước. Sự hỗn loạn trong tầng lớp lãnh đạo và một nhà nước suy yếu, như từng xảy ra vào cuối thời Minh, hoàn toàn có thể kết hợp với những căng thẳng xã hội tiềm ẩn để tạo ra một cuộc khủng hoảng sinh tử. Vào những năm 1620, một đợt cắt giảm ngân sách của nhà Minh đã đẩy Lý Tự Thành, một nhân viên trạm dịch bị sa thải, vào con đường cướp bóc, trước khi ông vươn lên lãnh đạo cuộc nổi dậy lật đổ triều đại vào năm 1644. Việc cắt giảm lương hưu hay phúc lợi của chính các nhân viên nhà nước Trung Quốc trong những năm tới có thể tạo ra một phiên bản tương đương trong thời hiện đại. Vào những năm 1630, chính dòng người nông dân bị hạn hán và nạn đói tàn phá đổ về đã giúp lực lượng ô hợp của Lý phát triển đủ mạnh để thách thức ngai vàng. Biết đâu tình trạng thiếu nước nghiêm trọng ở miền Bắc Trung Quốc vào những năm 2030 hay 2040, càng trở nên tồi tệ do biến đổi khí hậu, hoặc việc hàng triệu cư dân nông thôn và lao động di cư bị bỏ mặc mà không có dịch vụ y tế tử tế cho bản thân hay cha mẹ già, lại trở thành mồi lửa châm ngòi cho biến động, chẳng khác nào tình trạng bần cùng hóa của nông dân Thiểm Tây bốn thế kỷ trước.
Thật khó hình dung tất cả những điều này có thể xảy ra trong một Trung Quốc hào nhoáng ngày nay. Thế nhưng, những mồi lửa âm ỉ có thể thiêu rụi một đế chế thường hiếm khi trông nguy hiểm cho đến đúng khoảnh khắc chúng bùng cháy. Hai mươi năm trước khi các quốc gia của họ lần lượt tiến tới những thời điểm khủng hoảng, cũng khó không kém để nhận ra mồi lửa sẽ đưa một họa sĩ người Áo vô danh, một sĩ quan KGB Liên Xô tầm thường hay một nhà phát triển bất động sản Mỹ ngông cuồng vào trung tâm của các sự kiện thế giới.
LỰA CHỌN CỦA NƯỚC MỸ
Đối với Washington, vẫn có một nhu cầu rất thực tế phải đối phó với những mối đe dọa do các chính sách cụ thể của Trung Quốc gây ra, chẳng hạn áp lực quân sự ngày càng gia tăng lên Đài Loan hay tình trạng dư thừa công suất công nghiệp được nhà nước trợ cấp đang tràn ngập thị trường toàn cầu. Nhưng một số nhà hoạch định chính sách Mỹ có thể bị cám dỗ đóng khung phản ứng này bằng thứ ngôn ngữ bao quát của một cuộc đấu tranh sinh tử, như một “thách thức của thế hệ” nhằm ngăn chặn một “thế kỷ Trung Hoa”. Washington không nên trao cho Bắc Kinh món quà đó. Thực tế là chính những lựa chọn của Bắc Kinh đang làm suy yếu tương lai Trung Quốc. Khi bất mãn trong nước gia tăng, các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ tìm cách chuyển hướng sự bất mãn ấy, mô tả nguyên nhân gốc rễ như sự khước từ mang tính văn minh của Mỹ đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Chấp nhận cách đóng khung này chẳng khác nào làm thay Bắc Kinh công việc đổ lỗi.
Hơn nữa, cách đóng khung đó còn nuôi dưỡng kiểu phản ứng thái quá trong nước vốn có thể xé nát kết cấu xã hội Mỹ. Những câu chuyện như vậy từng thổi bùng các cơn hoảng loạn như Cuộc Khủng hoảng Đỏ lần thứ hai trong những năm 1950, vốn đã đẩy nhà khoa học lỗi lạc Tiền Học Sâm trở về Trung Quốc, nơi ông trở thành cha đẻ của chương trình tên lửa nước này. Một động lực tương tự đang diễn ra ngày nay: bầu không khí nghi kỵ ngày càng gay gắt ở Mỹ, thể hiện qua các chính sách thị thực ngày càng khắt khe và hàng chục đạo luật cấp tiểu bang cấm công dân Trung Quốc sở hữu đất đai, đang đẩy các nhà khoa học gốc Hoa ra khỏi các phòng thí nghiệm Mỹ và góp phần khiến số sinh viên quốc tế nhập học giảm mạnh, với mức giảm 17% vào năm 2025.
Người Mỹ từ lâu vẫn nghĩ về mình như công dân của một đất nước trẻ trung, đầy sức sống, thường xuyên được làm mới nhờ các dòng người nhập cư, qua đó đặt nước Mỹ trên một quỹ đạo dân số hoàn toàn khác với châu Âu, Nhật Bản đang già hóa và giờ đây là Trung Quốc. Nhưng nước Mỹ cũng đang đối mặt với những thách thức riêng. Tỷ lệ sinh đã giảm xuống dưới mức thay thế vào năm 2008 và liên tục suy giảm kể từ đó. Trong khi ấy, đất nước đang quay lưng lại với nhập cư, vốn chiếm phần lớn mức tăng dân số của Mỹ trong những năm gần đây. Do chiến dịch siết nhập cư của chính quyền hiện tại, dữ liệu công bố vào năm 2027 hoàn toàn có thể cho thấy dân số Mỹ lần đầu tiên trong lịch sử đang suy giảm.
Washington phải tránh làm trầm trọng thêm các vấn đề dân số của chính mình bằng những chính sách tự hủy hoại tương tự những gì đang làm sâu sắc thêm khó khăn của Trung Quốc. Về chính trị, nước Mỹ vẫn rất khác Trung Quốc. Nhưng nước này cũng đang cho thấy những dấu hiệu không thể nhầm lẫn của tình trạng trì trệ chính trị. Quốc hội, với độ tuổi trung bình của các thành viên cao thứ ba trong lịch sử, đã không cấp ngân sách cho chính phủ liên bang đúng hạn kể từ cuối những năm 1990. Trong khi đó, các đợt đóng cửa chính phủ đã trở thành chuyện thường xuyên trong nền quản trị Mỹ. Nước Mỹ cũng đối mặt với mức độ bất bình đẳng về tài sản và thu nhập tương tự Trung Quốc, một khoảng cách cũng gây khó khăn cho việc thực hiện những cải cách đe dọa giới tinh hoa cố hữu. Chẳng hạn, các quy định phân vùng bảo vệ giá trị tài sản của những căn nhà do cư dân lớn tuổi sở hữu, trong khi gây trở ngại cho người trẻ khi họ cố gắng mua nhà, xây dựng sự nghiệp và lập gia đình.
Tất cả những điều này cho thấy nước Mỹ cũng có thể sớm đối mặt với những vấn đề tương tự Trung Quốc ngày nay. Nhưng khủng hoảng dân số không phải là định mệnh. Nó là kết quả tích tụ của những lựa chọn: hỗ trợ các gia đình hay gây khó dễ cho họ, chào đón người nhập cư hay dựng tường ngăn họ, nâng đỡ người trẻ hay bảo vệ những đặc quyền cố hữu. Dưới sự cai trị của Tập, Trung Quốc không còn đặc quyền lựa chọn: nước này đang bước vào một phiên bản khép kín và bế tắc của chính mình, điều sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng suy giảm dân số. Tuy nhiên, nước Mỹ vẫn có thể lựa chọn khác đi.
CARL MINZNER là Chuyên gia Nghiên cứu Cao cấp về Trung Quốc tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (CFR) và là Giáo sư tại Trường Luật thuộc Đại học Fordham. Ông là tác giả của cuốn sách sắp xuất bản As China Ages: The Politics of Demographic Decline in the Counter-Reform Era.