
Nguồn: Oliver Stuenkel, “Washington’s Cuba Policy Is Self-Sabotage,” Foreign Policy, 30/06/2026
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Lệnh phong tỏa của Mỹ đang phá hủy các cơ hội để Havana trở nên ổn định và dân chủ.
Kể từ tháng 1, khi Mỹ bắt giữ Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro và cắt đứt nguồn cung dầu từ Venezuela — thứ đã giúp Cuba duy trì hoạt động — Washington đã theo đuổi chiến dịch “áp lực tối đa” để đối phó với Havana. Chính quyền Trump hy vọng rằng các lệnh trừng phạt và việc phong tỏa nguồn cung nhiên liệu có thể buộc giới lãnh đạo Cuba phải hướng tới một sự cởi mở về kinh tế và chính trị thông qua đàm phán, từ đó biến hòn đảo này thành một đối tác phụ thuộc vào Mỹ.
Trong chừng mực nào đó, áp lực này đã mang lại kết quả. Vào ngày 18/6, Quốc hội Cuba đã thông qua khoảng 175 biện pháp cải tổ, đồng nghĩa với sự thay đổi táo bạo nhất so với trật tự kinh tế của Cách mạng Cuba năm 1959. Các ngân hàng tư nhân giờ đây sẽ được phép hoạt động tại Cuba, bất động sản và các doanh nghiệp nhà nước sẽ mở cửa cho vốn tư nhân và vốn nước ngoài, người Cuba ở nước ngoài có thể đầu tư vào trong nước, và hầu hết các biện pháp kiểm soát giá cả sẽ biến mất. Chủ tịch Miguel Díaz-Canel gọi cuộc cải cách này là để bảo vệ chủ nghĩa xã hội, chứ không phải từ bỏ nó.
Tổng thống Mỹ Donald Trump có thể kết luận rằng áp lực tối đa đang phát huy tác dụng — và rằng ông nên siết chặt Havana hơn nữa để đạt được thêm nhiều thay đổi. Chỉ vài ngày sau khi các cải cách được thông qua, Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio đã công bố các lệnh trừng phạt đối với năm thực thể Cuba, bao gồm cả ngân hàng xử lý hầu hết các hoạt động kinh doanh nước ngoài trên đảo.
Tuy nhiên, khi tổn thất nhân đạo từ chiến dịch gây áp lực của Mỹ lên Cuba ngày một chất chồng, chiến lược của Washington có thể sẽ quay lại phá hoại chính lợi ích của họ. Chính áp lực đã tạo ra sự cởi mở kinh tế gần đây của Cuba đang dần phá hủy những điều kiện mà hòn đảo này cần để thành công.
Tháng 6 vừa qua, Cao ủy Nhân quyền Liên Hợp Quốc Volker Türk đã quy trách nhiệm trực tiếp cho chính quyền Trump về những gì ông mô tả là tình trạng nhân đạo khẩn cấp ở Cuba. Theo văn phòng của ông, tỷ lệ sống sót của trẻ em mắc bệnh ung thư đã giảm từ khoảng 85% xuống còn 65% kể từ khi Mỹ áp đặt các hạn chế nhiên liệu lên quốc gia này vào tháng 1. Các đợt mất điện sau đó đã làm mất ổn định hệ thống làm lạnh và vận chuyển vốn đóng vai trò thiết yếu đối với các chuỗi cung ứng y tế.
Türk cũng tiết lộ tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh đã tăng gấp đôi kể từ đó, lên tới gần 10 ca tử vong trên 1.000 ca sinh còn sống, và chỉ có khoảng 1/3 số loại thuốc thiết yếu hiện có sẵn trong nước. Tình trạng thiếu nhiên liệu cũng bóp nghẹt nguồn cung thực phẩm của hòn đảo, làm giảm 60% sản lượng theo báo cáo và khiến phụ nữ mang thai cùng trẻ nhỏ trở thành nhóm dễ bị suy dinh dưỡng nhất.
Theo Türk, tính đến giữa tháng 5, các đợt mất điện hàng ngày ở Cuba thường xuyên vượt quá 20 giờ, các bệnh viện phải đình chỉ phẫu thuật và hàng triệu người không được tiếp cận nguồn nước sạch đáng tin cậy. Ông chỉ ra rằng các lệnh trừng phạt được thiết kế nhằm bóp nghẹt toàn bộ các lĩnh vực của nền kinh tế, với những tác động lên toàn thể người dân — giống như trường hợp các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Cuba — là không tương thích với luật nhân quyền quốc tế.
Vượt ra ngoài những đau khổ nhân đạo trước mắt gây ra bởi việc Mỹ phong tỏa Cuba, chiến lược của Washington là hành động tự chuốc lấy thất bại. Những khó khăn do vòng vây mà nước ngoài áp đặt hiếm khi chuyển biến thành sự tức giận đối với chính quyền địa phương. Ngay cả khi làn sóng bất mãn gia tăng, nó vẫn có xu hướng nuôi dưỡng sự thù địch đối với Mỹ. Chính phủ Cuba cũng đã chứng minh khả năng của họ trong việc trấn áp tiếng nói bất đồng.
Chiến lược của Mỹ cũng phải trả một cái giá sâu xa hơn về mặt cấu trúc. Một quan hệ đối tác hiệu quả trong tương lai giữa Mỹ và một chính phủ Cuba ổn định dưới bất kỳ hình thức nào cũng sẽ phải dựa trên nền tảng của một xã hội vận hành tốt. Nhưng những nền tảng đó lại chính là thứ mà lệnh phong tỏa của Mỹ đang làm xói mòn.
Một nền kinh tế thị trường cần các ngân hàng có thể cung cấp tín dụng cho các doanh nhân và nhà đầu tư nước ngoài, những người sẵn sàng chấp nhận rủi ro bị Mỹ trừng phạt để kinh doanh trên một hòn đảo đang bị cấm vận. Nó cũng đòi hỏi một lực lượng lao động ổn định. Tình trạng thiếu hụt năng lượng và sự sụp đổ của các dịch vụ cơ bản đang mang lại tác dụng ngược: chúng đã đẩy nhanh làn sóng di cư khỏi Cuba, rút cạn nhóm người trong độ tuổi lao động của hòn đảo này. (Hơn 1 triệu người Cuba đã rời hòn đảo kể từ năm 2021.) Tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em cũng có nguy cơ làm giảm năng suất bình quân đầu người trong nhiều thập kỷ tới.
Áp lực của Mỹ lên Cuba càng kéo dài, nước này sẽ càng tiến gần sự sụp đổ kinh tế, khiến Havana dễ bị tổn thương hơn trước tình trạng cực đoan hóa và các làn sóng di cư ồ ạt, đồng thời làm giảm khả năng duy trì một quá trình chuyển đổi có trật tự sang nền dân chủ.
Dường như Trump hy vọng sẽ lặp lại ở Cuba cách tiếp cận mà ông đã sử dụng ở Venezuela: thay thế Díaz-Canel bằng một nhân vật dễ bảo hơn, người sẽ phục tùng Washington. Theo tờ Wall Street Journal, các quan chức Nhà Trắng đã nói về việc tìm kiếm một “Delcy của Cuba,” đề cập tới nhà lãnh đạo lâm thời của Venezuela, Delcy Rodríguez. Cho đến nay, vẫn chưa có ứng viên nào như vậy xuất hiện.
Nếu có những điều kiện thích hợp, Cuba thực sự có thể ở vị thế tốt hơn Venezuela trong việc mở cửa chính trị. Dù Cuba thiếu một lực lượng đối lập có tổ chức, quốc gia này lại có sự gắn kết và năng lực thể chế để chống chịu áp lực của một cuộc chuyển đổi mà không bị sụp đổ. Tuy nhiên, vòng vây của Mỹ đang làm xói mòn chính những năng lực đó.
Cuba là một đảo quốc nhỏ, tập trung quyền lực cao và nhìn chung không có tội phạm có tổ chức hay các nhóm vũ trang phi nhà nước. Trong khi đó, ở Venezuela, bất kỳ quá trình chuyển đổi nào sang dân chủ đều sẽ bị làm phức tạp thêm bởi các mạng lưới tội phạm và lực lượng dân quân, những kẻ có thể lấp đầy khoảng trống quyền lực. Ngược lại, Cuba đã duy trì được mức độ tội phạm bạo lực thấp so với tiêu chuẩn khu vực. Căng thẳng xã hội chắc chắn tồn tại — nhưng việc quyền lực nhà nước đột ngột thay đổi sẽ ít có khả năng dẫn đến xung đột vũ trang nội bộ.
Havana cũng sẽ giữ được di sản của một bộ máy nhà nước vận hành tốt. Bất chấp sự sụp đổ kinh tế và di cư hàng loạt đang diễn ra, nước này có năng lực hành chính thực sự trong các lĩnh vực như chăm sóc y tế, giáo dục và quản lý, cùng với tỷ lệ biết chữ gần như tuyệt đối. Những cấu trúc này tuy có suy giảm nhưng chưa biến mất. Theo nghĩa nào đó, Cuba giống với các quốc gia xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu hồi cuối thập niên 1980 — những nước có các hệ thống chính trị cứng nhắc với những thể chế có năng lực đáng ngạc nhiên, mà sau này đã tỏ ra hữu ích trong các quá trình chuyển đổi dân chủ.
Tất cả những điều trên đây không phải là lập luận ủng hộ sự can thiệp của Mỹ — mà hoàn toàn ngược lại. Lịch sử cho thấy rằng áp lực từ bên ngoài hiếm khi tạo ra các kết quả dân chủ, mà thay vào đó thường củng cố các câu chuyện của chính quyền chuyên chế về việc đất nước đang bị bao vây. Chiến lược siết chặt các lệnh trừng phạt đối với Cuba của Mỹ có thể làm trầm trọng thêm những khó khăn mà không hề làm suy yếu đáng kể giới tinh hoa cầm quyền của Cuba. Ngược lại, việc Mỹ áp đặt trừng phạt suốt hàng thập kỷ chỉ làm cho Havana thêm kiên định và trao cho họ một lý do thuận tiện để giải thích cho những thất bại của chính mô hình kinh tế của mình. Việc thay đổi chế độ do nước ngoài kích động cũng sẽ làm hoen ố tính chính danh của một chính phủ Cuba mới, gieo mầm cho một đợt phản kháng trong tương lai.
Lịch sử của chính Cuba là minh chứng rõ nét cho quy luật này. Fidel Castro lên nắm quyền vào năm 1959 nhờ làn sóng phẫn nộ tích tụ suốt hàng thập kỷ do sự chi phối quá mức của Mỹ đối với hòn đảo. Ngày nay, Washington đang đứng trước nguy cơ viết thêm một chương mới cho câu chuyện ấy: Mỹ thống trị áp đảo, theo sau là phản ứng dân tộc chủ nghĩa dữ dội. Trong nỗ lực định hình tương lai của Cuba, Mỹ có thể đang vô tình gieo hạt giống cho một Castro tiếp theo.
Havana mới chỉ bắt đầu công cuộc mở cửa kinh tế mà Trump đã dành nhiều tháng để đòi hỏi. Việc Washington “đút túi” sự nhượng bộ đó trong khi tiếp tục bóp nghẹt hòn đảo sẽ là hành động lãng phí cơ hội cho một quá trình chuyển đổi diễn ra từ từ hơn — nhưng suy cho cùng lại bền vững hơn — sang nền dân chủ. Lựa chọn hợp lý nhất là dỡ bỏ lệnh phong tỏa và nới lỏng các biện pháp trừng phạt đang giáng đòn nặng nề nhất lên người dân Cuba, để nhiên liệu, lương thực và thuốc men có thể đến được hòn đảo, đồng thời giúp Cuba giữ chân được nguồn nhân lực — nền tảng thiết yếu cho quá trình phục hồi của đất nước.
Mỹ sẽ đạt được nhiều lợi ích hơn từ việc gắn kết với Cuba thay vì bao vây hòn đảo, thông qua việc mở rộng thương mại, bãi bỏ Đạo luật Helms-Burton — đạo luật năm 1996 đã đưa lệnh cấm vận Cuba vào luật pháp Mỹ và cấm tổng thống dỡ bỏ nó nếu không có sự chấp thuận của Quốc hội — và thúc đẩy đầu tư cũng như du lịch đến Cuba. Bằng cách để tiến trình thay đổi chính trị diễn ra từ bên trong, bất kỳ nhân vật nào sau này lãnh đạo Cuba cũng sẽ có được tính chính danh đích thực, thay vì bị xem là sản phẩm của sự áp đặt từ nước ngoài.
Dù mục tiêu của Trump ở Cuba là gì, ông nên ngừng kéo dài cuộc khủng hoảng nhân đạo vừa không thể chấp nhận về mặt đạo đức vừa hoàn toàn do con người tạo ra. Lệnh phong tỏa Cuba không chỉ gây tổn hại đến các lợi ích của Mỹ cùng danh tiếng của nước này trên khắp khu vực Mỹ Latinh, mà còn làm giảm đi cơ hội để hòn đảo này trở thành một quốc gia ổn định và thịnh vượng.
Oliver Stuenkel là nghiên cứu viên cấp cao thuộc Chương trình Dân chủ, Xung đột và Quản trị tại Quỹ vì Hòa bình Quốc tế Carnegie ở Washington, D.C., và là giáo sư quan hệ quốc tế tại Quỹ Getulio Vargas ở São Paulo.
