Ai sở hữu ý tưởng? Chuyển giao công nghệ và khoảng cách thương mại hóa

Tác giả: Lê Hồng Hiệp

Xem thêm: Các chương khác trong bản thảo “Vượt ra ngoài gia công” 

Tóm tắt

    • Đạo luật Bayh–Dole năm 1980 chỉ tạo ra một thay đổi pháp lý tưởng chừng rất hạn hẹp: cho phép các trường đại học Mỹ, thay vì chính phủ liên bang, sở hữu các bằng sáng chế hình thành từ nghiên cứu do liên bang tài trợ. Tuy nhiên, liên minh vận động cho đạo luật này cho rằng sự thay đổi đó đã tạo động lực hình thành một bộ máy chuyển giao công nghệ mà đến nay được ước tính đã mang lại tác động kinh tế trị giá 1,3 nghìn tỷ USD và tạo ra hơn 11.000 công ty khởi nghiệp từ các trường đại học. Các nhà sử học kinh tế vẫn tranh luận về mức độ đóng góp trực tiếp của Bayh–Dole vào sự tăng trưởng này, so với vai trò thúc đẩy và chuẩn hóa một xu hướng thương mại hóa vốn đã xuất hiện trước năm 1980. Trong lịch sử, hệ thống khoa học và công nghệ của Việt Nam gần như vận hành theo nguyên tắc mặc định ngược lại: kết quả nghiên cứu do nhà nước tài trợ mặc nhiên được coi là tài sản của nhà nước hoặc thuộc sở hữu không được xác định rõ ràng giữa nhà nước và tổ chức chủ trì. Điều này khiến các nhà nghiên cứu hầu như không có quyền lợi lâu dài đối với sáng chế của mình, vì thế cũng ít có động lực đăng ký bằng sáng chế, chưa nói đến việc thành lập doanh nghiệp dựa trên sáng chế đó.
    • Kinh nghiệm của Hàn Quốc cho thấy việc sao chép khuôn khổ pháp lý của Bayh–Dole không đồng nghĩa với tái tạo được những kết quả mà đạo luật này mang lại. Đạo luật Thúc đẩy Chuyển giao Công nghệ năm 2000 của Hàn Quốc quy định tất cả các trường đại học quốc gia và công lập phải thành lập văn phòng cấp phép công nghệ, được thiết kế có chủ ý theo mô hình của Mỹ. Tuy nhiên, tỷ lệ thương mại hóa công nghệ của Hàn Quốc chỉ đạt khoảng 26%, thấp hơn nhiều so với mức 40,9% của Mỹ và 61% của Vương quốc Anh. Hơn nữa, tỷ lệ này trong những năm gần đây còn giảm thay vì tăng. Hàn Quốc hiện đứng thứ ba thế giới về số lượng bằng sáng chế nhưng vẫn chưa tạo ra được kỳ lân nào bắt nguồn từ trường đại học.
    • Nguyên nhân dẫn đến khoảng cách này của Hàn Quốc vừa cụ thể, vừa mang lại bài học tham khảo quan trọng. Do các chương trình nghiên cứu do chính phủ tài trợ được đánh giá chủ yếu dựa trên số lượng bằng sáng chế, các nhà nghiên cứu và trường đại học Hàn Quốc đã tối ưu hóa hoạt động theo hướng đăng ký bằng sáng chế, thay vì cấp phép hoặc thương mại hóa chúng. Kết quả là một hệ thống dồi dào bằng sáng chế nhưng nghèo nàn về thương mại hóa. Đây là một lời cảnh báo mà Việt Nam cần tiếp thu trước, chứ không phải sau khi xây dựng hạ tầng chuyển giao công nghệ của mình.
    • Chỉ trong thời gian gần đây, Việt Nam mới bắt đầu thay đổi nguyên tắc pháp lý mặc định vốn kìm hãm hoạt động đăng ký sáng chế và thành lập doanh nghiệp spin-off suốt nhiều thập niên. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 trao quyền đăng ký đối với kết quả nghiên cứu do nhà nước tài trợ cho “tổ chức chủ trì” — thường là trường đại học hoặc viện nghiên cứu — tương ứng với tỷ lệ kinh phí do nhà nước cấp. Tuy nhiên, nhà nước vẫn có quyền thu hồi các quyền này nếu tổ chức chủ trì không tiến hành đăng ký. Việc chuyển giao các quyền phát sinh hiện cũng chỉ được phép thực hiện cho các chủ thể Việt Nam. Một đạo luật mới về chuyển giao công nghệ, có hiệu lực từ tháng 4/2026, lần đầu tiên cho phép các nhà nghiên cứu trong khu vực công đầu tư vào và quản lý các doanh nghiệp spin-off được thành lập trên cơ sở chính sáng chế của họ. Đây chính là quyền mà Đạo luật Bayh–Dole trao cho các nhà sáng chế Mỹ vào năm 1980 và Đạo luật Thúc đẩy Chuyển giao Công nghệ trao cho các nhà nghiên cứu Hàn Quốc vào năm 2000.
    • Các trường đại học Việt Nam hiện chỉ chiếm khoảng 4% tổng số bằng sáng chế trong nước, trong khi mỗi năm trên phạm vi cả nước có lẽ chỉ có từ hai mươi đến ba mươi hợp đồng chuyển giao sáng chế hoặc giải pháp hữu ích được thực hiện thành công. Con số này gần như không đáng kể so với hàng nghìn giao dịch cấp phép được thực hiện hằng năm tại Mỹ và Hàn Quốc. Đây là bằng chứng rõ ràng nhất hiện có cho thấy tham vọng của Nghị quyết 57 về việc đưa Việt Nam “từ gia công, lắp ráp sang làm chủ công nghệ lõi” vẫn chưa được hỗ trợ bởi một bộ máy pháp lý và thể chế đủ hiệu quả để hiện thực hóa.
    • Chương này lập luận rằng quyền sở hữu chính là cơ chế pháp lý then chốt kết nối cải cách tự chủ đại học được đề cập trong Chương 7 với các kết quả thương mại trong thực tế. Một trường đại học dù tự chủ, được tài trợ đầy đủ và quản trị tốt, nhưng các nhà nghiên cứu vẫn không thể chắc chắn rằng mình có quyền sở hữu, đăng ký bằng sáng chế và cấp phép cho chính sáng chế của mình, thì cũng chẳng khác nào một động cơ nghiên cứu không có bộ truyền động. Nhiệm vụ của Việt Nam hiện nay là thực hiện đúng cả hai vế của bài học này: sửa đổi nguyên tắc mặc định về quyền sở hữu như Mỹ đã làm, đồng thời tránh cái bẫy trong thiết kế động lực khiến các trường đại học giàu tiềm lực công nghệ của Hàn Quốc không tạo ra được kết quả thương mại tương xứng.

Giới thiệu

Chương 7 lập luận rằng tự chủ đại học là một điều kiện tiên quyết thường bị xem nhẹ – một giả định nền tảng nằm phía sau hầu hết các cải cách được bàn đến trong cuốn sách này, từ quỹ đầu tư mạo hiểm, cơ chế bảo vệ người ra quyết định trước rủi ro pháp lý cho đến các chính sách mua sắm công. Tuy nhiên, trọng tâm của chương không phải là tự chủ đại học nói chung, mà là một cơ chế quyết định liệu một nền tảng nghiên cứu tự chủ và được tài trợ đầy đủ có thực sự tạo ra những tri thức mà doanh nghiệp có thể chuyển hóa thành sản phẩm, hay chỉ tiếp tục gia tăng số lượng công bố khoa học. Cơ chế đó chính là quyền sở hữu: câu hỏi pháp lý về việc ai nắm giữ bằng sáng chế, quyền cấp phép và phần vốn góp khi một nhà nghiên cứu được Nhà nước tài trợ tạo ra một sáng chế có tiềm năng thương mại. So với vấn đề tự chủ đại học, đây là một câu hỏi hẹp hơn và mang tính kỹ thuật hơn, nhưng lại có ý nghĩa gần như quyết định đối với quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Bằng chứng quốc tế về vấn đề này tương đối rõ ràng vì xoay quanh một “thí nghiệm tự nhiên” hiếm hoi đã được ghi nhận đầy đủ. Tuy nhiên, như sẽ phân tích dưới đây, sẽ là sai lầm nếu coi kết quả của thí nghiệm này là bằng chứng cho thấy chỉ riêng chế độ quyền sở hữu có thể giải thích toàn bộ sự thay đổi.

Trước năm 1980, chính phủ liên bang Mỹ nắm quyền sở hữu khoảng 28.000–30.000 bằng sáng chế hình thành từ các nghiên cứu do liên bang tài trợ, nhưng chưa đến 5% trong số đó được cấp phép cho khu vực công nghiệp. Đây là một kho tri thức khổng lồ được tạo ra bằng ngân sách công nhưng hầu như không được khai thác, bởi không có chủ thể nào đồng thời sở hữu quyền pháp lý và động lực thương mại để phát triển chúng.[1]

Tuy nhiên, cũng không nên xem năm 1980 là điểm khởi đầu của hoạt động đăng ký bằng sáng chế tại các trường đại học Mỹ. Ngay từ năm 1968, một số trường đã được phép đăng ký bằng sáng chế đối với các kết quả nghiên cứu do liên bang tài trợ thông qua các Thỏa thuận Bằng sáng chế Thể chế (Institutional Patent Agreements) được đàm phán riêng với Viện Y tế Quốc gia (NIH) và sau đó là Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF). Trong mười hai năm trước khi Đạo luật Bayh–Dole ra đời, số lượng bằng sáng chế của các trường đại học đã tăng khoảng 250%, gần tương đương mức tăng 300% trong giai đoạn sau đó. Điều này cho thấy động lực thương mại hóa nghiên cứu đã xuất hiện từ trước, chứ không hoàn toàn bắt nguồn từ đạo luật.[2]

Điều mà Đạo luật Bayh–Dole năm 1980 thực sự thay đổi là cơ chế phân bổ quyền sở hữu. Thay vì buộc từng trường đại học phải thương lượng riêng với từng cơ quan liên bang để được giữ quyền đối với từng sáng chế, đạo luật thiết lập một nguyên tắc mặc định áp dụng trên toàn liên bang: mọi trường đại học và tổ chức nghiên cứu đủ điều kiện đều được đương nhiên sở hữu các bằng sáng chế phát sinh từ nghiên cứu do liên bang tài trợ. Đổi lại, họ có nghĩa vụ pháp lý phải tích cực theo đuổi việc thương mại hóa các sáng chế đó.[3]

Chỉ trong vòng một thế hệ, sự thay đổi về quyền sở hữu này đã thúc đẩy sự hình thành của cả một hạ tầng hỗ trợ thương mại hóa công nghệ, bao gồm các văn phòng chuyển giao công nghệ trong trường đại học, các quỹ đầu tư mạo hiểm trực thuộc trường và những thông lệ cấp phép được chuẩn hóa. Đây cũng là mô hình mà nhiều quốc gia khác, trong đó có Hàn Quốc, về sau tìm cách học tập. Dù vậy, các nhà kinh tế và lịch sử khoa học vẫn còn tranh luận về mức độ đóng góp trực tiếp của Bayh–Dole. Một số cho rằng đạo luật là động lực tạo ra sự bứt phá, trong khi số khác lập luận rằng nó chủ yếu có tác dụng thúc đẩy và thể chế hóa một xu hướng thương mại hóa vốn đã hình thành từ trước.

Đối với Việt Nam, phép so sánh này có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh hiện nay. Nghị quyết 57-NQ/TW của Tổng Bí thư Tô Lâm xác định mục tiêu đưa Việt Nam “từ gia công, lắp ráp sang làm chủ công nghệ lõi” – một định hướng cũng được các doanh nghiệp công nghệ và truyền thông trong nước sử dụng như cách diễn đạt ngắn gọn cho khát vọng chuyển từ sản xuất theo thiết kế của người khác sang tự thiết kế, làm chủ và sở hữu công nghệ.[4]

Tuy nhiên, chương này lập luận rằng tham vọng đó sẽ khó trở thành hiện thực nếu chưa giải quyết được một vấn đề pháp lý nền tảng mà bản thân Nghị quyết 57 chưa trực tiếp đề cập. Một nhà nghiên cứu, một trường đại học hay một doanh nghiệp không thể thực sự làm chủ công nghệ theo nghĩa kinh tế nếu chế độ sở hữu trí tuệ khiến quyền sở hữu đối với kết quả nghiên cứu vẫn mơ hồ, bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện hoặc mặc nhiên thuộc về Nhà nước – chủ thể thường không trực tiếp nắm bắt thông tin thị trường cũng như không có động lực thương mại để khai thác và cấp phép công nghệ.

Trên cơ sở đó, chương này phân tích cách Mỹ và Hàn Quốc giải quyết vấn đề quyền sở hữu đối với kết quả nghiên cứu được tài trợ bằng ngân sách nhà nước; lý giải vì sao hai quốc gia có khuôn khổ pháp lý tương đối tương đồng nhưng lại đạt được những kết quả rất khác nhau; và xem xét những bài học mà Việt Nam có thể rút ra trong quá trình xây dựng cơ chế sở hữu trí tuệ phục vụ mục tiêu phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Kinh nghiệm quốc tế

Mỹ: Quyền sở hữu là nguyên tắc mặc định, thương mại hóa là nghĩa vụ pháp lý

Thiết kế của Đạo luật Bayh-Dole cần được xem xét chi tiết về mặt kỹ thuật, bởi điều mà các quốc gia đi sau, trong đó có Hàn Quốc, tìm cách học hỏi không chỉ là nguyên tắc cốt lõi của đạo luật mà còn là những cơ chế cụ thể bảo đảm nguyên tắc đó được thực thi. Đạo luật cho phép các trường đại học, doanh nghiệp nhỏ và tổ chức phi lợi nhuận lựa chọn giữ quyền sở hữu đối với các sáng chế được tạo ra từ kinh phí nghiên cứu của liên bang, với điều kiện phải công bố sáng chế cho cơ quan tài trợ, nộp đơn đăng ký bảo hộ trong thời hạn luật định và chia sẻ nguồn thu từ tiền bản quyền với nhà sáng chế.[5] Chính phủ liên bang vẫn giữ quyền sử dụng sáng chế theo giấy phép không độc quyền cho các mục đích của mình, đồng thời duy trì một quyền “can thiệp” (march-in right) như cơ chế dự phòng, cho phép buộc chủ sở hữu cấp phép cho bên thứ ba nếu họ không phát triển hoặc không khai thác sáng chế một cách hợp lý. Cơ chế này nhằm ngăn tình trạng các tổ chức đăng ký bằng sáng chế nhưng không đưa chúng vào sử dụng.[6]

Thay đổi trong quy tắc phân bổ quyền sở hữu này đã nhanh chóng tạo ra những bước ngoặt mang tính thể chế và phần lớn có khả năng tự duy trì. Năm 1980, chỉ khoảng 25–30 trường đại học Mỹ có bộ máy chính thức phụ trách đăng ký và cấp phép bằng sáng chế. Trong khoảng bốn thập niên tiếp theo, số tổ chức tích cực tham gia hoạt động chuyển giao công nghệ tăng gần mười lần. Mỗi tổ chức đều dần hình thành một cấu trúc tương tự, gồm văn phòng chuyên trách đánh giá các bản công bố sáng chế, nộp và theo đuổi đơn đăng ký, đàm phán hợp đồng cấp phép, đồng thời quản lý việc phân chia doanh thu giữa nhà sáng chế, khoa và trường.[7]

Khảo sát mới nhất của Hiệp hội Các nhà Quản lý Công nghệ Đại học (AUTM), thực hiện cho năm tài khóa 2024, cho thấy các trường đại học, bệnh viện và tổ chức nghiên cứu tại Mỹ và Canada báo cáo tổng doanh thu từ cấp phép khoảng 3,8 tỷ USD; riêng trong năm đó đã có gần 800 sản phẩm mới được thương mại hóa và gần 7.000 doanh nghiệp khởi nghiệp đang hoạt động dựa trên các kết quả nghiên cứu có nguồn gốc từ trường đại học. Quy mô của hệ sinh thái này cũng được phản ánh qua việc khảo sát năm 2024 nhận được phản hồi từ 204 trong tổng số 338 tổ chức thành viên được mời tham gia.[8]

Tính lũy kế từ năm 1980, Liên minh Bayh-Dole, tổ chức được thành lập nhằm bảo vệ và thúc đẩy đạo luật, ước tính Bayh-Dole đã tạo ra khoảng 1,3 nghìn tỷ USD giá trị kinh tế, hơn 4,2 triệu việc làm và trên 11.000 doanh nghiệp khởi nghiệp mới. Chương này sử dụng các số liệu đó để minh họa quy mô của hệ sinh thái mà cơ chế quản trị đại học tự chủ đã góp phần hình thành. Tuy nhiên, vì các ước tính này do chính tổ chức vận động cho đạo luật công bố chứ không phải kết quả của một cuộc đánh giá độc lập của chính phủ, chúng nên được xem là ước tính cận trên hợp lý về tác động kinh tế của Bayh-Dole, thay vì một phép đo nhân quả tuyệt đối và hoàn toàn trung lập về phương pháp luận.[9]

Từ góc nhìn của Việt Nam, ưu điểm lớn nhất của mô hình Mỹ nằm ở sự rõ ràng và khả năng tự thực thi của nguyên tắc mặc định về quyền sở hữu. Trước khi bắt đầu một dự án nghiên cứu, nhà khoa học làm việc tại một tổ chức tham gia hệ thống Bayh-Dole đã biết rõ ai sẽ là chủ sở hữu của bằng sáng chế nếu nghiên cứu thành công, bản thân họ sẽ được hưởng tỷ lệ doanh thu cấp phép như thế nào và đơn vị nào sẽ thay mặt họ thực hiện các thủ tục đăng ký cũng như khai thác bằng sáng chế. Chính sự rõ ràng đó loại bỏ kiểu bất định mà Chương 6 đã chỉ ra là một trong những nguyên nhân làm suy giảm động lực chấp nhận rủi ro của các chủ thể tham gia đổi mới sáng tạo ở Việt Nam. Nhà nghiên cứu không cần băn khoăn liệu một phát minh có giá trị sẽ mang lại lợi ích cho mình, cho trường đại học hay chỉ dẫn đến những thủ tục hành chính phức tạp, bởi câu trả lời đã được xác định trước trong luật liên bang và được củng cố qua hơn bốn thập niên thực tiễn.

Mô hình Mỹ cũng không phải không có hạn chế. Tuy nhiên, những hạn chế này hẹp hơn đáng kể so với các ưu điểm của nó và cần được nhìn nhận một cách thẳng thắn. Trong hơn bốn mươi năm kể từ khi Đạo luật Bayh-Dole có hiệu lực, quyền can thiệp – cơ chế được thiết kế để bảo vệ lợi ích công – chưa từng được sử dụng, mặc dù nhiều lần chịu sức ép chính trị, đặc biệt trong các tranh luận về giá thuốc. Một nghiên cứu gần đây cho thấy trong số 883 loại thuốc mới được phê duyệt trong giai đoạn 1985–2022, chỉ có 68 loại liên quan đến bất kỳ bằng sáng chế nào chịu sự điều chỉnh của Bayh-Dole và chỉ 18 loại hoàn toàn phụ thuộc vào những bằng sáng chế đó. Điều này đồng nghĩa với việc, ngay cả khi quyền can thiệp được thực thi, phạm vi áp dụng của nó cũng chỉ giới hạn ở một tỷ lệ rất nhỏ trong số những trường hợp mà các nhóm vận động mong muốn giải quyết.[10]

Viện Y tế Quốc gia (NIH) nhiều lần khẳng định rằng đạo luật không nên được diễn giải theo hướng cho phép can thiệp chỉ vì giá bán sản phẩm ở mức cao. Quan điểm này được tất cả các chính quyền từng xem xét vấn đề, bất kể thuộc Đảng Dân chủ hay Đảng Cộng hòa, duy trì nhất quán. Trên thực tế, cơ chế dự phòng mà chính những người soạn thảo Bayh-Dole đưa vào nhằm ngăn tình trạng bằng sáng chế bị bỏ không hoặc bị khai thác theo cách gây phương hại đến lợi ích công phần lớn chỉ mang ý nghĩa biểu tượng hơn là một công cụ điều tiết thường xuyên. Đối với Việt Nam, bài học không phải là quyền can thiệp không quan trọng, mà là động lực cốt lõi của hệ thống Mỹ – quyền sở hữu rõ ràng kết hợp với nghĩa vụ thương mại hóa theo luật định – đã vận hành đủ hiệu quả để cơ chế dự phòng hiếm khi phải được dùng đến.[11]

Những người chỉ trích Đạo luật Bayh-Dole lại tập trung vào một nhóm vấn đề khác, không phải những vấn đề mà quyền can thiệp được thiết kế để xử lý. Một đánh giá cân bằng về kinh nghiệm của Mỹ cần ghi nhận các quan ngại này. Nhiều học giả và các tổ chức bảo vệ lợi ích công cho rằng việc mở rộng hoạt động đăng ký bằng sáng chế của trường đại học và doanh nghiệp sau Bayh-Dole góp phần hình thành các “bụi rậm bằng sáng chế” (patent thickets) – tức mạng lưới dày đặc các bằng sáng chế chồng lấn có thể kéo dài thời gian độc quyền và làm chậm sự gia nhập của thuốc generic hoặc thuốc sinh học tương tự, ngay cả khi từng bằng sáng chế riêng lẻ không đủ mạnh để tự bảo vệ trước các tranh chấp pháp lý. Một số nhà phê bình khác cho rằng việc ưu tiên cấp phép độc quyền đã khiến những kết quả nghiên cứu được tài trợ bằng ngân sách công được chuyển giao cho khu vực tư nhân theo những điều khoản có lợi cho doanh nghiệp hơn cho chính công chúng – chủ thể đã tài trợ cho nghiên cứu nền tảng.[12]

Việc các trường đại học ngày càng phụ thuộc vào doanh thu từ cấp phép công nghệ và lợi ích tài chính trong các doanh nghiệp spin-off cũng làm dấy lên những lo ngại kéo dài về xung đột lợi ích. Khi nhà khoa học và nhà sáng chế có lợi ích kinh tế trực tiếp, họ có thể gặp khó khăn trong việc dung hòa giữa mục tiêu khoa học và mục tiêu thương mại. Một số học giả còn cho rằng chính hệ thống động lực làm nên thành công của Bayh-Dole cũng có thể dẫn đến tình trạng “lệch sứ mệnh” ở cấp độ thể chế, khi các trường đại học ngày càng ưu tiên những hướng nghiên cứu có khả năng thương mại hóa hoặc đăng ký bằng sáng chế hơn là nghiên cứu cơ bản.

Tuy nhiên, những phê phán này không làm suy yếu lập luận so sánh cốt lõi của chương. Hệ thống văn phòng chuyển giao công nghệ (Technology Licensing Office – TLO) của Hàn Quốc được xây dựng trên một nền tảng pháp lý rất gần với mô hình của Mỹ nhưng lại không tạo ra kết quả thương mại hóa tương xứng. Điều đó cho thấy quyền sở hữu rõ ràng tuy là điều kiện cần nhưng chưa phải điều kiện đủ.

Đối với Việt Nam, bài học không phải là tránh cải cách quyền sở hữu vì lo ngại các hệ quả ngoài ý muốn, mà là dự liệu trước những căng thẳng đó trong quá trình thiết kế thể chế. Một khi các trường đại học và nhà nghiên cứu Việt Nam bắt đầu đăng ký và khai thác sáng chế ở quy mô lớn, những vấn đề tương tự nhiều khả năng cũng sẽ xuất hiện. Khi đó, chúng cần được coi là những thách thức tất yếu của một hệ thống đang vận hành hiệu quả, chứ không phải là bằng chứng phủ nhận bản thân cải cách về quyền sở hữu.

Hàn Quốc: Sao chép thể chế nhưng không sao chép được kết quả

Đối với Việt Nam, Hàn Quốc đem lại một đối tượng so sánh mà Đức và Mỹ trong các chương trước không thể cung cấp: một quốc gia chủ động sao chép kiến trúc thể chế của Bayh-Dole, đạt được những kết quả có thể đo lường nhưng vẫn kém xa Mỹ. Vì vậy, đây không chỉ là một ví dụ thành công thứ hai mà còn là một câu chuyện cảnh báo. Đạo luật Thúc đẩy Chuyển giao Công nghệ, được ban hành tháng 1/2000 và sau đó được hợp nhất vào Đạo luật Thúc đẩy Chuyển giao và Thương mại hóa Công nghệ năm 2006, yêu cầu các trường đại học quốc gia và công lập thành lập các văn phòng cấp phép công nghệ theo mô hình văn phòng chuyển giao công nghệ (TLO) của Mỹ. Sau đó, Chính phủ Hàn Quốc tiếp tục bổ sung nhiều tầng hỗ trợ, trong đó có chương trình chuyên biệt của Quỹ Nghiên cứu Quốc gia Hàn Quốc nhằm nâng cao năng lực của các TLO tại những trường đại học địa phương yếu hơn.[13]

Những kết quả đạt được không hề nhỏ. Các trường đại học hàng đầu của Hàn Quốc đã xây dựng được hoạt động cấp phép công nghệ vận hành hiệu quả. Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Hàn Quốc (KAIST) là đại học nghiên cứu đầu tiên của Hàn Quốc thu về hơn 10 tỷ won tiền bản quyền công nghệ trong một năm từ 56 hợp đồng chuyển giao công nghệ; Đại học Quốc gia Seoul theo sau với khoảng 8,8 tỷ won từ 87 hợp đồng; còn Đại học Korea đạt 5,4 tỷ won từ số lượng hợp đồng lớn hơn nhưng có quy mô nhỏ hơn.[14]

Đây là những khoản doanh thu đáng kể, cho thấy một hệ thống TLO được luật hóa và được Nhà nước hỗ trợ hoàn toàn có thể tạo ra nguồn thu thực chất chỉ trong khoảng hai thập niên sau cải cách. Đối với Việt Nam, đây là bằng chứng đáng để cân nhắc trước bất kỳ quan điểm nào cho rằng mô hình TLO không phù hợp với một hệ thống đổi mới sáng tạo theo định hướng nhà nước ở Đông Á.

Tuy nhiên, bức tranh ở cấp độ toàn hệ thống lại kém khả quan hơn nhiều. Chính khoảng cách giữa thành công của một số tổ chức với hiệu quả chung của cả hệ thống khiến kinh nghiệm Hàn Quốc đặc biệt có giá trị đối với Việt Nam. Theo số liệu chính thức, tỷ lệ thương mại hóa công nghệ của Hàn Quốc – được định nghĩa là tỷ lệ công nghệ đã chuyển giao sau đó thực sự tạo ra doanh thu – chỉ đạt khoảng 26%, thấp hơn đáng kể so với mức 40,9% của Mỹ và 61% của Vương quốc Anh. Đáng chú ý, thay vì dần thu hẹp khoảng cách với các nước này, tỷ lệ thương mại hóa của Hàn Quốc lại giảm từ 26,6% năm 2019 xuống còn 19,2% năm 2023.[15]

Tuy nhiên, cần thận trọng khi so sánh trực tiếp các con số này. Các quốc gia không sử dụng cùng một định nghĩa về “thương mại hóa”, “chuyển giao công nghệ” hay “thành công trong cấp phép”. Phần lớn các nghiên cứu so sánh quốc tế đều dựa trên số liệu tự báo cáo của từng nước chứ không theo một chuẩn thống kê thống nhất. Vì vậy, dù khoảng cách giữa Hàn Quốc, Mỹ và Vương quốc Anh đã được nhiều nghiên cứu độc lập xác nhận, mức chênh lệch cụ thể về tỷ lệ phần trăm chỉ nên được xem là một chỉ dấu, chứ không phải một phép đo tuyệt đối.[16]

Báo chí Hàn Quốc từng tóm lược nghịch lý này bằng một nhận định khá sắc sảo: Hàn Quốc hiện đứng thứ ba thế giới về số lượng bằng sáng chế nhưng vẫn chưa tạo ra được một kỳ lân nào có nguồn gốc từ trường đại học. Nhận định này phản ánh khoảng cách đáng kể giữa năng lực tạo ra bằng sáng chế và khả năng thương mại hóa chúng – một khoảng cách mà hệ thống của Mỹ, dù cũng tồn tại nhiều hạn chế, không bộc lộ ở quy mô tương tự.[17]

Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu từ đó kết luận rằng mô hình hợp tác đại học – doanh nghiệp của Hàn Quốc nhìn chung thất bại. Các số liệu về tỷ lệ thương mại hóa chỉ phản ánh một nút thắt cụ thể chứ không đại diện cho toàn bộ hệ thống đổi mới sáng tạo. Trên hầu hết các phương diện khác, các trường đại học Hàn Quốc vẫn là một câu chuyện thành công nổi bật. KAIST và Đại học Quốc gia Seoul đều nằm trong nhóm các cơ sở nghiên cứu hàng đầu thế giới; các viện nghiên cứu công đã chuyển giao hàng nghìn công nghệ cho doanh nghiệp; còn các tập đoàn như Samsung, LG và Hyundai phát triển dựa trên nhiều thập niên hợp tác chặt chẽ với các trường đại học và viện nghiên cứu. Trường hợp POSCO, với vai trò trực tiếp của viện nghiên cứu và trường đại học của tập đoàn trong sự phát triển của ngành thép Hàn Quốc, sẽ được phân tích chi tiết ở Chương 9.

Vì vậy, cách khái quát chính xác nhất – đồng thời cũng hữu ích nhất đối với Việt Nam – không phải là cho rằng hệ thống của Hàn Quốc thất bại, mà là hệ thống này đã thành công trong việc xây dựng năng lực khoa học – công nghệ và gia tăng số lượng bằng sáng chế, nhưng chưa chuyển hóa được những thành quả đó thành các sản phẩm thương mại và doanh thu từ cấp phép với hiệu quả tương đương hệ thống của Mỹ.

Một bài học khác từ Hàn Quốc là hiệu quả của các TLO khác nhau rất lớn giữa các trường đại học, ngay cả khi cùng hoạt động trong một khuôn khổ pháp lý thống nhất. Thực tế này cũng tồn tại ở Mỹ nhưng thường bị che khuất bởi các số liệu bình quân toàn quốc. Một khảo sát về các TLO của Mỹ cho thấy hơn một nửa số văn phòng bị thua lỗ trong hoạt động đăng ký và cấp phép sáng chế, chỉ khoảng 16% đạt được tự chủ tài chính hoàn toàn, trong khi phần lớn doanh thu tập trung vào một số rất ít tổ chức.[18] Khoảng cách giữa doanh thu bản quyền cao của KAIST và Đại học Quốc gia Seoul với tỷ lệ thương mại hóa bình quân khá thấp của cả Hàn Quốc phản ánh đúng xu hướng đó.

Đối với Việt Nam, bài học rút ra là việc bắt buộc tất cả các trường đại học thành lập TLO không đồng nghĩa với việc các văn phòng này sẽ hoạt động hiệu quả hoặc sớm đạt được tự chủ tài chính. Một chính sách thực tế cần chấp nhận rằng chỉ một số ít trường đại học có thể thành công trong giai đoạn đầu, trong khi phần lớn các tổ chức khác sẽ cần nhiều thời gian hơn để tích lũy năng lực, thậm chí có thể không bao giờ đạt được kết quả tương tự.

Để hiểu rõ hơn vì sao Hàn Quốc chưa đạt được kết quả như Mỹ, cần nhìn vào cơ chế vận hành của hệ thống. Đây cũng là phần kinh nghiệm có giá trị tham khảo trực tiếp nhất đối với Việt Nam. Khoảng ba phần tư kinh phí nghiên cứu tại các trường đại học Hàn Quốc đến từ ngân sách nhà nước. Việc phân bổ và đánh giá nguồn kinh phí này chủ yếu dựa trên các chỉ số về số lượng bằng sáng chế. Hệ quả là các nhà nghiên cứu, lãnh đạo trường đại học và ngay cả các TLO – vốn được thành lập để thúc đẩy thương mại hóa – đều có động lực tối đa hóa số lượng bằng sáng chế được đăng ký, thay vì số bằng sáng chế thực sự được cấp phép và đưa ra thị trường.[19]

Trong bối cảnh đó, bằng sáng chế trước hết trở thành một chỉ số đánh giá thành tích nghiên cứu, còn chức năng của một tài sản thương mại chỉ là thứ yếu. Đây là điểm khác biệt căn bản so với mô hình Bayh-Dole của Mỹ, nơi cơ chế chia sẻ doanh thu khiến một bằng sáng chế không được cấp phép sẽ không mang lại lợi ích cho bất kỳ chủ thể nào và vì vậy nhanh chóng mất đi sự quan tâm của cả nhà nghiên cứu lẫn tổ chức chủ quản.

Bên cạnh đó, ngay trong các tài liệu chính sách của Hàn Quốc cũng thừa nhận rằng nhiều viện nghiên cứu công còn thiếu những năng lực thiết yếu để thương mại hóa công nghệ, như phân tích thị trường, định giá tài sản trí tuệ, đàm phán cấp phép và phát triển kinh doanh. Khoảng trống về năng lực này khác với vấn đề động lực thể chế, nhưng lại làm cho những hạn chế của hệ thống càng trở nên trầm trọng hơn.[20]

Quyền sở hữu là cần thiết, nhưng động lực không tự xuất hiện

Khi đặt cạnh nhau, kinh nghiệm của Mỹ và Hàn Quốc đem lại cho Việt Nam một bài học gồm hai vế riêng biệt. Luận điểm trung tâm của chương này là cải cách của Việt Nam phải xử lý đúng cả hai vế, thay vì coi vế thứ nhất là đủ.

Việc một chủ thể cụ thể nắm giữ bằng sáng chế, đồng thời có cả tư cách pháp lý lẫn năng lực thực tế để cấp phép, là điều kiện tiên quyết để bất kỳ hệ thống chuyển giao công nghệ nào có thể vận hành hiệu quả. Cả hệ thống của Mỹ lẫn Hàn Quốc đều không thể tồn tại nếu thiếu điều kiện này. Tuy nhiên, như phần tiếp theo sẽ cho thấy, ngay cả sau cải cách pháp lý năm 2022, Việt Nam vẫn chưa thiết lập đầy đủ điều kiện tiên quyết đó.

Vế thứ hai là bài học mà kinh nghiệm Hàn Quốc bổ sung. Việc xác lập đúng nguyên tắc mặc định về quyền sở hữu vẫn chưa đủ nếu hệ thống đánh giá thành tích và phân bổ tài trợ xung quanh nó khuyến khích những hành vi khác với mục tiêu mà cải cách quyền sở hữu hướng tới. Hàn Quốc sao chép khá sát kiến trúc pháp lý của Bayh-Dole: bắt buộc thành lập TLO, trao quyền sở hữu bằng sáng chế cho trường đại học và cung cấp hỗ trợ của chính phủ để xây dựng năng lực. Tuy nhiên, hệ thống này vẫn tạo ra số lượng lớn bằng sáng chế mà không đạt được kết quả thương mại tương xứng, bởi các chỉ số chi phối sự nghiệp của nhà nghiên cứu và nguồn tài trợ của tổ chức vẫn coi trọng việc đăng ký bằng sáng chế hơn việc cấp phép.

Nói cách khác, các nhà hoạch định chính sách Việt Nam không thể chỉ sao chép quy tắc sở hữu của Bayh-Dole rồi mặc nhiên cho rằng phần còn lại của hệ thống sẽ tự hình thành. Họ còn phải bảo đảm rằng các cơ chế đánh giá thành tích mà Bộ Khoa học và Công nghệ sử dụng để cấp kinh phí và đánh giá trường đại học cũng như nhà nghiên cứu phải tưởng thưởng cụ thể cho hoạt động thương mại hóa thành công, thay vì chỉ dựa vào số lượng bằng sáng chế, công bố khoa học hoặc các chỉ số đầu ra  nghiên cứu rộng hơn mà Chương 7 đã chỉ ra là đang chi phối việc đánh giá các trường đại học Việt Nam trong bối cảnh xếp hạng toàn cầu.

Quyền sở hữu sáng chế không phải là nút thắt duy nhất giữa nghiên cứu khoa học và sản phẩm thương mại ở Việt Nam. Ngay cả khi một nhà nghiên cứu Việt Nam sở hữu đầy đủ bằng sáng chế và được đặt trong một hệ thống động lực thuận lợi cho việc cấp phép, quá trình thương mại hóa vẫn đòi hỏi một doanh nhân sẵn sàng xây dựng doanh nghiệp dựa trên sáng chế đó; các nhà đầu tư sẵn sàng tài trợ cho doanh nghiệp trong nhiều năm trước khi tạo ra doanh thu; một đội ngũ quản lý có kinh nghiệm; những khách hàng sẵn sàng mua sản phẩm; và, đối với mọi sản phẩm vật chất, năng lực sản xuất cùng một môi trường pháp lý cho phép đưa sản phẩm ra thị trường.

Tuy nhiên, quyền sở hữu được lựa chọn làm trọng tâm của chương này vì đây là khoảng trống cụ thể mà hệ thống pháp luật Việt Nam mới chỉ bắt đầu thu hẹp trong thời gian gần đây, đồng thời có liên hệ trực tiếp với luận điểm về tự chủ đại học trong Chương 7, chứ không phải vì đây là khoảng trống duy nhất.

Cũng cần lưu ý rằng một bằng sáng chế không bao giờ được cấp phép chưa hẳn hoàn toàn vô giá trị. Bằng sáng chế còn thực hiện chức năng công bố, góp phần bổ sung vào kho tri thức kỹ thuật chung; chức năng phát tín hiệu, qua đó có thể thu hút nhà đầu tư hoặc đối tác liên doanh ngay cả trước khi hợp đồng cấp phép được ký kết; và chức năng phòng vệ, giúp bảo vệ quyền tự do hoạt động của doanh nghiệp trong những lĩnh vực công nghệ có mật độ bằng sáng chế cao. Trạng thái nhiều bằng sáng chế nhưng ít hoạt động cấp phép của Hàn Quốc là một vấn đề thực sự nếu mục tiêu cụ thể là xây dựng một đường ống thương mại hóa theo mô hình Bayh-Dole. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa các bằng sáng chế của Hàn Quốc hoàn toàn không có giá trị.

Các nghiên cứu về “đại học khởi nghiệp” cho thấy các điều kiện quản trị nội bộ — như một trung tâm chỉ đạo mạnh, cơ sở tài trợ đa dạng và văn hóa khởi nghiệp — giúp trường đại học có khả năng hành động theo tinh thần khởi nghiệp, thì “hệ thống đường ống” pháp lý cụ thể, tức chế độ sở hữu trí tuệ, giúp kết nối trường đại học khởi nghiệp đó với thị trường. Mô hình “ba vòng xoắn” của Etzkowitz và Loet Leydesdorff, được phát triển trong thập niên 1990, diễn giải cùng động lực này như một tập hợp luôn biến đổi của các mối quan hệ chồng lấn giữa trường đại học, doanh nghiệp và chính phủ. Theo mô hình này, các trường đại học ngày càng đảm nhận vai trò trực tiếp trong việc ươm tạo doanh nghiệp công nghệ, thay vì chỉ giới hạn ở giảng dạy và nghiên cứu cơ bản; doanh nghiệp ngày càng sử dụng trực tiếp nghiên cứu đại học như một đầu vào cho hoạt động sản xuất, thay vì coi đó là một lĩnh vực tách biệt; còn chính phủ không chỉ đóng vai trò cơ quan quản lý từ xa mà ngày càng trở thành một nhà khởi nghiệp công và một nhà tài trợ theo logic đầu tư mạo hiểm cho các công nghệ giai đoạn đầu.[21]

Đối chiếu với khuôn khổ này, các cải cách của Việt Nam trong các năm 2022 và 2025 nên được hiểu là nỗ lực xây dựng một bản lề pháp lý cụ thể — quyền sở hữu trí tuệ của trường đại học — mà mô hình ba vòng xoắn coi là điều kiện tiên quyết để góc trường đại học trong tam giác có thể vận hành hiệu quả. Vấn đề tự chủ đại học được xem xét trong Chương 7, cùng với các vấn đề về quan hệ đối tác doanh nghiệp và tài trợ của chính phủ được phân tích ở các chương khác, tạo thành hai góc còn lại. Thành công của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào việc cả ba cùng phát triển hài hòa, chứ không chỉ vào cải cách quyền sở hữu riêng lẻ.

Bối cảnh Việt Nam

Quyền sở hữu làm suy giảm động lực xác lập quyền sở hữu

Trong lịch sử, khuôn khổ sở hữu trí tuệ của Việt Nam đối với các kết quả nghiên cứu do Nhà nước tài trợ vận hành gần với nguyên tắc mặc định của Mỹ trước năm 1980. Các kết quả phát sinh từ nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước chịu sự điều chỉnh của một cơ chế trong đó quyền của Nhà nước rất mạnh, còn quyền của cá nhân nhà nghiên cứu hoặc tổ chức chủ trì lại tương đối yếu và thiếu rõ ràng về pháp lý. Vì vậy, không chủ thể nào có động lực đủ lớn để gánh chịu chi phí và công sức đăng ký bảo hộ sáng chế.[22]

Những con số phản ánh kết quả của cơ chế này rất đáng chú ý. Các trường đại học Việt Nam hiện chỉ chiếm khoảng 4% tổng số bằng độc quyền sáng chế và giải pháp hữu ích trong nước — một tỷ lệ thấp đáng kinh ngạc đối với nhóm tổ chức mà, như phân tích ở Chương 7, là nơi thực hiện phần lớn hoạt động nghiên cứu cơ bản và ứng dụng được Nhà nước tài trợ. Mỗi năm, trên phạm vi cả nước, Việt Nam chỉ ghi nhận khoảng 20–30 hợp đồng chuyển giao sáng chế hoặc giải pháp hữu ích thành công. Quy mô này nhỏ đến mức khó có thể coi là một thị trường thực sự vận hành, mà chỉ là một số ít giao dịch riêng lẻ.[23]

Bên cạnh đó, phần lớn các trường đại học Việt Nam vẫn chưa có văn phòng chuyển giao công nghệ chuyên trách. Điều này đồng nghĩa với việc ngay cả khi một nhà nghiên cứu có động lực đăng ký và cấp phép sáng chế, họ thường cũng không có bộ máy thể chế cần thiết để hỗ trợ quá trình đó.[24]

Hoạt động đăng ký sáng chế nói chung ở Việt Nam càng cho thấy năng lực sáng tạo trong nước vẫn còn mỏng so với tham vọng quốc gia. Trong số 9.904 đơn đăng ký sáng chế được nộp tại Việt Nam năm 2024 — mức cao kỷ lục — chỉ có 1.226 đơn, tương đương khoảng 12%, do các chủ đơn Việt Nam nộp. 88% còn lại thuộc về các công ty nước ngoài đăng ký nhằm bảo hộ sáng chế của chính họ tại thị trường Việt Nam.[25]

Cải cách 2022–2023: Quyền sở hữu có điều kiện, vẫn chưa hoàn thiện

Quốc hội Việt Nam thực hiện bước đi nghiêm túc đầu tiên nhằm giải quyết tình trạng mơ hồ này thông qua Luật số 07/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực từ ngày 01/01/2023. Luật sửa đổi bổ sung Điều 86a, theo đó tự động trao quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và thiết kế bố trí phát sinh từ nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước cho “tổ chức chủ trì” — thường là trường đại học, viện nghiên cứu hoặc doanh nghiệp chính thức chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ — tương ứng với tỷ lệ kinh phí nhà nước, mà không yêu cầu tổ chức này phải hoàn trả ngân sách để được giao quyền.[26]

Về bản chất, đây là phiên bản chuyển giao quyền sở hữu theo tinh thần Bayh-Dole của Việt Nam: quyền đăng ký mặc định được chuyển từ Nhà nước sang tổ chức trực tiếp tạo ra sáng chế. Đồng thời, luật sửa đổi cũng xử lý một nguồn tranh chấp kéo dài khi quy định rằng, nếu không có thỏa thuận riêng, nhà sáng chế được hưởng mức thù lao bằng 10% lợi nhuận trước thuế thu được từ việc sử dụng sáng chế hoặc 15% tổng số tiền trước thuế thu được từ hoạt động chuyển giao. Đây là một cơ chế chia sẻ doanh thu cụ thể được luật hóa, tương đồng về tinh thần với khoản chi trả cho cá nhân nhà sáng chế — yếu tố góp phần làm cho cơ cấu động lực của hệ thống Bayh-Dole tại Mỹ có khả năng tự duy trì.[27]

Tuy nhiên, cải cách năm 2022 vẫn còn cách khá xa một nguyên tắc mặc định rõ ràng theo kiểu Bayh-Dole ở hai phương diện mà chương này cho là có hệ quả trực tiếp.

Thứ nhất, Điều 133a bảo lưu quyền của Nhà nước thu hồi quyền đăng ký nếu tổ chức chủ trì không tiến hành đăng ký sáng chế trong thời hạn quy định. Đây là một biện pháp bảo đảm hợp lý nhằm ngăn tổ chức chủ trì để một sáng chế có giá trị rơi vào tình trạng không được khai thác. Tuy nhiên, quy định này lại tái tạo chính loại bất định mà một nguyên tắc sở hữu rõ ràng lẽ ra phải loại bỏ. Một nhà quản lý đại học Việt Nam khi quyết định có nên đầu tư nguồn lực của trường để đăng ký bảo hộ sáng chế vẫn phải tính đến khả năng quyền phát sinh sẽ bị trả lại cho Nhà nước chỉ vì không đáp ứng đúng thời hạn, dù mức độ chậm trễ có thể rất nhỏ.

Thứ hai, Điều 139.6 chỉ cho phép chuyển giao các quyền sở hữu trí tuệ có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước cho tổ chức Việt Nam hoặc công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam. Hạn chế này không tồn tại trong hệ thống của Mỹ hoặc Hàn Quốc và trực tiếp cản trở các giao dịch cấp phép cũng như mua lại xuyên biên giới — những giao dịch từng tạo nên một số thương vụ đơn lẻ lớn nhất trong lịch sử chuyển giao công nghệ của cả hai nước kể trên, từ cấp phép dược phẩm đến hợp tác thiết kế chất bán dẫn.[28]

Cần lưu ý thêm một thay đổi về kỹ thuật lập pháp sau sửa đổi năm 2022, bởi chi tiết này rất dễ bị bỏ sót. Từ ngày 01/10/2025, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 chính thức bãi bỏ các Điều 86a, 133a và 139.6 của Luật Sở hữu trí tuệ, đồng thời chuyển nội dung của các quy định này sang khuôn khổ riêng của luật mới về kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước.

Các nhà bình luận pháp lý Việt Nam nhìn chung mô tả đây là sự hợp nhất về mặt lập pháp hơn là sự đảo ngược về nội dung. Nguyên tắc mặc định trao quyền sở hữu cho tổ chức chủ trì, quyền thu hồi của Nhà nước và hạn chế chuyển giao quyền ra ngoài Việt Nam dường như phần lớn vẫn được duy trì. Tuy nhiên, điều đó có nghĩa là vào thời điểm cuốn sách được xuất bản, căn cứ pháp lý có hiệu lực đối với các quy định này là Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, chứ không còn là các điều khoản trong Luật Sở hữu trí tuệ — nơi các quy định này lần đầu được đưa vào và vẫn thường được viện dẫn. Các khuyến nghị chính sách dưới đây đã tính đến sự phân biệt này.[29]

“Làm chủ công nghệ” trong Nghị quyết 57 và vì sao quyền sở hữu là mắt xích then chốt

Ngôn ngữ của Nghị quyết 57 đề cập trực diện vấn đề này theo một cách hiếm thấy, dù bản thân nghị quyết chưa giải quyết câu hỏi pháp lý nền tảng. Khi viện dẫn nghị quyết, nhiều lãnh đạo doanh nghiệp công nghệ Việt Nam đã nhấn mạnh nhiệm vụ của đất nước là chuyển từ mô hình gia công, lắp ráp sang “làm chủ công nghệ” lõi. Chủ tịch FPT Trương Gia Bình là một trong những người thể hiện quan điểm này rõ nhất khi cho rằng các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam phải tự làm chủ công nghệ lõi, thay vì tiếp tục lắp ráp và tích hợp những công nghệ được thiết kế ở nơi khác.[30]

Khái niệm “làm chủ công nghệ” chỉ có thể trở thành hiện thực nếu đáp ứng một điều kiện tiên quyết về pháp lý mà các cuộc thảo luận xung quanh Nghị quyết 57 hiếm khi đề cập. Một nhà sáng chế, trường đại học hay doanh nghiệp không thể làm chủ công nghệ theo bất kỳ nghĩa thương mại thực chất nào nếu hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ vẫn khiến quyền sở hữu mang tính điều kiện, có thể bị Nhà nước thu hồi hoặc bị hạn chế tham gia vào chính những giao dịch xuyên biên giới — như cấp phép, liên doanh hay hợp tác chia sẻ công nghệ — vốn là con đường chủ yếu để các công nghệ có giá trị được phát triển, hoàn thiện và mở rộng quy mô.

Nếu Chương 7 lập luận rằng tự chủ đại học là điều kiện tiên quyết nhưng thường bị bỏ qua của chương trình đổi mới sáng tạo ở Việt Nam, thì chương này cho rằng quyền sở hữu trí tuệ rõ ràng chính là cơ chế pháp lý quyết định liệu nền tảng nghiên cứu tự chủ đó, sau khi được hình thành, có thực sự tạo ra những tài sản công nghệ mà doanh nghiệp và Nhà nước Việt Nam có thể coi là của mình hay không.

Cải cách năm 2025: Cuối cùng đã cho phép thành lập doanh nghiệp spin-off, nhưng vẫn cần được kiểm chứng

Diễn biến quan trọng nhất trực tiếp giải quyết khoảng trống này chỉ xuất hiện gần đây. Luật Chuyển giao công nghệ số 115/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 và có hiệu lực từ ngày 01/04/2026, sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017 theo hướng lần đầu tiên cho phép các nhà nghiên cứu trong khu vực công và cán bộ quản lý tại các tổ chức nghiên cứu và phát triển thuộc sở hữu nhà nước đầu tư vào, đồng thời trực tiếp quản lý, các doanh nghiệp spin-off được hình thành từ chính kết quả nghiên cứu của mình.[31]

Xét về chức năng, đây chính là quyền mà Đạo luật Bayh-Dole trao cho các nhà sáng chế trong trường đại học ở Mỹ từ năm 1980 và Đạo luật Thúc đẩy Chuyển giao Công nghệ trao cho các nhà nghiên cứu Hàn Quốc từ năm 2000. Việt Nam chỉ tiếp cận cơ chế này muộn hơn lần lượt khoảng 46 năm và 26 năm.

Ở cấp địa phương, Nghị định 271/2025 đã bắt đầu thí điểm cơ chế thực hiện, quy định cách các trường đại học và viện nghiên cứu trên địa bàn thành phố có thể thành lập, tham gia thành lập hoặc góp vốn vào các doanh nghiệp được tạo ra để thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Đồng thời, một sửa đổi khác của Luật Sở hữu trí tuệ, cũng có hiệu lực từ tháng 4/2026, mở rộng các phương thức khai thác thương mại tài sản trí tuệ được pháp luật công nhận, trong đó có việc sử dụng chính quyền sở hữu trí tuệ như một hình thức góp vốn vào doanh nghiệp mới.[32]

Xét riêng về nội dung, các cải cách này đã khép lại phần lớn khoảng trống về quyền sở hữu mà chương đã xác định. Tuy nhiên, điều chúng chưa giải quyết — và cũng là bài học mà kinh nghiệm Hàn Quốc cho thấy Việt Nam cần lưu ý ngay từ đầu — là vấn đề năng lực thể chế và sự đồng bộ của hệ thống động lực, những yếu tố quyết định liệu một quyền pháp lý có thực sự được chuyển hóa thành kết quả thương mại hay không.

Phần lớn các trường đại học Việt Nam vẫn chưa có văn phòng chuyển giao công nghệ; Việt Nam cũng chưa hình thành được đội ngũ chuyên nghiệp gồm luật sư sáng chế và chuyên gia cấp phép có trình độ tương đương với những gì Mỹ đã xây dựng trong hơn bốn thập niên và Hàn Quốc đã đầu tư trong hơn hai thập niên. Quan trọng hơn, từ bài học của Hàn Quốc, hiện vẫn chưa có dấu hiệu rõ ràng cho thấy hệ thống tài trợ và đánh giá thành tích nghiên cứu của Việt Nam sẽ thực sự tưởng thưởng hoạt động cấp phép công nghệ hoặc thành lập doanh nghiệp spin-off, thay vì tiếp tục chủ yếu dựa vào số lượng bằng sáng chế đăng ký hoặc bài báo khoa học được công bố.

Nói cách khác, Việt Nam đang cố gắng rút ngắn còn vài năm một quá trình phát triển thể chế mà Mỹ và Hàn Quốc đều phải mất hàng chục năm để xây dựng, trong khi vẫn chưa giải quyết câu hỏi quan trọng nhất về thiết kế động lực — yếu tố giải thích vì sao Hàn Quốc có thể tạo ra rất nhiều bằng sáng chế nhưng vẫn không đạt được hiệu quả thương mại hóa tương đương mô hình Mỹ.

Cũng như cải cách năm 2022, trọng tâm của cải cách năm 2025 chủ yếu vẫn nằm ở cấp tổ chức: tổ chức nào sở hữu sáng chế và tổ chức nào được nắm giữ phần vốn trong doanh nghiệp spin-off. Trong khi đó, các động lực ở cấp cá nhân — yếu tố quyết định liệu một nhà nghiên cứu cụ thể có lựa chọn theo đuổi con đường đăng ký sáng chế và thương mại hóa thay vì tiếp tục tập trung vào công bố khoa học — lại được đề cập khá hạn chế.

Kinh nghiệm của cả Mỹ và Hàn Quốc đều cho thấy thiết kế động lực ở cấp cá nhân quan trọng không kém quyền sở hữu ở cấp tổ chức. Tại Mỹ, nhiều trường đại học coi bằng sáng chế, hợp đồng cấp phép và việc thành lập doanh nghiệp spin-off là những thành tích học thuật chính đáng khi xem xét bổ nhiệm lâu dài hoặc thăng chức, bên cạnh các công bố khoa học. Nhiều trường còn cho phép giảng viên là nhà sáng chế nghỉ phép để điều hành doanh nghiệp spin-off mà vẫn giữ vị trí học thuật, đồng thời xây dựng — dù chưa hoàn toàn hoàn thiện — các quy trình công bố và quản lý xung đột lợi ích để nhà nghiên cứu có thể vừa nắm giữ cổ phần trong doanh nghiệp dựa trên chính sáng chế của mình, vừa duy trì tư cách của một nhà khoa học độc lập và đáng tin cậy.

Trong khi đó, hệ thống đánh giá và thăng tiến học thuật của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa trên số lượng công bố và các văn bằng chính thức, chưa coi hoạt động đăng ký sáng chế hay thương mại hóa kết quả nghiên cứu là những thành tích có giá trị tương đương. Các trường đại học cũng chưa xây dựng được cơ chế nghỉ phép hay khuôn khổ quản lý xung đột lợi ích để giảng viên có thể linh hoạt chuyển đổi giữa vai trò học thuật và vai trò doanh nhân.

Vì vậy, việc xác lập đúng quyền sở hữu ở cấp tổ chức — như các cải cách năm 2022 và 2025 đã bắt đầu thực hiện — tự thân sẽ không làm thay đổi lựa chọn của từng nhà nghiên cứu, nếu các hội đồng xét thăng tiến, trưởng khoa và lãnh đạo trường vẫn chưa coi một bằng sáng chế được cấp phép thành công hoặc một doanh nghiệp spin-off phát triển bền vững là bằng chứng của thành tựu học thuật, thay vì xem đó là sự sao nhãng đối với hoạt động nghiên cứu.

Các nhà hoạch định chính sách Việt Nam cũng cần nhìn nhận kinh nghiệm quốc tế về doanh nghiệp spin-off như một nguồn rủi ro thực thi cần được dự liệu ngay từ đầu, thay vì chỉ xử lý sau khi vấn đề phát sinh. Những quốc gia sớm cho phép các nhà nghiên cứu đại học nắm giữ cổ phần và trực tiếp điều hành doanh nghiệp spin-off đều phải xây dựng — phần lớn là sau khi đã xuất hiện vướng mắc trong thực tiễn — các quy định về quản lý xung đột lợi ích của giảng viên; việc sử dụng nguồn lực của trường, như phòng thí nghiệm, thiết bị nghiên cứu hay lao động của học viên sau đại học, cho doanh nghiệp tư nhân của người sáng lập; quản trị phần vốn góp của chính trường đại học khi doanh nghiệp bắt đầu tạo doanh thu; định giá công bằng tài sản trí tuệ được dùng để góp vốn; cũng như các quy định về mua sắm công nhằm ngăn doanh nghiệp spin-off được ưu ái trong các hợp đồng với trường đại học hoặc các cơ quan nhà nước có liên quan.

Việc triển khai thí điểm theo Nghị định 271/2025 tạo cơ hội đầu tiên để Việt Nam đưa những cơ chế bảo đảm này vào hệ thống ngay từ đầu, thay vì chỉ bổ sung sau khi xảy ra những vụ việc nghiêm trọng liên quan đến xung đột lợi ích hoặc việc chuyển dịch nguồn lực công sang doanh nghiệp tư nhân.

Khuyến nghị chính sách

Ngn hn

    • Tài tr và bt buc thành lp văn phòng chuyn giao công ngh (TLO) ti tt c các trường đi hc công lp và vin nghiên cu có kinh phí nghiên cu vượt mt ngưỡng xác đnh; các tổ chức nhỏ hơn được phục vụ bởi TLO khu vực dùng chung thay vì mỗi nơi xây dựng năng lực trùng lặ Mô hình này cần trực tiếp tham khảo quy định bắt buộc trong Đạo luật Thúc đẩy Chuyển giao Công nghệ của Hàn Quốc, nhưng ngay từ đầu phải đi kèm kinh phí chuyên biệt cho nhân sự chuyên nghiệp, rút kinh nghiệm từ tình trạng thiếu nguồn lực từng hạn chế nhiều cơ sở nghiên cứu quy mô nhỏ ở Hàn Quốc.
    • Ban hành hướng dn thc hin làm rõ bng các tình hung c th và đnh lượng cách quyn đăng ký ca t chc ch trì theo Điu 86a tương tác vi quyn thu hi ca nhà nước theo Điu 133a, để trước khi cam kết nguồn lực cho một đơn đăng ký sáng chế, các nhà quản lý đại học và nhà nghiên cứu có thể đánh giá chính xác điều gì xảy ra nếu lỡ thời hạn đăng ký và thẩm quyền thu hồi còn lại của nhà nước thực tế tạo ra mức rủi ro bao nhiêu.
    • Ci cách tiêu chí đánh giá thành tích khoa hc và công ngh quc gia được dùng đ tài tr và đánh giá trường đi hc cùng cá nhân nhà nghiên cu, theo đó doanh thu cấp phép và việc thành lập spin-off đã được xác minh phải có trọng số rõ ràng, có ý nghĩa bên cạnh số lượng đơn đăng ký sáng chế và công bố khoa họ Đây là bài học trực tiếp nhất từ kinh nghiệm của Hàn Quốc về một hệ thống giàu bằng sáng chế nhưng nghèo thương mại hóa.

Trung hn

    • Sa đi quy đnh vic chuyn giao quyn s hu trí tu do nhà nước tài tr ch dành cho các ch th Vit Nam bằng một quy trình rà soát có mục tiêu theo từng trường hợ Quy trình này do Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Công an hoặc Bộ Quốc phòng quản lý khi có liên quan, nhằm thẩm định riêng các đề xuất cấp phép ra nước ngoài và liên doanh về nguy cơ rò rỉ công nghệ, ứng dụng quân sự lưỡng dụng và mức độ liên quan đến hạ tầng trọng yếu hoặc danh mục lĩnh vực chiến lược được xác định, thay vì mặc nhiên hạn chế mọi chuyển giao xuyên biên giới. Cách tiếp cận này duy trì một cơ chế kiểm tra an ninh quốc gia thực chất đối với số ít sáng chế cần thiết, đồng thời giải phóng phần lớn tài sản trí tuệ của các trường đại học và doanh nghiệp Việt Nam để theo đuổi những thỏa thuận cấp phép và liên doanh xuyên biên giới từng tạo ra một số giao dịch riêng lẻ lớn nhất trong hệ thống chuyển giao công nghệ của cả Mỹ và Hàn Quốc. Quy trình cũng nên dựa trên các khuôn khổ thẩm định đầu tư nước ngoài và kiểm soát xuất khẩu tương đương đang được sử dụng ở những lĩnh vực khác của nền kinh tế Việt Nam để tránh xây dựng một bộ máy rà soát hoàn toàn mới từ đầu.
    • Xây dựng hệ thống đào tạo và công nhận chuyên môn quốc gia dành cho đội ngũ làm công tác chuyển giao công nghệ, bao gồm luật sư sáng chế, cán bộ cấp phép và chuyên gia định giá công nghệ. Việt Nam có thể hợp tác với Quỹ Nghiên cứu Quốc gia Hàn Quốc, dựa trên hơn hai thập niên kinh nghiệm trực tiếp — dù chưa hoàn hảo — của Hàn Quốc trong việc xây dựng đội ngũ chuyên môn này từ một điểm xuất phát tương đồng.
    • Mở rộng mô hình thí điểm doanh nghiệp spin-off theo Nghị định 271/2025 ra phạm vi toàn quốc. Sau ba năm, cần tiến hành đánh giá bắt buộc về tỷ lệ hình thành doanh nghiệp spin-off, doanh thu từ cấp phép và, đặc biệt theo bài học của Hàn Quốc, tỷ lệ giữa số bằng sáng chế được đăng ký với số thực sự được cấp phép hoặc thương mại hóa. Việc theo dõi các chỉ số này sẽ giúp sớm phát hiện nguy cơ Việt Nam rơi vào trạng thái có nhiều bằng sáng chế nhưng hiệu quả thương mại hóa thấp như Hàn Quốc.

Dài hn

    • Theo dõi thường xuyên tỷ lệ thương mại hóa công nghệ của Việt Nam so với các mốc tham chiếu khoảng 26% của Hàn Quốc và 41% của Mỹ, coi đây là một chỉ báo quan trọng về tiến độ thực hiện Nghị quyết 57. Tỷ lệ thương mại hóa tăng lên, chứ không chỉ số lượng bằng sáng chế gia tăng, mới là bằng chứng thực chất cho thấy Việt Nam đang chuyển từ gia công, lắp ráp sang làm chủ công nghệ lõi. Tuy nhiên, do những hạn chế về phương pháp luận trong việc so sánh tỷ lệ giữa các quốc gia như đã phân tích ở trên, chỉ báo này cần được đặt trong một bảng dữ liệu quốc gia toàn diện hơn, thay vì được sử dụng như một con số tiêu đề duy nhất. Tối thiểu, bảng dữ liệu phải theo dõi tổng doanh thu cấp phép của các trường đại học và viện nghiên cứu Việt Nam; tỷ lệ tồn tại sau nhiều năm của các doanh nghiệp spin-off được thành lập theo Nghị định 271/2025 và cơ chế kế nhiệm trên toàn quốc; lượng vốn đầu tư mạo hiểm và vốn tư nhân mà các doanh nghiệp này huy động được; số lượng và giá trị các thỏa thuận hợp tác chính thức với doanh nghiệp và các dự án nghiên cứu do doanh nghiệp tài trợ; tổng nguồn thu nghiên cứu ngoài ngân sách nhà nước; và đặc biệt là số lượng thỏa thuận cấp phép quốc tế được thực hiện sau khi quy định tương ứng với Điều 139.6 được cải cách. Nhóm chỉ báo này nên được xây dựng trực tiếp theo các hạng mục mà khảo sát cấp phép thường niên của AUTM đang sử dụng để theo dõi hệ thống của Mỹ.
    • Sau khi có dữ liệu trong một số năm về hoạt động thương mại hóa của các tổ chức chủ trì, cần đánh giá lại liệu quyền thu hồi còn lại của Nhà nước theo Điều 133a có tiếp tục cần thiết hay đã trở thành nguồn gây ra sự do dự thể chế. Nếu bằng chứng cho thấy quyền này đang cản trở hoạt động thương mại hóa, cán cân cần được điều chỉnh theo hướng thiết lập một nguyên tắc sở hữu rõ ràng hơn và gần với quy định của Đạo luật Bayh-Dole hơn.
    • Kết nối rõ ràng các cải cách về quyền sở hữu và doanh nghiệp spin-off với đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhà nước. Các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam có thể trở thành những bên nhận giấy phép và đối tác thương mại hóa quan trọng đối với công nghệ có nguồn gốc từ trường đại học. Chính mức độ rõ ràng của quyền sở hữu mà chương này khuyến nghị sẽ quyết định liệu các quan hệ đối tác với doanh nghiệp nhà nước có thực sự được đàm phán trên cơ sở thương mại hay không.

Kết luận

Bài học lâu dài của Đạo luật Bayh-Dole không phải là chỉ cần quyền sở hữu là đã có thể bảo đảm thành công thương mại, mà là một chế độ sở hữu mơ hồ hoặc mặc nhiên thuộc về Nhà nước gần như chắc chắn sẽ ngăn cản thành công đó. Trước năm 1980, Mỹ chưa hình thành được một ngành chuyển giao công nghệ thực sự vì không có chủ thể nào đồng thời nắm giữ quyền pháp lý và động lực thực tiễn để xây dựng nó.

Kinh nghiệm Hàn Quốc bổ sung vế thứ hai không thể thiếu của bài học này. Việc sao chép quy tắc sở hữu mà không đồng thời điều chỉnh hệ thống đánh giá thành tích xung quanh sẽ tạo ra một trạng thái cân bằng có nhiều công nghệ và bằng sáng chế nhưng hiệu quả thương mại hóa thấp. Sau hơn hai thập niên thực hiện những chính sách nhìn chung được thiết kế khá bài bản, Hàn Quốc vẫn chưa khắc phục được khoảng cách đó: quốc gia này đứng thứ ba thế giới về số lượng bằng sáng chế nhưng chưa tạo ra được một kỳ lân nào có nguồn gốc từ trường đại học.

Chỉ đến gần đây, với sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 và Luật Chuyển giao công nghệ năm 2025, Việt Nam mới bắt đầu khép lại khoảng trống về quyền sở hữu mà Mỹ đã xử lý từ năm 1980 và Hàn Quốc từ năm 2000. Đây là một quá trình bắt kịp về lập pháp diễn ra với tốc độ thực sự nhanh chóng và cần được ghi nhận một cách thận trọng.

Tuy nhiên, tham vọng của Nghị quyết 57 đưa Việt Nam “từ gia công, lắp ráp sang làm chủ công nghệ lõi” không thể trở thành hiện thực chỉ nhờ sự cho phép của pháp luật. Tương tự, cải cách tự chủ đại học được phân tích ở Chương 7 sẽ không tự động tạo ra năng lực nghiên cứu xuất sắc, cũng như cơ chế miễn trừ trách nhiệm ở Chương 6 sẽ không mặc nhiên khiến cán bộ sẵn sàng chấp nhận rủi ro.

Nếu không có một bộ máy thương mại hóa hoạt động hiệu quả và một hệ thống động lực tưởng thưởng cho việc cấp phép thành công thay vì chỉ khuyến khích đăng ký sáng chế, cải cách quyền sở hữu có nguy cơ đưa Việt Nam đến đúng vị trí mà Hàn Quốc đang gặp phải: sở hữu ý tưởng về mặt pháp lý, nhưng vẫn thiếu bộ máy có khả năng biến quyền sở hữu đó thành sản phẩm mà thị trường sẵn sàng trả tiền.

Bài viết trích từ bản thảo “Vượt ra ngoài gia công: Kinh nghiệm quốc tế về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cho Việt Nam”. Rất mong nhận được ý kiến phản biện, góp ý của quý độc giả. Mọi liên hệ, góp ý xin gửi về: [email protected]. Trân trọng cảm ơn! 

——————

[1] University of Georgia Research, “Technology Transfer and the Bayh-Dole Act,” https://research.uga.edu/gateway/patents-licensing/technology-transfer-and-the-bayh-dole-act/; Syracuse University Office of Technology Transfer, “The Bayh-Dole Act,” https://research.syracuse.edu/commercialization/bayh-dole/.

[2] David C. Mowery and Bhaven N. Sampat, “The Bayh-Dole Act of 1980 and University–Industry Technology Transfer: A Model for Other OECD Governments?,” Journal of Technology Transfer 30 (2005), https://link.springer.com/article/10.1007/s10961-004-4361-z.

[3] Drexel University, “Bayh-Dole Act,” https://drexel.edu/research/innovation/bayh-dole-act; COGR, “The Bayh-Dole Act: A Guide to the Law and Implementing Regulations,” https://www.cogr.edu/sites/default/files/COGR%20Bayh%20Dole%20V.2.pdf.

[4] VietnamNet, “Vietnam must own core technologies to fulfill the vision of Resolution 57,” https://vietnamnet.vn/en/vietnam-must-own-core-technologies-to-fulfill-the-vision-of-resolution-57-2476124.html; VietnamPlus, “Resolution 57 sets directions for Vietnam’s technology ecosystem,” https://en.vietnamplus.vn/resolution-57-charts-directions-for-vietnams-technology-ecosystem-post339415.vnp.

[5] University of Georgia Research, “Technology Transfer and the Bayh-Dole Act,” sđd.; Association of American Universities, “Preserve the Bayh-Dole Act and University Technology Transfer,” https://www.aau.edu/resource-library/preserve-bayh-dole-act-and-university-technology-transfer.

[6] Congressional Research Service, “Pricing and March-In Rights Under the Bayh-Dole Act,” IF12582, https://www.congress.gov/crs-product/IF12582.

[7] University of Georgia Research, “Technology Transfer and the Bayh-Dole Act,” sđd.

[8] AUTM, “The Numbers Behind Innovation,” 2024 Licensing Activity Survey, https://autm.net/about-tech-transfer/autm-insight/autm-updates/the-numbers-behind-innovation; AUTM, “2024 US AUTM Infographic,” https://autm.net/AUTM/media/SurveyReportsPDF/2024-US-AUTM-Infographic.pdf.

[9] Bayh-Dole Coalition, “Impact of the Bayh-Dole Act and Academic Technology Transfer,” https://bayhdolecoalition.org/wp-content/uploads/2025/02/Impact-of-the-Bayh-Dole-Act-and-Academic-Technology-Transfer.pdf; PMC, “Patenting: the Bayh–Dole Act and its transformative impact on science innovation and commercialization,” https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC11152831/.

[10] Nature Biotechnology, “March-in rights under the Bayh–Dole Act undermine the US drug development sector without lowering drug costs,” https://www.nature.com/articles/s41587-025-02934-z.

[11] Goodwin, “NIH Again Refuses to Exercise March-In Rights to Control Drug Price,” https://www.goodwinlaw.com/en/insights/blogs/2023/03/nih-again-refuses-to-exercise-march-in-rights-to-control-drug-price; Congressional Research Service, IF12582, sđd.

[12] Is Bayh-Dole Good for Developing Countries? Lessons from the US Experience, PMC, https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC2573936/; Nature Biotechnology, “March-in rights under the Bayh–Dole Act undermine the US drug development sector without lowering drug costs,” sđd.

[13] LESI, “Technology Transfer Landscape Since the Enactment of the Technology Transfer Promotion Act of 2000 in Korea,” https://lesi.org/wp-content/uploads/2024/04/technology-transfer-landscape-since-the-enactment-of-the-technology-transfer-promotion-act-of-2000-in-korea.pdf; UAIPIT, “Technology Transfer And Commercialization Promotion Act,” https://www.uaipit.com/en/documents-record?/4203.

[14] KAIST, “KAIST Technology Value Tops in Commercialization Market​”, 2020, http://kaist.ac.kr/newsen/html/news/?mode=V&mng_no=9490&skey=category&sval=etc&list_s_date=&list_e_date=&GotoPage=28.

[15] Korea Science / journal.kci.go.kr, “Understanding Technology Transfer and Commercialization,” https://journal.kci.go.kr/jts/archive/articlePdf?artiId=ART003155563.

[16] PLOS ONE, “Evaluation framework for facilitating the technology transfers of universities: Focusing on the perspective of technology donors,” https://journals.plos.org/plosone/article?id=10.1371/journal.pone.0293951; Korea Science / journal.kci.go.kr, “Understanding Technology Transfer and Commercialization,” sđd.

[17] Seoul Economic Daily, “Korea Ranks No. 3 in Patents but Has No University-Born Unicorns,” https://en.sedaily.com/society/2026/06/16/korea-ranks-no-3-in-patents-but-has-no-university-born.

[18] Irene Abrams, Grace Leung & Ashley J. Stevens, “Is it all about the money? How are US Academic Licensing Offices Tasked and Motivated?,” https://www.wpi.edu/sites/default/files/docs/Offices/Intellectual-Property/How_are_US_Academic_Licensing_Offices_Organized_Tasked_Financed_and_Motivated_–_Final.pdf.

[19] Journal.kci.go.kr, “Understanding Technology Transfer and Commercialization,” sđd.

[20] Như trên.

[21] Henry Etzkowitz, “Innovation in Innovation: The Triple Helix of University-Industry-Government Relations,” Social Science Information 42, no. 3 (2003), https://journals.sagepub.com/doi/10.1177/05390184030423002; Wikipedia, “Triple helix model of innovation,” https://en.wikipedia.org/wiki/Triple_helix_model_of_innovation.

[22] Lexology, “Relocation of Intellectual Property provisions for state-funded Science and Technology tasks to the new law from 1 October 2025,” https://www.lexology.com/library/detail.aspx?g=304f14a5-a651-46fc-8261-4f3a00ca201a.

[23] JIII, “Promotion of Universities’ Patent Commercialization for Innovation: Experience of Vietnam,” https://www.jiii.or.jp/topics/2023/file/meeting_online/01_VN_Promotion%20of%20Universitie_s%20patent%20commercialization%20for%20Innovation-%20Experience%20of%20Vietnam.pdf.

[24] Như trên.

[25] Lexology, “IP Vietnam – Yearly Review 2024,” https://www.lexology.com/library/detail.aspx?g=b35ee906-7b58-4fe2-939f-65f73fe33169; GreyB, “Vietnam Patent Rankings 2024: Who Filed the Most?,” https://insights.greyb.com/vietnam-patent-rankings/.

[26] WIPO Lex, “Law No. 07/2022/QH15 of June 16, 2022, Amending and Supplementing a Number of Articles of the Law on Intellectual Property, Viet Nam,” https://www.wipo.int/wipolex/en/legislation/details/21740; Lexology, “10 Key Changes in the Vietnam IP Law of 2022 and Our Comment on Their Impact on the Business Environment and Innovation Activities in Vietnam,” https://www.lexology.com/library/detail.aspx?g=471adf5e-858c-4a39-aae4-b6d40921dc76.

[27] Lexology, “10 Key Changes in the Vietnam IP Law of 2022,” sđd.; Spruson & Ferguson, “Amendment to Vietnam’s IP Law – Notable changes concerning patents and industrial designs,” https://www.spruson.com/amendment-to-vietnams-ip-law-notable-changes-concerning-patents-and-industrial-designs/.

[28] Lexology, “10 Key Changes in the Vietnam IP Law of 2022,” sđd.

[29] Lexology, “Relocation of Intellectual Property provisions for state-funded Science and Technology tasks to the new law from 1 October 2025,” sđd.

[30] Vietnam.vn, “Mr. Truong Gia Binh: Vietnamese technology companies must master core technologies to realize Resolution No. 57-NQ/TW,” https://www.vietnam.vn/en/ong-truong-gia-binh-doanh-nghiep-cong-nghe-viet-nam-phai-lam-chu-cong-nghe-loi-de-hien-thuc-hoa-nghi-quyet-so-57-nq-tw.

[31] Vietnam.vn, “Lesson 2: The Ecosystem for Spin-Off Businesses,” https://www.vietnam.vn/en/bai-2-he-sinh-thai-cho-doanh-nghiep-spin-off; Lexology, “Vietnam: Recent Changes in the Legal Framework Governing Technology Transfers in Vietnam,” https://www.lexology.com/library/detail.aspx?g=7b682abd-0c62-4c3a-bdda-41918eb862ba.

[32] Vietnam.vn, “Unlocking intellectual property rights to foster spin-off businesses in Hanoi,” https://www.vietnam.vn/en/khoi-thong-tai-san-tri-tue-de-hinh-thanh-doanh-nghiep-spin-off-o-ha-noi; IPLINK ASIA, “Vietnam Adopts New Legal Framework for the Valuation and Commercialization of Intellectual Property,” https://www.iplink-asia.com/article-detail.php?id=1418.