Cuộc chiến Iran đã thay đổi thế giới mãi mãi

Nguồn: Kenneth M. Pollack, “The Iran War Has Changed the World Forever,” Foreign Policy, 19/10/2026

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Một số hậu quả lâu dài và sâu sắc chỉ mới bắt đầu lộ diện.

Nhiều hệ quả trước mắt của cuộc chiến chống Iran của liên quân Mỹ-Israel đã hiển hiện rõ ràng. Sự trỗi dậy mạnh mẽ của máy bay không người lái (drone) và tên lửa như những vũ khí thống trị chiến tranh; mối nguy đối với nền kinh tế toàn cầu do các mối đe dọa tại những điểm nghẽn trọng yếu như Eo biển Hormuz và Bab el-Mandeb; sự thiếu hụt trong khâu mua sắm vũ khí của Mỹ; cùng nhiều vấn đề khác, đã thu hút sự chú ý rộng rãi một cách hoàn toàn hợp lý.

Tuy nhiên, dù những diễn biến đó có quan trọng đến đâu, cuộc xung đột ở Iran vẫn sẽ mang lại những tác động sâu rộng và lâu dài hơn nhiều – chúng là những thay đổi có thể thực sự mang tính bước ngoặt đối với khu vực Trung Đông và phần còn lại của thế giới. Sau vài chục năm nữa, chúng ta có thể nhìn lại cuộc xung đột này như một sự kiện dấu mốc, định hình lại căn bản những nguyên tắc cốt lõi của địa chính trị hiện đại.

Dù sẽ tốt hơn nếu nhận ra những điểm đứt gãy tiềm tàng này trước khi chiến tranh nổ ra, nhưng có lẽ vẫn còn thời gian để hành động nhằm lèo lái chúng theo những hướng có lợi. Như thường lệ, yêu cầu đầu tiên là phải nhận thức được những thay đổi địa chấn đang diễn ra.

Các quốc gia Vùng Vịnh chuyển sang tấn công – và nhiều chiến tranh hơn

Có vô số bình luận về các công nghệ chiến đấu mới đã xuất hiện nổi bật trong cuộc chiến Iran, một cuộc chiến mà trong đó Mỹ chủ yếu tập trung vào các hệ thống phòng thủ. Người Mỹ vừa kinh ngạc trước hiệu suất tuyệt vời của các hệ thống đánh chặn phương Tây, vừa lo lắng trước kho dự trữ đang cạn kiệt của mình. Tuy nhiên, các quốc gia Vùng Vịnh – và có lẽ là nhiều cường quốc tầm trung và nhỏ đang bị đe dọa khác – đã rút ra một bài học khác từ cuộc xung đột: Cách phòng thủ tốt nhất là chủ động tấn công.

Đạn đánh chặn của Mỹ, Israel, châu Âu, và Hàn Quốc đã hoạt động cực kỳ hiệu quả, bắn hạ các tên lửa đạn đạo, tên lửa hành trình, và drone của Iran. Kết hợp với khả năng của các máy bay chiến đấu phương Tây trong việc bắn hạ drone và tên lửa hành trình – cũng như áp chế các vụ phóng tên lửa đạn đạo – Iran đã gây ra ít thiệt hại cho các mục tiêu hơn rất nhiều so với những gì có thể xảy ra. Tóm lại, các hệ thống phòng không và phòng thủ tên lửa cho đến nay đã hoạt động cực kỳ xuất sắc. Đó không phải là chuyện nhỏ.

Vấn đề là điều đó đã được chứng minh là không đủ. Bởi vì drone, tên lửa hành trình, và thậm chí ở một mức độ đáng kể là tên lửa đạn đạo, đã trở nên rẻ hơn rất nhiều, dễ sản xuất, cất giấu, và phóng hơn hầu hết các loại đạn đánh chặn mà Mỹ và các đồng minh sử dụng để chống lại chúng, nên Iran vẫn có thể tiếp tục sản xuất thêm và phóng chúng vào các mục tiêu trên khắp Vùng Vịnh, Jordan, và Israel. Ngay cả khi các hệ thống phòng thủ đánh chặn được khoảng 90%, thì 10% lọt qua được cũng đã là quá mức chịu đựng.

Chỉ có người Israel mới đủ sức chống chịu và cơ sở hạ tầng của họ đủ kiên cố để tỏ ra không hề nao núng trước các cuộc phản công của Iran. Ngược lại, cùng một mức độ thiệt hại đó đã trở thành thảm họa đối với các quốc gia Vùng Vịnh. Các công ty năng lượng, vận tải biển, và bảo hiểm đều đang chùn bước trước viễn cảnh phải hoạt động với mối đe dọa thường trực từ các cuộc tấn công của Iran, ngay cả khi hơn 90% số đó bị đánh bại. 10% vượt qua hàng thủ đã gây ra thiệt hại đáng kể về vật chất, đi kèm loạt tổn thương tâm lý nặng nề. Chúng đặt ra dấu hỏi về mô hình kinh tế-xã hội hiện tại và các kế hoạch tương lai của các quốc gia Vùng Vịnh.

Tất cả các nền kinh tế hiện đại ở Vùng Vịnh đều được xây dựng với kỳ vọng rằng vùng đất của họ sẽ là những bến đỗ bình yên cho thương mại, sản xuất hydrocarbon, nghỉ ngơi và thư giãn. Các cuộc tấn công bằng drone và tên lửa của Iran đã phá vỡ giả định đó, làm suy yếu các ngành năng lượng, sản xuất, thương mại, tài chính, đầu tư và du lịch của Vùng Vịnh.

Ai sẽ muốn đầu tư, sản xuất, hay đi nghỉ dưỡng ở những quốc gia thường xuyên phải hứng chịu các cuộc tấn công bằng tên lửa và drone, ngay cả khi gần như tất cả chúng đều bị đánh chặn? Ai muốn kinh doanh, nhập khẩu dầu, đầu tư tiền bạc, buôn bán hàng hóa, hay đi nghỉ dưỡng ở một nơi mà vài lần một tuần (hoặc một ngày), bạn lại nghe thấy những tiếng nổ trên đầu, ngay cả khi đó là âm thanh của các hệ thống phòng thủ đánh chặn thành công đạn dược tấn công?

Trong chừng mực nào đó, các chính phủ Vùng Vịnh hiểu được điều này. Tuy nhiên, điều họ giả định trước chiến tranh là nguy cơ Mỹ (hoặc Israel, sau Hiệp định Abraham) trả đũa ồ ạt sẽ hạn chế quy mô và phạm vi các cuộc tấn công bằng tên lửa và drone của Iran – từ đó cho phép hệ thống phòng thủ của họ đánh bại mọi đòn trả đũa nhỏ nhoi mà Tehran cho là cần thiết để bảo vệ danh dự.

Họ đã trông cậy vào sự kiềm chế mà Iran từng liên tục thể hiện trong quá khứ, bao gồm cả cuộc chiến ngắn ngủi hồi tháng 06/2025, bởi Iran luôn lo sợ rằng một phản ứng mạnh hơn sẽ châm ngòi cho nỗ lực thay đổi chế độ từ phía Mỹ.

Trong cuộc chiến này, bằng cách cố gắng – và thất bại – trong việc đạt được sự thay đổi chế độ, rồi sau đó loại bỏ hoàn toàn mục tiêu này, Mỹ đã đảo lộn toàn bộ logic kể trên. Iran giờ đây có khả năng đe dọa cả các nền kinh tế Vùng Vịnh một cách trực tiếp bằng tên lửa và drone, lẫn nền kinh tế toàn cầu bằng cách bóp nghẹt lưu lượng tàu chở dầu qua Eo biển Hormuz mà không sợ Mỹ nỗ lực lật đổ chế độ của mình. Người Mỹ biết rằng họ không thể đạt được mục tiêu thay đổi chế độ chỉ bằng không quân và (cho đến nay) đang thiếu ý chí chính trị để triển khai các lực lượng bộ binh cần thiết để thực hiện mục tiêu dód. Khi mối đe dọa thay đổi chế độ không còn, chính Iran đã chứng minh rằng họ có thể răn đe các cuộc tấn công của Mỹ và Israel ít nhất là với hiệu quả ngang bằng khả năng Mỹ và Israel hạn chế các cuộc tấn công của Iran vào Vùng Vịnh.

Tình trạng này – trong đó các quốc gia Vùng Vịnh giờ đây trở nên cực kỳ dè dặt trước việc dựa vào Mỹ (hoặc Israel) để răn đe các cuộc tấn công của Iran – là không thể chấp nhận được. Đó là lý do tại sao tất cả họ đều đang mua hoặc cân nhắc sở hữu các đội drone và tên lửa của riêng mình. Ả Rập Saudi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), Qatar, và Kuwait đều đang mua drone của Thổ Nhĩ Kỳ. Ả Rập Saudi thậm chí còn hợp tác với các tập đoàn Mỹ để bắt đầu tự chế tạo hàng ngàn drone cho riêng mình. UAE đang cố gắng mua drone và khả năng sản xuất drone từ Israel, Trung Quốc, và Ukraine. Qatar và Bahrain cũng đang đàm phán để làm điều tương tự.

Dù có thể cho rằng cân bằng nỗi sợ (balance of terror) sẽ tạo ra một nền hòa bình trong cảnh giác giữa các đối thủ được trang bị drone và tên lửa ở hai bờ Vùng Vịnh, giống như Chiến tranh Lạnh đã làm với Mỹ và Liên Xô, nhưng kết cục đó ít có khả năng xảy ra hơn nhiều. Như Bernard Brodie từng nói vào năm 1946, điều khiến cho cân bằng hạt nhân có hiệu quả trong việc duy trì hòa bình chính là sức mạnh không thể nhầm lẫn của vũ khí hạt nhân. Không ai có thể hiểu sai về điều sẽ xảy ra nếu một vũ khí hạt nhân duy nhất – chứ chưa nói đến vài chục vũ khí – được kích nổ ở đất nước họ. Với việc cả các quốc gia Vùng Vịnh và Iran đều sở hữu hàng ngàn drone và tên lửa thông thường, sự chắc chắn về những thiệt hại không thể đong đếm đó lại không còn hiện hữu.

Thay vào đó, các kho vũ khí có lẽ sẽ đóng vai trò như một mồi lửa kích động thêm chiến tranh. Iran sẽ chứng kiến các quốc gia Vùng Vịnh cố gắng xây dựng lực lượng tấn công của riêng họ và sẽ muốn chứng minh rằng những thứ này không đủ sức răn đe các cuộc tấn công của Iran. Những người theo đường lối cứng rắn hiện đang nắm quyền ở Tehran muốn đảm bảo các vị quân vương bảo thủ ở Vùng Vịnh tin rằng Iran có thể chịu đựng được nhiều sự trừng phạt hơn họ, và Iran sẽ tìm kiếm cơ hội để tấn công Vùng Vịnh nhằm chứng minh điều đó.

Đổi lại, các quốc gia Vùng Vịnh sẽ cảm thấy cần phải trả đũa để khẳng định rằng họ sẽ không bị bắt nạt và có thể ăn miếng trả miếng. Và Mỹ rất có thể sẽ chọn cách đứng ngoài vì sợ rằng việc bảo vệ các quốc gia Vùng Vịnh sẽ khiến Iran đóng cửa Eo biển Hormuz một lần nữa. Tất cả những điều này báo hiệu nhiều cuộc pháo kích bằng tên lửa và drone qua lại mỗi khi các bên tìm cách củng cố khả năng của mình, tìm kiếm điểm yếu của đối phương để khai thác, hoặc để thể hiện sự kiên quyết.

Tệ hơn, vẫn còn một diễn biến đáng tiếc nữa cần phải xem xét. Một khi các quốc gia Vùng Vịnh có được khả năng phóng chiếu sức mạnh ra ngoài biên giới của họ – điều mà không quốc gia nào trong số họ có được trong khoảng một thế kỷ qua – họ nhiều khả năng sẽ bắt đầu sử dụng nó và dùng nó để làm những việc mà Mỹ sẽ không nhất thiết thấy thích.

Đây chính là lịch sử của Vùng Vịnh. Hồi những năm 1970, khi Mỹ trang bị vũ khí cho Quốc vương Iran (Shah) với hy vọng ông sẽ san sẻ bớt gánh nặng quốc phòng của Washington trong khu vực, ông lại bắt đầu sử dụng quân đội mới của mình để làm đủ thứ việc mà Mỹ không thích, từ việc ủng hộ người Kurd chống lại Saddam Hussein đến việc chiếm giữ các hòn đảo ở Vùng Vịnh từ tay UAE. Tương tự, trong thập kỷ qua, dưới sự thúc giục của Mỹ, UAE đã tự phát triển các khả năng phóng chiếu sức mạnh khiêm tốn của riêng mình, chỉ để rồi sử dụng chúng để theo đuổi lợi ích ở Yemen, Libya, Sudan, và Vùng Sừng Châu Phi, thường là đi ngược lại với các chính sách của Mỹ.

Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, Vùng Vịnh đang sở hữu các khả năng tấn công quân sự. Chúng ta có thể gọi đó là sự chia sẻ gánh nặng, và có lẽ nó đồng nghĩa là Mỹ không còn phải bảo vệ họ và những nguồn xuất khẩu năng lượng vô giá của họ nữa. Nhưng kịch bản dễ xảy ra hơn là nó sẽ kích động xung đột lớn hơn trong khu vực, và thuyết phục các quốc gia ở các khu vực khác trên thế giới rằng họ cũng nên và có thể làm điều tương tự.

Trung Quốc bắt đầu phóng chiếu sức mạnh

Trong khoảng bốn thập kỷ qua, Trung Quốc luôn là kẻ đi ké hưởng lợi tuyệt đối ở Trung Đông. Bắc Kinh dựa vào Washington để giữ cho khu vực ổn định thông qua việc giải quyết vô số các vấn đề an ninh – từ chiến tranh giữa các quốc gia đến chiến tranh trong nội bộ quốc gia – đồng thời cho phép Trung Quốc tập trung vào việc làm giàu cho bản thân thông qua hoạt động thương mại, đầu tư, và xây dựng cơ sở hạ tầng thuận lợi.

Và người Trung Quốc không hề tế nhị hay e ngại về điều đó. Tôi từng bị một thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc mắng mỏ vì Mỹ đã thất bại trong việc duy trì hòa bình khu vực thay cho Trung Quốc. Ông thực sự đã hét vào mặt tôi rằng Trung Quốc không hiểu được Trung Đông, với tôn giáo và sự “điên rồ” của nó; vì vậy, trách nhiệm của Washington là phải giữ mọi thứ yên ổn – một trách nhiệm mà ông cảm thấy người Mỹ đang thất bại. Vấn đề là khi đó tôi thậm chí còn không làm việc trong chính phủ Mỹ.

Hơn nữa, Trung Quốc chắc chắn không phải là nước đầu tiên, dù họ có thể là nước phô trương nhất. Trong gần một thế kỷ, Mỹ đã đóng vai trò của Trung Quốc giống như khi Anh đóng vai trò của Mỹ. Bắt đầu từ thế kỷ 19, các thương gia Mỹ đã qua lại các vùng biển ở Vùng Vịnh để tìm kiếm lợi nhuận, cố ý xem thường chính trị và xung đột địa phương, phó mặc tất cả cho người Anh cho đến khi London rút quân khỏi khu vực này vào đầu những năm 1970. Nhưng ngay cả khi đó, Mỹ cũng không hoàn toàn đảm nhận vai trò bá quyền khu vực cho đến những năm 1990, sau khi Cách mạng Iran, Chiến tranh Iran-Iraq, và cuộc xâm lược Kuwait của Saddam đã thuyết phục Washington rằng khu vực này sẽ không thể tự duy trì sự ổn định.

Vì vậy, giống như Mỹ – và thậm chí ở một mức độ thấp hơn là Anh – Trung Quốc đã được phép phớt lờ những vấn đề liên miên của Vùng Vịnh bằng cách để mặc chúng cho người khác. Tuy nhiên, các sự kiện trong thập kỷ qua, rõ hơn là trong ba năm qua, và hơn nữa là sáu tháng qua, đã đặt ra câu hỏi về tính khả thi của sự dàn xếp này.

Trước ngày 07/10/2023, Trung Quốc từng là tâm điểm bàn tán ở Vùng Vịnh, nhưng gần như ngay sau cuộc tấn công kinh hoàng của Hamas, họ đã hoàn toàn bị gạt ra khỏi các cuộc trò chuyện. Điều mà tất cả các quốc gia trong khu vực nhận ra là Trung Quốc không có khả năng phóng chiếu sức mạnh ở Trung Đông. Thêm vào đó, trong thời kỳ chiến tranh, sự can dự kinh tế khổng lồ của Bắc Kinh vào khu vực này chẳng có mấy ý nghĩa, nếu không muốn nói là vô giá trị. Trung Quốc không thể bảo vệ các bạn bè trong khu vực của mình khỏi bị tấn công. Trung Quốc không thể đe dọa các kẻ thù trong khu vực. Các chiến dịch quân sự của Mỹ như Rough Rider, Midnight Hammer, và giờ là Epic Fury hoàn toàn vượt ngoài khả năng của Trung Quốc.

Điều tốt nhất mà người Trung Quốc có thể làm là khuyến khích các đồng minh Pakistan của họ làm trung gian giữa Tehran và Washington. Nhưng nhiều tháng đã trôi qua mà nỗ lực này vẫn không giúp kết thúc được xung đột, và không có dấu hiệu nào cho thấy lợi ích của Trung Quốc được xem xét trong các cuộc đàm phán.

Rắc rối nằm ở chỗ đó. Trung Quốc có lợi ích đáng kể ở Trung Đông. Họ là nhà nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới và 50% lượng nhập khẩu của họ đến từ Vùng Vịnh. Thương mại của Trung Quốc với các quốc gia Vùng Vịnh đã tăng trưởng với tốc độ chóng mặt, hiện đạt hơn 500 tỷ USD mỗi năm và dự kiến sẽ đạt 800 tỷ USD vào năm 2030. Khu vực Vùng Vịnh cũng là một thị trường và điểm trung chuyển quan trọng cho hàng hóa Trung Quốc trên đường đến châu Âu, Tây Á và châu Phi.

Vì vậy, câu hỏi lớn ở đây là liệu sự tàn phá do ba năm chiến tranh trên khắp khu vực gây ra – được làm nổi bật bởi cuộc tấn công của Mỹ và Israel vào Iran năm nay và đã đe dọa đến lợi ích của Trung Quốc – có thúc đẩy Bắc Kinh xem xét lại sự bất lực của mình và sự sẵn sàng dựa dẫm vào người khác để bảo vệ các lợi ích sống còn ở Trung Đông hay không? Liệu Bắc Kinh có chọn cách nỗ lực quyết liệt hơn nhằm xây dựng khả năng phóng chiếu sức mạnh vào Vùng Vịnh để đảm bảo rằng các nhu cầu của Trung Quốc được đáp ứng bởi cả người dân địa phương lẫn các tác nhân bên ngoài khu vực như Mỹ?

Nếu Bắc Kinh chọn con đường đó – và các tàu sân bay mà họ triển khai dường như luôn hữu ích ở Ấn Độ Dương và phía Bắc Biển Ả Rập hơn ở Biển Đông – thì đó sẽ là một sự thay đổi lớn trong cán cân quân sự và các quan hệ an ninh của Trung Đông.

Israel chấp nhận chiến tranh liên miên ở vùng biên giới

Trước chiến tranh Iran, vào cuối năm 2024, tôi đến Israel cùng với một nhóm nhỏ các chuyên gia quân sự Mỹ để tiến hành những cuộc thảo luận sâu rộng với các sĩ quan cấp cao đương nhiệm và đã nghỉ hưu của quân đội Israel.

Trong khuôn khổ của các cuộc thảo luận này, người Israel đã trình bày học thuyết quốc phòng mới mà họ đang phát triển nhằm ứng phó với cú sốc và sự kinh hoàng từ các cuộc tấn công của Hamas vào ngày 07/10/2023. Họ có ý định chiếm đóng các vùng đệm dọc theo biên giới với Lebanon, Syria, và Gaza, sau đó tiến hành các hoạt động quân sự liên tục chống lại Hamas, Hezbollah, Nhà nước Hồi giáo, và các nhóm (hoặc quốc gia) cực đoan Ả Rập khác bên ngoài các vùng đệm đó, để đảm bảo rằng không ai trong số họ có thể phát triển cơ sở hạ tầng hoặc lực lượng dã chiến để tổ chức một cuộc tấn công lớn vào Israel một lần nào nữa. Đó chính xác là những gì Israel đã và đang theo đuổi kể từ đó đến nay.

Vào thời điểm đó, tôi nhận thấy rằng những gì Israel đang đề xuất có nét tương đồng với học thuyết phòng thủ của Đế chế La Mã. Người La Mã cũng thường xuyên thiết lập các vùng đệm – với các bộ tộc thân thiện hoặc các vùng lãnh thổ trống trải – ngay tại biên giới của họ, rồi sau đó tiến hành các chiến dịch quân sự liên tục chống lại các bộ tộc man di bên ngoài nhằm trừng phạt, làm suy yếu, và ngăn chặn họ tổ chức các chiến dịch quân sự lớn nhắm vào các vùng lãnh thổ của La Mã. Đó là một học thuyết về chiến tranh liên miên bên ngoài biên giới của đế chế để đảm bảo hòa bình bên trong nó.

Tôi đã chỉ ra rằng việc thực thi học thuyết đó đòi hỏi một Israel rất khác so với đất nước đã tồn tại trước ngày 07/10. Chuyên gia phân tích quân sự Aaron MacLean, người dẫn chương trình podcast School of War, cũng là một thành viên của phía Mỹ có mặt tại đó, và ông nhấn mạnh một điểm: Ông băn khoăn liệu văn hóa “quốc gia khởi nghiệp” có thể dung hòa với một học thuyết quân sự về các vùng biên giới kiểu La Mã hay không.

Đối với Israel, việc áp dụng cách tiếp cận vùng biên giới La Mã đòi hỏi sự quay trở lại với một phiên bản học thuyết quốc phòng ban đầu của họ – cùng với nền văn hóa quốc gia đã hỗ trợ cho học thuyết đó. Kể từ khi thành lập vào năm 1948 (và có thể là trước đó nữa) cho đến Chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1973, học thuyết quốc phòng của Israel luôn nhấn mạnh vào các chiến dịch tấn công phủ đầu hoặc thậm chí là phòng ngừa để loại bỏ các mối đe dọa quân sự tiềm tàng trước khi chúng có thể được sử dụng, và tiến hành các trận chiến trên lãnh thổ của kẻ thù, cách xa các trung tâm dân cư dễ bị tổn thương của chính Israel.

Điều đó đòi hỏi một dân số vừa được huấn luyện, vừa cam kết phục vụ quân sự dự bị lâu dài, để cho phép một đất nước nhỏ bé có thể duy trì một lực lượng dã chiến đủ lớn nhằm đánh bại các đối thủ đông dân hơn. Nó cũng đòi hỏi một dân tộc sẵn sàng liên tục hy sinh lợi ích cá nhân – bao gồm cả sự hy sinh cao cả nhất – vì lợi ích của quốc gia. Một học thuyết phòng thủ vùng biên giới kiểu La Mã cũng sẽ đòi hỏi điều tương tự.

Nhưng dần dần sau năm 1973, khi ngày càng rõ ràng rằng cả quân đội Ả Rập lẫn các nhóm khủng bố chống Israel không còn gây ra mối đe dọa sống còn đối với nhà nước này, văn hóa Israel đã thay đổi. Như một trong những nghiên cứu sâu sắc nhất về quan hệ đang thay đổi của người dân Israel với lực lượng vũ trang của họ đã chỉ ra, nền văn hóa đã chuyển từ tự hy sinh sang tự khẳng định mình. Sự chuyển dịch này đã được thúc đẩy khi nền kinh tế Israel bắt đầu bùng nổ vào đầu những năm 2000, đến mức ngày càng có nhiều thanh niên Israel khinh thường việc phục vụ trong lực lượng vũ trang, chưa nói đến việc theo đuổi sự nghiệp quân sự, và ngày càng khó hơn để khiến các thế hệ lớn tuổi xem trọng nghĩa vụ dự bị của họ.

Theo lời của những người Israel hiện tại, ngày 07/10 đã thay đổi mọi thứ. Họ khẳng định mình sẵn sàng quay trở lại với sự tự hy sinh hoàn toàn vì an ninh quốc gia, điều đã làm cho học thuyết quốc phòng ban đầu trở nên khả thi. Cách tiếp cận vùng biên giới kiểu La Mã đại diện cho phiên bản thế kỷ 21 của chiến lược đó. Nhưng vẫn còn một câu hỏi chưa có lời đáp: liệu tinh thần đó có kéo dài trong nhiều thập kỷ hay không – và nếu có, liệu nó có hút cạn năng lượng và sức sáng tạo từ khu vực tư nhân của Israel, thứ đã biến họ trở thành một “quốc gia khởi nghiệp” diệu kỳ như vậy hay không.

Ngoài những đòi hỏi đối với xã hội và văn hóa Israel, sự chuyển hướng sang mô hình vùng biên giới La Mã còn đặt Israel trước những tình thế lưỡng nan khác. Cụ thể, sự bùng nổ kinh tế đến từ tinh thần khởi nghiệp internet của nước này đòi hỏi mức độ kết nối cao với phần còn lại của thế giới phát triển. Tuy nhiên, các chính sách an ninh kiểu vùng biên giới La Mã ở Gaza, Lebanon, Syria, và những nơi khác đã làm xói mòn dần thiện chí đối với Israel ở nhiều nơi. Một số nước phát triển đã xem xét hoặc thậm chí áp đặt các lệnh trừng phạt (tương đối giới hạn) đối với Israel để đáp trả. Israel càng bám chặt vào học thuyết quốc phòng này, thì những quan hệ đó sẽ càng chịu nhiều rạn nứt.

Không nơi nào sự căng thẳng này lại quan trọng đối với Israel hơn là ở Mỹ, nơi một số lượng đáng kinh ngạc các nhân vật ở cả phe cực tả lẫn cực hữu đã quay lưng lại với quan hệ đặc biệt Mỹ-Israel. Ở đây cũng vậy, các chiến dịch quân sự quyết liệt do cách tiếp cận vùng biên giới La Mã đòi hỏi đã làm phật lòng nhiều người Mỹ từng có thiện cảm và tạo ra một cái cớ hoàn hảo cho những người chống chủ nghĩa phục quốc Do Thái (và những kẻ bài Do Thái) ở cả hai thái cực chính trị lên tiếng đòi hủy bỏ hoàn toàn liên minh Mỹ-Israel. Nếu xu hướng này tiếp tục, người Israel có thể sớm phải đối mặt với một lựa chọn mang tính nền tảng giữa quan hệ trân quý của họ với Mỹ và cách tiếp cận mới đối với an ninh của chính họ.

Iran nhận ra tiềm năng trở thành bá quyền của mình

Tuy nhiên, vẫn còn một câu hỏi lớn khác mà chỉ có tương lai mới có thể trả lời, đó là liệu một cuộc chiến nhằm mục đích kìm hãm quyền bá chủ của Iran ở Trung Đông có vô tình tiếp tay cho nó hay không. Mỹ và Israel tấn công Iran với hy vọng lật đổ chế độ tàn bạo của nước này và, nếu điều đó thất bại, thì sẽ thu hẹp sức mạnh của họ bằng cách loại bỏ các phương tiện mà họ sử dụng để phóng chiếu sức mạnh ra khắp khu vực.

Đúng là các cuộc không kích ban đầu đã tiêu diệt phần lớn dàn lãnh đạo cấp cao của Iran, bao gồm cả Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei, nhưng điều đó không dẫn đến sự sụp đổ của chế độ – chí ít là cho đến nay – và trong ngắn hạn còn khiến Washington phải đối mặt với một phiên bản tồi tệ hơn của chế độ đó.

Bằng việc tiêu diệt Khamenei, Israel và Mỹ đã loại bỏ được một nhà lãnh đạo độc ác, nhưng nhân vật này lại là một người bảo thủ, thận trọng, và cực kỳ e dè sức mạnh quân sự của Mỹ. Kế nhiệm ông là một nhóm lãnh đạo cứng rắn, hiếu chiến, hung hăng, và chấp nhận rủi ro cao hơn nhiều.

Thật vậy, theo những gì chúng ta được biết, Khamenei luôn hạn chế các hành động quân sự thông thường của Iran nhắm vào Mỹ và Israel bởi ông sợ rằng leo thang sẽ chỉ dẫn đến leo thang và cuối cùng sẽ châm ngòi cho một nỗ lực quyết liệt của Mỹ nhằm tiêu diệt ông và lật đổ chế độ. Khamenei liên tục ngăn cản phe cứng rắn của Iran thỏa mãn sở thích tấn công bạo lực hơn vào Israel và các lợi ích của Mỹ. Giờ đây, chính những người theo đường lối cứng rắn này đang nắm quyền ở Tehran, và cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi họ tiến hành một chiến dịch hung hăng hơn nhiều chống lại Mỹ vì không còn bị ràng buộc bởi những lo lắng của Khamenei.

Về phần sức mạnh quân sự của Iran, cuộc chiến gần như chắc chắn đã làm thụt lùi chương trình sản xuất drone và tên lửa đạn đạo của nước này trong nhiều tháng, có thể lâu hơn, nhưng người Iran không chỉ đang xây dựng lại mà còn cải thiện chất lượng các hệ thống của họ với sự giúp đỡ của Nga và Trung Quốc. Cuộc chiến cũng có thể đã làm thụt lùi chương trình hạt nhân của Tehran, dù điều đó còn khó đoán định hơn. Và nó đã loại bỏ một số khả năng phóng chiếu sức mạnh của Iran – hải quân và không quân của họ – dù đây không phải là những yếu tố đặc biệt quan trọng trong cả lời đe dọa lẫn hệ thống phòng thủ của Iran. Tuy nhiên, thay vì làm giảm khả năng của nước này trong việc sử dụng vũ lực để tác động đến các vấn đề khu vực và toàn cầu, cuộc chiến có thể lại nâng tầm khả năng đó lên.

Tehran dường như đã áp dụng một bộ đôi chính sách mà trước đó chỉ tồn tại trên lý thuyết. Thứ nhất, Iran giờ đây biết rằng họ có thể làm suy yếu hoặc thậm chí bóp nghẹt hoạt động vận tải biển qua Eo biển Hormuz mà không châm ngòi cho một chiến dịch quân sự quy mô lớn, được toàn cầu ủng hộ, và do Mỹ dẫn đầu nhằm mở lại eo biển này và lật đổ chế độ Cộng hòa Hồi giáo. Đó là nỗi sợ hãi đã ngăn cản Iran làm như vậy kể từ năm 1979. (Điều đáng lưu ý là, trái ngược với những hiểu lầm phổ biến, Iran chưa bao giờ thực sự cố gắng đóng cửa eo biển này trong Chiến tranh Iran-Iraq. Khi ấy, họ có khả năng lớn hơn nhiều để làm điều đó, nhưng họ chỉ sử dụng một phần khả năng rất nhỏ để quấy rối giao thông hàng hải, chủ yếu ở Vịnh Ba Tư nhằm đẩy giá dầu lên cao để tăng giá trị xuất khẩu, đồng thời thuyết phục Mỹ cùng các quốc gia Vùng Vịnh chấm dứt ủng hộ Iraq). Thứ hai, Iran học được rằng họ có thể nã hàng ngàn tên lửa đạn đạo, tên lửa hành trình, và drone vào các đồng minh Vùng Vịnh của Mỹ để tạo ra tác động vượt trội so với thiệt hại thực tế gây ra.

Hơn nữa, chúng ta nên nhớ rằng nhiều người hiện đang nắm quyền ở Tehran từng phản đối thỏa thuận hạt nhân năm 2015 vì họ muốn chiến tranh chứ không phải đàm phán với Mỹ, và họ muốn có một kho vũ khí hạt nhân để ngăn Mỹ tấn công họ hoặc ngăn họ tấn công các quốc gia khác. Bằng cách củng cố vị trí vững chắc của phe này, chí ít là trong lúc này, cuộc chiến có lẽ đã khiến một thỏa thuận hạt nhân mới với Iran trở thành một trở ngại còn lớn hơn so với trước đây. Nó rất có thể đã thuyết phục một nhóm vốn đã muốn có vũ khí hạt nhân rằng một kho vũ khí như vậy là cách duy nhất để ngăn chặn thêm các cuộc tấn công của Mỹ và/hoặc Israel.

Cuối cùng, cho đến nay, cuộc chiến đã thắt chặt sự hợp tác giữa Iran, Nga, và Trung Quốc. Liên minh hờ hững đó từng rạn nứt đáng kể trong cuộc xung đột tháng 06/2025 vì cả Moscow và Bắc Kinh đều không làm gì nhiều để giúp Tehran, khiến nhiều người Iran theo đường lối cứng rắn đặt câu hỏi về mức độ thực chất của “liên minh” này.

Nhưng giờ đây, cả Nga và Trung Quốc đều đã cung cấp cho Iran sự hỗ trợ đáng kể về vật chất và thông tin – cung cấp hệ thống phòng không, linh kiện tên lửa và drone, dữ liệu mục tiêu, và các hình thức trợ giúp khác nhằm xây dựng lại và cải thiện kho vũ khí của Iran. Hậu quả là, Iran có thể bước ra khỏi cuộc chiến với một quan hệ đối tác có ý nghĩa hơn với cả Nga và Trung Quốc so với khi cuộc chiến bắt đầu.

Chính vì tất cả những lý do này mà cuộc chiến phải kết thúc bằng việc Mỹ chứng minh cho người Iran thấy rằng họ không thể cản trở tàu bè đi lại ở Eo biển Hormuz hay tùy tiện bắn phá các quốc gia Vùng Vịnh mà không bị trừng phạt. Nếu nó kết thúc theo cách mà người Iran có thể tiếp tục một trong hai việc trên, chứ chưa nói đến cả hai việc, thì cuộc chiến sẽ giúp Iran có ảnh hưởng lớn hơn nhiều so với trước đây, bất chấp thiệt hại đối với các lực lượng tên lửa, drone, không quân, và hải quân của họ.

Những thay đổi kịch tính nhất của lịch sử luôn hiển hiện rõ nhất qua gương chiếu hậu. Nghệ thuật tuyệt đỉnh của việc hoạch định chính sách là nhận ra chúng ngay từ hiện tại – hoặc dự đoán chúng trong tương lai. Nhưng đó lại là điều người ta khó làm nhất.

Không có gì là hoàn toàn rõ ràng ngay tại thời điểm nó xảy ra, và sự phủ nhận là một trong những yếu tố có sức chi phối mạnh mẽ nhất trong tâm lý con người, cả ở cấp độ cá nhân lẫn tập thể. Luôn có những xu hướng trái chiều. Những người không muốn tin rằng các xu hướng sẽ tiếp diễn sẽ khăng khăng rằng chúng không như vậy, và họ sẽ bám víu vào những bằng chứng sẵn có để làm thế. Việc nhận ra tín hiệu thực sự giữa vô vàn thông tin nhiễu loạn luôn khó nhất vào đúng thời điểm mà người ta có thể dễ dàng hành động dựa trên tín hiệu ấy nhất.

Không ai trong chúng ta có thể nói chắc chắn rằng bất kỳ thay đổi khả thi nào mà tôi đã phác thảo trên đây sẽ trở thành hiện thực. Nhưng mầm mống của chúng đã hiện hữu xuyên suốt quá trình diễn ra cuộc chiến hiện tại của Mỹ với Iran. Không còn quá sớm để nhận ra chúng và bắt đầu cân nhắc xem Washington nên hành động như thế nào để ngăn chặn điều tồi tệ nhất và chuẩn bị cho bất cứ điều gì mà họ không thể ngăn chặn.

Kenneth M. Pollack là phó chủ tịch phụ trách chính sách tại Viện Trung Đông. Ông là cựu chuyên gia phân tích quân sự Vùng Vịnh của CIA và là cựu giám đốc phụ trách các vấn đề Vùng Vịnh tại Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ. Cuốn sách mới nhất của ông, “The Iraq Wars” (Các cuộc chiến tranh Iraq), sẽ được xuất bản vào tháng 2.